Đại Học chăn Trâu

Tuesday, 28 March 2017

Học làm thợ viết


 

Học làm thợ viết

Trịnh Bình An

Khi còn học trong trường, có lần một giáo sư của tôi bảo, “Trường lớp nước ta chỉ dạy làm thày, không dạy làm thợ.” Câu nói ấy tôi không quên nổi vì sau 25 năm làm việc trên xứ Mỹ, tôi vẫn chỉ là một người thợ – họa viên nói cho lịch sự, thợ vẽ là đúng nhứt.
Bây giờ, đã trên tám năm viết lách, tôi tự cho mình là “thợ viết” với cái nghĩa đúng nhất của một người thợ, đó là làm ra một sản phẩm, và sản phẩm ấy không tệ đến mức bị người ta vừa thấy đã quăng ngay vào sọt rác.
Làm thợ gì cũng phải học huống hồ thợ viết. Theo tôi, một thợ viết có 3 điều đầu tiên cần học: học viết rõ ràng, học viết đi rồi viết lại, và, học viết thường xuyên.
Học viết rõ ràng
Viết là diễn tả ý tưởng cho người đọc hiểu, nếu người đọc không hiểu mình muốn nói gì thì dù có ý tưởng hay cách mấy cũng vô dụng. Danh họa tranh châm biếm Chóe – Nguyễn Hải Chí từng nói: “Ta vẽ người nào giống người đó thì khỏi phải ghi tên người. Vẽ phụng khác với gà thì khỏi phải ghi gà hay phụng.” Nhận xét ấy cho thấy Chóe rất để ý tới việc truyền đạt ý tưởng thật rõ ràng tới người xem tranh.
Theo tôi, một câu văn rõ ràng cần 3 điều: văn phạm, chữ dùng, và ý tưởng.
Có ít nhất ba tác giả, theo tôi, đạt được điều ấy, đó là Nguyễn Mạnh Tường, Mặc Đỗ và Minh Võ. Tôi rất thích giọng văn của Võ Phiến, nhưng văn ông tuy đọc nghe hấp dẫn, nhưng người mới học viết không nên bắt chước vì văn phạm không chuẩn dù những chữ ông xử dụng thì chính xác đến bất ngờ.
Ý tưởng là điều rất quan trọng cho sự rõ ràng. Người viết nếu không thật sự hiểu điều mình muốn viết sẽ không thể trình bày rõ ràng. Có nhiều lần, sau khi viết một thôi một hồi, đọc lại, tôi mới giựt mình tự hỏi, “Ủa, mình đang viết cái gì vậy cà?” Chính mình còn không biết mình viết cái gì thì ai biết đây. Khi đó tôi ngưng lại, suy nghĩ thêm rồi mới viết tiếp .
Học viết đi rồi viết lại
Nghề vẽ kỹ thuật (họa viên xây dựng) đã giúp tôi rất nhiều cho việc rèn luyện điều này. Một bản vẽ không bao giờ làm một hai lần là xong, thường phải vẽ đi vẽ lại gần chục lần mới được chấp thuận.
Mỗi lần tính làm biếng nổi lên, tôi lại nhớ tới danh họa người Nga – Ilya Repin – và bức tranh “Reply of the Zaporozhian Cossacks”.
Bức tranh nặng sắc đỏ là bức vẽ “nháp”. Đối với chúng ta, có lẽ vẽ được như thế là đạt lắm rồi? Nhưng với nhà danh họa thì không. Ông đã vẽ lại!
Tranh sơn dầu “Reply of the Zaporozhian Cossacks to Sultan Mehmed IV of the Ottoman Empire” hay “Cossacks of Saporog Are Drafting a Manifesto” của hoạ sĩ Ilya Repin tại Kharkiv Art Museum (hình trên) và State Russian Museum, Saint Petersburg (hình dưới).
Trong bức họa “Người Zaporozhe viết thư cho sultan Thổ Nhĩ Kỳ” nhân vật đội mũ trắng, mặc áo đỏ, đang cười ha hả, (mép phải bức tranh) đã được làm nhỏ lại, và đặt bên cạnh là một một người áo choàng trắng, đứng quay lưng .
Khoảng trắng to của áo choàng thu hút mắt ta ngay lập tức, nhưng từ đó mắt sẽ chuyển qua bên cạnh, tới người đứng cười, tới người đang cầm lông ngỗng viết chữ, và rồi lần lượt tới từng người trong tranh. Để cuối cùng ta nhận ra các nhân vật được phối trí hết sức cân đối nhưng rất sống động.
Nếu với bản nháp ta còn thấy đám người ấy toát ra cái vẻ man dại rờn rợn, thì với bản thật ta thấy họ là những con người phóng khoáng, đáng yêu, và chỉ muốn nhảy vào trong tranh để cùng đọc thư, đùa giỡn, rồi phá lên cười sảng khoái .
Một người tài năng và chuyên nghiệp như Ilya Repin còn phải làm thế, nói gì tới kẻ đang học nghề.
Một số nghề có thể gây trở ngại cho thói quen “viết đi-viết lại”, ví dụ như nghề nha sĩ, hẳn đâu ai muốn răng mình bị làm đi rồi làm lại phải không? Tuy nhiên, sự chính xác của nghề y sẽ giúp tác giả có nghề chính là thày thuốc sẽ cẩn thận ngay từ khi bắt đầu đặt bút xuống
Có lần tôi viết xong, gởi đi. Ông chủ bút tờ báo “đá” ngay lại với lời phê bình “Lý luận như… bố chó xồm!” Ý muốn nói lý luận củ chuối, không hợp lý. Buồn năm phút, nhưng cũng buồn cười nữa. Tôi đọc lại, thấy… “chuối” thật, thế là phải viết lại.
Ít khi tôi “mần một lần là xong”, thường viết đi viết lại không dưới ba lần (như bài này).
Học viết thường xuyên
Ông bà mình từng nói: “Trăm hay không bằng tay quen”, tôi thấy câu này đúng boong!
Có lần đi thăm nhà máy làm gạch men, tôi thấy một nữ công nhân đang lựa gạch. Cô thoăn thoắt xoay mớ gạch để chọn viên gạch mẻ lôi ra. Tay cô lướt nhanh trên những viên gạch thật nhẹ nhàng, thật chính xác, thật đẹp. Cô chăm chú vào công việc, không biết có người lén ngắm nhìn và giữ mãi hình ảnh đôi tay như múa của cô.
Học giả Nguyễn Hiến Lê đã từng khuyên nên tập thói quen mỗi ngày viết một cái gì đó chứ đừng đợi tới khi có hứng mới viết. Có viết mới có cái để đọc lại và để sửa. Có viết ra mới có lúc để… hết hồn: “Ồ, hổng dè mình có lúc (khờ khạo / thông minh / ngu si / ngây thơ / láu cá) như dzầy sao ta!”
Những họa sĩ, kiến trúc sư thường mang theo mình một cuốn tập ký họa – sketch book. Mỗi khi thấy cảnh vật ngộ nghĩ hay nảy sinh ý tưởng lạ kỳ là họ ghi lại ngay vào cuốn sketch book. Những phác thảo ấy chính là tài liệu để tham khảo cho những sáng tác sau này.
Có lần tới tiệm sách, tôi thấy một sản phẩm thú vị, dạng như một cuốn tập giấy trắng, nhưng ở mỗi trang có những dòng gợi ý, đại khái như: Hãy tả cái cây bạn nhìn thấy trên đường hôm nay / Hãy ghi lại cảm nghĩ về buổi họp hôm nay / Hãy viết lại đoạn đối thoại với người bạn hôm nay/ v.v. Cuốn tập “Hôm Nay” thiệt ngộ, gần như “bài tập làm văn” nhưng ngắn gọn theo kiểu “văn chớp”, không cần đầu–thân–kết, thích hợp cho cuộc sống vội vã ngày nay.
Nói cho ngon chứ tôi cũng thường viết theo hứng. Mỗi lần ngồi trước keyboard tôi thường tự hỏi: “Đề tài nào mình đang hứng nhất đây?” Nhưng đã là thợ thì không được quá phụ thuộc vào cảm hứng, phải làm việc thường xuyên và làm việc có phương pháp. Nếu tôi không cố gắng tập thói quen này thì sẽ chẳng bao giờ thành “thợ rành nghề” nổi.
Dĩ nhiên, làm được thợ viết không chỉ có 3 điều trên là đủ, nhưng tôi cứ bắt đầu bằng ba điều này trước đã.
Có một câu hỏi thế này: “Làm sao để ăn hết một con voi?” – Trả lời: “Chỉ có một cách duy nhất: Phải ăn từng miếng một.” Nên với câu hỏi: “Làm sao để thành một bài viết?” – Câu trả lời theo tôi: “Phải suy nghĩ, viết và sửa chữa từng chữ một.”
Thợ viết, như bất kỳ người thợ nào, làm việc để tạo ra một sản phẩm hữu dụng. Nếu bạn cho rằng bài viết này ít nhiều có ích thì tôi xin cám ơn bạn, vì như thế tôi có thể tự cho mình đã thành người thợ viết.
__._,_.___

Posted by: "Patrick Willay" 

Monday, 27 March 2017

Phong cách "kiến trúc Đông Dương" tại Việt Nam đầu thế kỷ XX



Phong cách "kiến trúc Đông Dương" tại Việt Nam đầu thế kỷ XX

Với những công trình như Nhà thờ Đức Bà, Bưu điện Trung tâm hay Dinh xã Tây - Hôtel de Ville (nay là trụ sở UBND TP. Hồ Chí Minh), Sài Gòn được mệnh danh là « Hòn Ngọc Viễn Đông ». Với Nhà hát lớn, phố Paul Bert (nay là Tràng Tiền), Nhà thờ lớn, Nhà thờ Cửa Bắc, Dinh Toàn quyền Đông Dương (nay là Phủ Chủ tịch), Hà Nội được ví như một Paris thu nhỏ.

Việt Nam trong những năm cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX là « một công trường lớn » theo nhận định của nhà sử học Pháp Philippe Papin. Những công trình đồ sộ đậm nét phương Tây phục vụ bộ máy hành chính Pháp là « cách phô trương uy thế để duy trì sự kiểm soát người dân bị đô hộ ». Sau đó xuất hiện những ngôi nhà, biệt thự vẫn được xây theo kiến trúc phương Tây nhưng thích nghi với điều kiện khí hậu và truyền thống địa phương.
Vậy cảnh quan kiến trúc Việt Nam thay đổi như thế nào trong suốt một thế kỷ Pháp thuộc ? Ban tiếng Việt đài RFI đã đặt câu hỏi với Caroline Herbelin, giảng viên Lịch sử đại học Toulouse II-Jean Jaurès, kiêm chủ tịch hội Nghiên cứu Đông Nam Á (AFRASE), tác giả cuốn Kiến trúc của Việt Nam thời thuộc địa : Nhìn lại phong cách hỗn hợp. (*)
Bưu điện Sài Gòn. Ảnh chụp năm 1895.BNF/André Salles
RFI : Xin chị cho biết sự có mặt của người Pháp ở Đông Dương đã làm thay đổi cảnh quan kiến trúc Việt Nam như thế nào ?
Caroline Herbelin : Vừa thay đổi rất nhiều mà cũng không nhiều lắm vì còn tùy thuộc vào từng khoảng thời gian. Trong thời kỳ đầu Pháp xâm chiếm Việt Nam (những năm 1860) đến khi công cuộc bình định kết thúc (những năm 1880), chính người Pháp phải thích nghi với kiến trúc địa phương. Khi tới Việt Nam, người Pháp không mang theo thợ nề hay chủ thầu mà chỉ có vài kỹ sư quân sự và nhất là không hề có dụng cụ. Do thiếu nơi trú ngụ nên các toán quân Pháp tịch thu đền chùa hay nhà ở của dân địa phương.
Cho đến đầu thế kỷ XX, vẫn còn rất nhiều quân nhân và người Pháp sống trong những ngôi nhà tranh, theo lời miêu tả trong các bức thư của công chức Pháp gửi về gia đình. Cũng có rất nhiều người Pháp sống trong những ngôi nhà ống nhiều gian. Năm 1932, ở Hà Nội, gần 35% người châu Âu sống trong những ngôi nhà như vậy.
Thế nhưng, sau này, sự hiện diện của Pháp đã tác động mạnh đến quá trình đô thị hóa. Ví dụ, từ một trung tâm nhỏ, Hải Dương nhanh chóng phát triển nhờ vào Nhà máy Rượu Đông Dương. Ngoài quá trình đô thị hóa, cảnh quan kiến trúc cũng thay đổi nhờ chính quyền Pháp xóa bỏ nhiều đạo luật hạn chế chi tiêu mang tính bắt buộc (do triều Nguyễn ban hành). Kể từ đó, người dân có thể xây nhà tầng và được tự do trang trí. Điều này cũng giải thích tại sao mặt tiền nhiều ngôi nhà ống có hoạ tiết trang trí cầu kỳ với mầu sắc rực rỡ vào đầu thế kỷ XX. Điều đáng lưu ý là những họa tiết trang trí tân cổ điển này (néoclassique) không chỉ bị ảnh hưởng từ Pháp, mà còn chịu ảnh hưởng từ Trung Hoa nơi phong cách kiến trúc Đông-Tây phát triển mạnh tại các thương cảng như Thượng Hải, Giang Âm…
Dinh thự tại Hà Nội của Lucien Faure, chánh văn phòng toàn quyền Paul Doumer. Ảnh chụp năm 1898.BNF/André Salles
RFI : Chị nói là kiến trúc Pháp ít thích ứng tại Việt Nam trong giai đoạn đầu thuộc địa. Vậy phải giải thích thế nào về một số công trình được xây vào thời kỳ đó, mà đến nay vẫn tồn tại, như Dinh xã Tây - Hôtel de Ville (nay là trụ sở UBND TP. Hồ Chí Minh) hay Nhà hát lớn Hà Nội ?
Caroline Herbelin : Đúng vậy, những công trình này rất đồ sộ, được chính quyền thuộc địa cho xây dựng và chẳng giống kiến trúc Việt Nam chút nào. Chúng mang chuẩn phong cách Pháp, cứ như được bê thẳng từ bên đó sang vậy. Đó là những công trình phục vụ cho chính sách thị uy của chính quyền thuộc địa để « gây ấn tượng với người dân địa phương », nhưng cũng có thể hiểu đơn giản là những công trình hành chính quan trọng cấp Nhà nước đều được xây như vậy ở Pháp. Nhiều kiến trúc sư sang Việt Nam nói là họ chẳng biết làm gì khác ngoài phong cách tân cổ điển. Tuy nhiên, điều này chỉ đúng vào thời kỳ đầu nhưng sau đó không còn như vậy. Hình ảnh thể hiện qua kiến trúc của chính quyền thuộc địa đã thay đổi.
Ví dụ Dinh Toàn quyền năm 1873 là một tòa nhà rất lớn nằm giữa trung tâm Sài Gòn, trong khi Dinh Toàn quyền được xây ở Hà Nội sau này (từ 1900 đến 1907) lại đi theo một ý tưởng khác. Trên thực tế, tòa nhà ở Hà Nội bị thu nhỏ khoảng 1/3 so với thiết kế ban đầu. Vì lúc đó, chính quyền thuộc địa cho rằng hình ảnh uy quyền của Pháp cần được thể hiện qua đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, như hệ thống đường sắt, hơn là những tòa nhà công đồ sộ, sừng sững nhưng lại không vĩ đại. Hơn nữa, chính quyền thuộc địa cũng bị hạn chế về ngân sách nên không thể làm tất cả cùng một lúc.
Cũng không nên nói quá về tác động của người Pháp đối với thành phố. Việc xây dựng thành phố, trong đó có những ngôi biệt thự xinh đẹp (như ở phía nam Hà Nội hay xung quanh hồ Thuyền Quang), còn được thực hiện nhờ người Việt. Kiểu kiến trúc được áp dụng không hẳn là phong cách tân cổ điển hay tân baroc của Pháp mà Nhà nước thuộc địa vẫn khuyến khích để thể hiện uy thế. Phong cách kiến trúc thay đổi tuỳ theo chính sách được tiến hành ở Đông Dương. Ví dụ toàn quyền Albert Sarraut (hai nhiệm kỳ 1911-1913 và 1916-1919) muốn áp dụng chính sách hợp tác, hứa để giới tính hoa Việt Nam cùng tham gia chính quyền. Trong lĩnh vực văn hóa, ông muốn đề cao nền văn hóa của các nước Đông Dương. Vì thế, trong thời gian đương nhiệm, phủ toàn quyền ở Hà Nội và các căn hộ riêng, đặc biệt là phòng ngủ của Albert Sarraut được bài trí bằng những đồ vật và đồ gỗ chạm trổ họa tiết Việt Nam.
Phố Paul Bert năm 1920 (nay là phố Tràng Tiền).BNF/Société de Géographie
RFI : Chị vừa đề cập đến một số đồ đạc trong nhà mang phong cách Việt Nam, nhân nói đến giao thoa Đông-Tây, liệu có một kiểu phong cách kết hợp như vậy trong kiến trúc không ?
Caroline Herbelin : Có, người ta vẫn gọi là phong cách Đông Dương. Đó là phong cách hỗn hợp do Ernest Hébrard phát minh. Ông từng được trao giải thưởng lớn Roma và đến Đông Dương vào năm 1921, theo lời mời của một số người thân cận với toàn quyền Sarraut. Ông được giao nhiệm vụ thiết kế một công trình nhà nước vừa thể hiện được sự hiện diện của Pháp, vừa pha trộn được hai nền văn hóa Pháp-Việt. Rất tâm huyết với nhiệm vụ này, Hébrard tạo ra được một phong cách lấy cảm hứng từ những ngôi nhà Việt Nam, đặc biệt là cấu trúc của những ngôi này, vừa mang nét phương Tây, vừa thích nghi với khí hậu nhờ hiên nhà hay mái vươn dài.
Tuy nhiên, phong cách Đông Dương không thành công lắm vì tốn kém. Chính quyền nhanh chóng muốn quay lại với phong cách cổ điển hơn, vì họ thích những tòa nhà công phải giống y chang những công trình bên Pháp Có thể kể một vài công trình nổi tiếng nhất của Hébrard là Sở Tài chính Đông Dương (nay là trụ sở bộ Ngoại Giao Việt Nam), Nhà thờ Cửa Bắc…
Bảo tàng Lịch sử (trước là bảo tàng Louis Finot) cũng mang phong cách kiến trúc Đông Dương và được hoàn thiện năm 1931, nhưng đó là tác phẩm của một kiến trúc sư của trường Viễn Đông Bác Cổ, Charles Batteur. Sự kết hợp giữa hai kiểu kiến trúc đã biến Bảo tàng Lịch sử thành công trình đẹp nhất mang phong cách Đông Dương.
Bảo tàng Louis Finot (nay là Bảo tàng Lịch sử Việt Nam)Flickr.com
RFI : Vậy phía Việt Nam có sử dụng kiểu kiến trúc hỗn hợp Đông-Tây không ?
Caroline Herbelin : Có, ngay từ đầu thế kỷ XX, người Việt đã xây nhà theo kiến trúc Pháp. Trong những năm 1930 xuất hiện phản ứng từ phía các nhà trí thức và thành phần quan lại tiến bộ khi ngày càng có nhiều chủ nhà Việt Nam giầu có xây những ngôi nhà hoàn toàn theo phong cách Pháp.
Hội Khai Trí Tiến Đức (Association pour la Formation Intellectuelle et Morale des Annamites, AFIMA), mang tư tưởng cải cách ôn hòa, cho rằng nên có một kiểu kiến trúc mới, hiện đại kết hợp với các họa tiết trang trí trong kiến trúc miền bắc Việt Nam. Để khuyến khích ý tưởng này, vào đầu những năm 1920, AFIMA tổ chức nhiều cuộc thi với quy định tìm được những mô hình vừa lấy cảm hứng từ kiến trúc miền bắc Việt Nam vừa có đủ tiện nghi hiện đại như nhà tắm, gara… Kết quả cuộc thi rất tốt nhưng trên thực tế, kiểu kiến trúc này lại không được áp dụng và không nổi tiếng lắm nên không tác động được đến cảnh quan kiến trúc Việt Nam. Chỉ có một vài quan lại giầu có mới có thể xây được nhà theo phong cách này.
Bên cạnh kiểu kiến trúc kết hợp chính quy đó, còn có nhiều trường hợp tự phát hơn, như những ngôi nhà được xây trong thập kỷ 1930 ở Nam Kỳ của các địa chủ giầu có người Việt hay người Hoa, ví dụ đặc sắc nhất chính là hai ngôi nhà ở Bình Thuỷ (Cần Thơ) và Sa Đéc. Mặt tiền những ngôi nhà này kết hợp cả ba yếu tố Pháp, Việt và Hoa, nhưng bên trong giữ nhiều nét truyền thống.
Dinh Toàn quyền Đông Dương, Sài Gòn. Ảnh chụp năm 1896.BNF/André Salles
RFI : Kiến trúc hiện đại đã có tác động đến người Việt như thế nào ?
Caroline Herbelin : Kiểu kiến trúc hiện đại phát triển ở châu Âu từ đầu thế kỷ XX. Khi đi dọc Việt Nam, dù chúng ta không thấy nhiều ví dụ về kiểu kiến trúc này, nhưng khi tra cứu tài liệu thời kỳ đó, chúng ta nhận thấy là những nguyên tắc của kiến trúc hiện đại được tiếp nhận ở Việt Nam và thu hút sự quan tâm của giới quý tộc Việt Nam. Trong những năm 1930, nhiều tạp chí phổ biến khoa học viết bằng chữ quốc ngữ đăng rất nhiều bài báo về bê tông và giải thích cách sử dụng. Giới nhà giầu Việt Nam cho xây những ngôi biệt thự theo nghệ thuật trang trí và đổ trần bê tông.
Một ví dụ khác thú vị hơn về phong cách hiện đại là các kiến trúc sư người Việt của trường Mỹ Thuật Đông Dương, trường nổi tiếng đào tạo ra thế hệ « nghệ sĩ Đông Dương », cũng được học các nguyên tắc của Hébrard. Nhưng sau khi tốt nghiệp, rất nhiều người từ bỏ « mác » này và không muốn tác phẩm của mình mang tính « Đông Dương ». Với họ, phải có được một phong cách kiến trúc riêng do người Việt nghĩ ra và dành cho người Việt. Có nghĩa là những ngôi nhà phải đáp ứng được nhu cầu của người Việt về mặt thẩm mỹ, đồng thời phải tôn trọng các tiêu chí về kỹ thuật và khí hậu. Những công trình của họ còn mang tính xã hội, như trường hợp Nguyễn Cao Luyện và Hoàng Như Tiếp, cả hai thực hiện kiểu « Nhà ánh sáng » sử dụng nguyên vật liệu rẻ tiền và sẵn có ở địa phương để giúp người nghèo có chỗ ở.
Bìa cuốn sách Kiến trúc của Việt Nam thuộc địa.Caroline Herbelin
(*) Caroline Herbelin, Architectures du Vietnam colonial: Repenser le métissage (Kiến trúc của Việt Nam thời thuộc địa : Nhìn lại phong cách hỗn hợp), Paris : INHA, 2016.

Cùng chủ đề

TẠP CHÍ VĂN HÓA

Nhà thờ Đức Bà, đặc trưng kiến trúc Pháp giữa lòng Sài Gòn

TẠP CHÍ XÃ HỘI

Xóa sổ thương xá Tax: Thêm một phát súng bắn vào quá khứ
__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh 

Diễn từ....(Đọc trong buổi lễ trao giải thưởng Phan Châu Trinh “Vì sự nghiệp văn hóa và giáo dục” năm 2017) Cao Huy Thuần

 

Diễn từ

(Đọc trong buổi lễ trao giải thưởng Phan Châu Trinh “Vì sự nghiệp văn hóa và giáo dục” năm 2017)
Cao Huy Thuần

Kính thưa Bà Chủ tịch và Hội đồng Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh,

Kính thưa Quý Vị,
Thưa bạn bè, anh chị thân mến,
Tôi rất vinh dự được Quỹ Văn Hóa Phan Châu Trinh trao giải thưởng “Vì sự nghiệp văn hóa và giáo dục” năm 2017. Đây là một bất ngờ đối với tôi, vì vinh dự này quá lớn đối với việc làm quá nhỏ của tôi. Tôi lại là người ở xa, luôn luôn có mặc cảm vui buồn không được trực tiếp cùng chia, ấm lạnh không được trực tiếp cùng cảm với bạn bè anh em trong nước: thiếu sự sống trực tiếp ấy, hai chữ “sự nghiệp” không khỏi làm tôi áy náy. Tôi đành nghĩ: khi trao giải thưởng này cho người ở xa, các anh chị trong Hội đồng muốn nói rằng văn hóa là văn hóa, văn hóa Việt Nam là văn hóa Việt Nam, không có văn hóa Việt kiều, cũng như không có quốc tịch Việt kiều.

Có lẽ câu nói vừa rồi của tôi là một cân nói đùa để che giấu cảm động. Nhưng quả thực, đó là một câu nói tâm tình, bởi vì có khi người ở xa cảm thấy mình là Việt Nam hơn lúc ở gần. Ở gần thì ai cũng giống ai. Ở xa thì thường xuyên thấy mình khác với xung quanh. Chính cái khác đó tạo ra cái mà ta gọi là bản sắc, bản sắc văn hóa, bản sắc dân tộc. Người ở xa không phải chỉ tha thiết với bản sắc như một khái niệm trừu tượng Người ở xa thấy mình ăn, mặc, thương, ghét, nói, cười với cái bản sắc ấy cụ thể như cái bóng đi theo cái hình.

Tôi biết tôi động đến một khái niệm khó định nghĩa. Có người nói đó là một khái niệm không khoa học. Có người nói đó là một khái niệm ý thức hệ. Tuy vậy, có ai dám nói rằng không có bản sắc? Có ai không tự đặt ra cho mình câu hỏi đầu tiên: “tôi là ai?” Câu hỏi đặt ra là vì có “tôi” và có “người khác”. Không có “người khác” thì không có “tôi”. Rồi tôi lại tự hỏi: tôi là tôi vì tôi nhìn tôi như thế, hay tôi là tôi vì như thế người khác nhìn tôi? Nếu tôi nhìn tôi qua cái nhìn của người khác, phải chăng có người khác giữa tôi với tôi? 

Câu hỏi ấy chảy máu trong lòng người ở xa. Tôi xa tôi rồi chăng?
Câu hỏi ấy cũng cần chảy máu trong lòng một dân tộc khi dân tộc ấy vọng ngoại. Khi dân tộc ấy không còn thấy cần thiết phải đặt ra câu hỏi “tôi là ai?”. Khi dân tộc ấy không biết mình là khác. Khi dân tộc ấy nhập nhằng giữa tôi và người. Tôi khác anh: bản sắc bắt đầu tự định nghĩa với khẳng định quyết liệt ấy. Với chữ “khác”. 

Khác! Như một tiếng quát. Quát vào mặt kẻ nào muốn đồng hóa. Như một tiếng sấm. Sấm trong lịch sử. Nổ trong Bình Ngô đại cáo:
Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Nước non bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác.

Cái gì là cốt lõi trong cái “khác” đó? Văn hiến. Văn hóa. Và cái gì là cốt lõi trong văn hóa? Phong tục.
 Anh đừng đem Khổng Mạnh ra để nói với tôi rằng tôi giống hệt anh, tôi là con đẻ của anh. Anh cũng đừng đem chữ viết ra để nói rằng tôi nhân chi sơ là sờ vú anh. Văn hóa của tôi không phải là văn hóa của anh bởi vì phong tục của tôi không phải là phong tục của anh. Và thế nào là phong tục? Là cách sống. Văn hóa là cách sống. Là cách ăn cách mặc. Là nước mắm. Là tiếng ru em. Là ca dao. Là lễ hội. Là chùa chiền. Là làng xóm. Là thói quen. Là ký ức chung. Là ý thức tập thể. Là tất cả những gì liên quan đến đời sống của một dân tộc, vật chất cũng như tinh thần. 

Nói “phong tục” là lấy cái khác nhất của Đại Việt so với chàng kia mà nói, chứ “phong tục” chính là “văn hiến” đã đại cáo ở trên. Và văn hiến ấy, Đại Việt ta đây đã có “từ lâu”, nghĩa là đã đi vào lịch sử, nghĩa là đã truyền lại đời này qua đời kia, truyền từ khi nhà ngươi tưởng đã nuốt sống ta trong ngót ngàn năm dằng dặc.

Trên thế giới, không có một nước nào so được với Đại Việt về cái rễ văn hóa sâu thẳm ấy. Châu Âu muốn so với ta? Châu Mỹ muốn so với ta? Có nước nào trong các bạn đẻ ra được, duy trì được, củng cố được, truyền thừa được, ấp ủ được một cái trứng văn hóa trong suốt ngàn năm đồng hóa trước khi có bờ cõi? Bản sắc là cái gì nếu không phải là cái trứng kỳ lạ ấy? 

Cho đến thế kỷ 18, các bạn ở châu Âu mới thấy xuất hiện cái tư tưởng rằng văn hóa là cái “tinh yếu” (“essence”) dính chặt vào một dân tộc, và từ đó mỗi dân tộc có một “thần khí” (“génie”) riêng biệt, khác với các dân tộc khác Nhưng lúc đó các bạn đã có bờ cõi, đã thành lập xong cái mà lịch sử gọi là Etat-Nation, dân tộc nào có nhà nước ấy. Trong bờ cõi đã phân chia ranh giới địa dư, các bạn mới xây dựng dân tộc văn hóa song song với dân tộc chính trị. “Dân tộc nào có bờ cõi ấy” và “dân tộc nào có văn hóa ấy”, hai tư tưởng đó củng cố lẫn nhau. 

Nghĩa là lúc đó các bạn chưa có một văn hóa dân tộc, các bạn phải lần hồi xây dựng văn hóa đó, khác với Đại Việt đã có cái trứng văn hóa từ lâu trước khi nở ra thành rồng Thăng Long. Cho nên chúng tôi không phải đợi cho đến thế kỷ 18, 19 mới quan niệm, như các tư tưởng gia ở Đức, văn hóa là cái “hồn” của mỗi dân tộc, là “Volksgeist”. Định nghĩa chính xác cái “hồn” ấy là gì, đúng là khó. Nhưng khó, không có nghĩa là phủ nhận cái “hồn”. Bởi vì không có hai dân tộc nào cùng có một văn hóa giống hệt nhau. 

Nếu có tình trạng đó thì cả hai chỉ có thể hợp thành một dân tộc. Vì vậy, vì mỗi văn hóa có một sắc thái đặc biệt, văn hóa quyết định bản sắc của mỗi dân tộc. “Tát cạn văn hóa ra khỏi một dân tộc – nghĩa là tát cạn ký ức và sắc thái độc đáo ra khỏi dân tộc đó – tức là giết chết dân tộc đó”. Tôi mượn câu nói ấy của Milan Kundera.

Với cái “hồn” ấy, tôi hiện hữu, tôi là tôi. Tôi nhận máu huyết từ trong đó. Tôi thở với hơi thở ấy. Nhưng cái đầu của tôi dạy rằng văn hóa là một khái niệm động, vừa như thế, vừa biến chuyển với thời gian. Không văn hóa nào sống biệt lập, tách biệt với các văn hóa khác. Chung đụng, tiếp xúc với nhau, các nền văn hóa ảnh hưởng lên nhau, mỗi cái “tôi” của văn hóa này phải vừa canh chừng để đừng bị “cái khác” làm biến chất, lại vừa bị quyến rũ bởi “cái khác” khi nhận ra “cái khác” có những ưu điểm mà mình không có, cái “tôi” của mình có những nhược điểm mà mình cứ gối đầu lên ngủ, bất kể nhục vinh. Và như vậy, tôi vừa là con cháu của Nguyễn Trãi, vừa là con cháu của Phan Châu Trinh. Của Phan Châu Trinh khi Tây Hồ rơi vào thân phận Việt kiều, làm “người Việt ở nước ngoài”. 

Nhưng chính nhờ ở nước ngoài mà ông chạm mắt vào “cái khác” và ông thấy cái nô lệ nằm ngay trong văn hóa. Tôi mượn một câu của anh Vĩnh Sính, người bạn học giả mà tác phẩm từng được giải Phan Châu Trinh: “So với những trí thức cùng thời, kể cả Phan Bội Châu, tinh thần yêu nước của Phan Châu Trinh có điểm nổi bật là rất bén nhạy về điều hay cái lạ ở nước ngoài cũng như về những nhược điểm về văn hóa và xã hội mà con người Việt Nam cần khắc phục”. Từ đó mà bật ra phương châm “dân khí”, “dân trí”. Và dân chủ. Và dân chủ. Phan Châu Trinh là sĩ phu đầu tiên hô hào dân quyền. Huỳnh Thúc Kháng nói thế. Anh Vĩnh Sính tiếp theo: “Bởi vậy, khi đọc lại những lời Tây Hồ viết vào đầu thế kỷ trước, ta vẫn nghe sang sảng tựa hồ như tiên sinh đang đăng đàn diễn thuyết đâu đây”.
Tôi đang nghe sang sảng bên tai những Lư Thoa, những Mạnh Đức Tư Cưu, những Vạn lý Tinh pháp, những Khai Sáng thế kỷ, những Tuyên ngôn Nhân quyền, những tư tưởng mới làm choáng ngợp cái đầu rạng đông của Phan Tây Hồ. 

Chỉ giới hạn trong quan niệm về dân tộc mà tôi đang nói đây, tôi nghe sang sảng, như tiên sinh đã nghe, định nghĩa bất hủ của Renan, trong đó vừa có Nguyễn Trãi của tôi, vừa có Phan Châu Trinh của thời đại mới, vừa có quá khứ vừa có hiện tại, vừa có Herder của Lãng Mạn Đức, vừa có Rousseau của “Khế ước xã hội”:
“Dân tộc là một linh hồn, một nguyên tắc tâm linh. Hai yếu tố, thật ra chỉ là một, tạo nên linh hồn ấy, nguyên tắc ấy. Yếu tố thứ nhất nằm trong quá khứ, yếu tố thứ hai nằm trong hiện tại. Yếu tố thứ nhất là cùng có chung một gia tài kỷ niệm phong phú, yếu tố thứ hai là sự thỏa thuận hiện tại, ý muốn cùng sống, hoài bão cùng tiếp tục khai triển gia tài chung đã nhận. Con người không tự nhiên mà thành người. Một dân tộc, cũng như một cá nhân, là thành quả của một quá khứ lâu dài làm bằng nỗ lực, bằng hy sinh, bằng tận tụy. Thờ kính tổ tiên là chính đáng hơn tất cả; chính tổ tiên làm chúng ta thành ra chúng ta. Một quá khứ anh hùng, những vĩ nhân, vinh quang, đó là cái vốn xã hội trên đó ta tạo dựng một ý tưởng dân tộc. Cùng có những vinh quang chung trong quá khứ, một ý chí chung trong hiện tại, đã cùng nhau làm nên những công việc to lớn, vẫn còn muốn làm như thế nữa: đó là những điều kiện thiết yếu để là một dân tộc. Hy sinh đã làm càng cao, khổ sở đã chịu càng lớn, thương yêu càng nhiều. Ta thương cái nhà mà ta đã xây và đã truyền lại. “Ta bây giờ là hình ảnh của cha ông ngày trước; ta ngày mai sẽ là hình ảnh của cha ông ngày nay”, câu hát đó của dân Sparte ngày xưa đơn giản như thế nhưng tóm tắt được thế nào là tổ quốc”.
Và đây là hiện tại được nhấn mạnh. Hiện tại mà Phan Châu Trinh hoài bão qua hai chữ “dân quyền”:
“Như vậy, một dân tộc có một quá khứ, nhưng tóm gọn trong hiện tại bằng một sự việc cụ thể: thỏa thuận, ý muốn tiếp tục cùng sống chung được biểu lộ rõ ràng. Dân tộc là một cuộc bỏ phiếu hồ hởi hằng ngày”.

“Một cuộc bỏ phiếu hồ hởi hằng ngày”. “Un plébiscite de chaque jour”: lịch sử nước Pháp ghi khắc câu nói ấy. Lịch sử của các nước tiến bộ văn minh cũng ghi khắc câu nói ấy. Bởi vì câu nói ấy chứa đựng tất cả tinh túy của một văn hóa, một văn minh không riêng của một dân tộc nào mà chung cho cả mọi dân tộc. Vì câu nói ấy, vì tinh túy trong ý nghĩa của nó, mà Phan Châu Trinh khác Phan Bội Châu. Đất nước độc lập, không phải chỉ đuổi lũ cướp nước là xong. Phải đuổi cái nô lệ ra khỏi cái đầu. Bạo lực có thể đạp đổ bạo lực. Nhưng bạo lực nào cũng có khuynh hướng thay thế bạo lực cũ để thống trị bằng cách nô lệ hóa cái đầu. Phan Châu Trinh đã đi trước thời đại bằng lời lẽ thống thiết kêu gọi phải thắp sáng cái đầu của người dân. Bởi vì thời độc trị của vua chúa đã qua rồi. 

Cái nguyên tắc mà Renan gọi là “tâm linh” (“spirituel”) không có gì là siêu hình cả, trái lại rất cụ thể. Đó là người dân. Mỗi người dân. Mọi người dân. Mỗi người dân nắm vận mệnh của mình và của dân tộc mình. Bằng thỏa thuận. Như thỏa thuận khi ký một hợp đồng. Dân tộc là linh thiêng, bởi vì trong lòng mỗi người dân đều có cái “hồn” của tổ tiên, nhưng dân tộc chỉ trường tồn trong hiện tại, trong tương lai, khi chính người dân, chứ không phải một ai khác trên cao xanh, cùng nhau thỏa thuận về vận mệnh của đất nước. Sự thỏa thuận ấy, tất nhiên biểu lộ bằng lá phiếu, và lá phiếu chỉ là lá phiếu khi trung thực. Không có trung thực thì không có thỏa thuận. Nhưng chữ “plébiscite” của Renan không có nghĩa tầm thường của một cuộc trưng cầu dân ý. 

Bởi vì trưng cầu dân ý cụ thể là con số: 51%, 65%, 70%, vân vân. “Plébiscite”, trong cái nghĩa của Renan, không phải đo bằng con số. Đo trong lòng người, người dân nào cũng biết đo và đo rất chính xác, trung thực. Siêu hình chăng? Cam đoan không. Cứ hỏi mỗi người Việt Nam có biết đo không, câu trả lời sẽ rất giản dị. Đừng dối nhau làm gì, có thời chúng ta đã từng nghe: cái cột đèn cũng muốn đi. Và bây giờ lại nghe nói: ai có chút tiền đều một chân trong chân ngoài. 

Một dân tộc sống với cái đầu hoài nghi, cái chân bỏ phiếu, là một dân tộc đang tự thắp nhang cho mình, làm mồi cho cú vọ. Nếu ai có chút tiền đều muốn đưa con ra ngoài để học rồi để ở lại, thì tim đâu để máu chảy về? Thì đâu còn định nghĩa được tôi là ai? Thì lấy người khác làm mình. Thì đâu là “dân khí”? Cái “hồn” nằm ở đâu?

Ngoại xâm trước mắt đâu phải chỉ lấn đất lấn biển. Nó lấn cái đầu. Cái đầu ấy, ngoại xâm muốn ta giống nó. Nó rất sợ ta khác nó. Nó muốn ta giống nó bằng văn hóa, bằng ý thức hệ. Nó sợ ta khác nó với Phan Châu Trinh. Bởi vì chỉ cần ta định nghĩa ta là Phan Châu Trinh, ta có cái đầu văn hóa mở ra với những chân trời khác, những bình minh khác cùng sáng lên hai chữ “dân quyền”, chỉ cần thế thôi, chỉ cần cái đầu văn hóa ấy thôi, vận mệnh của đất nước Việt Nam sẽ đổi khác về mọi mặt, bắt đầu là mặt chiến lược. Vì sao? Vì định nghĩa ai là bạn ai là thù bắt đầu từ đâu nếu không phải là từ anh khác tôi, tôi khác anh của Nguyễn Trãi?
Chỉ cần thế thôi, một bước ấy thôi, dân tộc chờ đợi từ thời Phan Châu Trinh. Chỉ cần một câu trả lời với Renan: Vâng, đúng thế, dân tộc là sự giao thoa của hai thỏa thuận song song: thỏa thuận giữa người dân với nhau cùng sống cùng chết trên cùng mảnh đất của tổ tiên; thỏa thuận giữa người dân với chính quyền để cùng nhau đảm đương việc nước. Một bước. Cả vận mệnh nằm trong một bước. Bước đi! Cái “tôi” của ngày nay, cái “ta” kiêu hùng, cả tổ tiên nằm trong một bước.

Thưa Quý Vị,
Bạn bè anh chị thân mến,
Trong tâm tình trên đây của tôi về dân tộc, tôi xin được kết thúc, rất ngắn, với chút tâm tình về đạo Phật của tôi, vì hai tâm tình chỉ là một, hòa quyện vào nhau trong toàn bộ chữ viết của tôi. Có lần trả lời cho báo Lao Động, tôi nói: Tất cả những gì tôi viết đều là thư tình, tình thư tôi gửi về quê hương, dù khi nói về đời, dù khi nói về đạo. Có một con chim bị đâm gai, nằm chảy máu dưới một bông hoa trắng, và hoa trắng đã thành hoa hồng. Đó là hoa hồng tôi hiến tặng cho đất nước của tôi từ xa.

Dân tộc tôi, nếu muốn định nghĩa về bản sắc của mình, không thể không nói đến đạo Phật. Vì đạo Phật thiết yếu như vậy cho sự sống còn văn hóa của dân tộc tôi, nếu chùa chiền biến chất trong một hiện tại đầy hoài nghi về văn hóa và giáo dục này, nếu đạo Phật cũng héo hon theo, thì cái hồn của quá khứ cũng tủi, mà hiện tại cũng bơ vơ bản sắc. 

Như một con én không để mất mùa xuân, tôi không muốn thấy đạo Phật của dân tộc tôi bị lão hóa với thời đại kim tiền, tôi muốn đạo Phật của tôi vẫn là nhựa sống của tuổi trẻ, của các bậc cha mẹ, của mọi gia đình. Nhựa ấy muôn đời vẫn thế, vẫn còn đấy, nhưng để làm cho nó chảy trong cành tươi, con chim nhỏ bị gai đâm chỉ còn biết chảy máu theo mà thôi, trong chữ viết.

Trung thành với đạo Phật của tôi, trung thành với dân tộc của tôi, tất cả những gì tôi viết, dù là nước mắm, dù là tương chao, dù là văn hóa, dù là giáo dục, đều nhắm đến một lý tưởng, lý tưởng của Phan Châu Trinh: Tiến bộ. Đừng tưởng đạo Phật không cần tiến bộ. Không tiến bộ thì xa lìa đời sống. 

Còn dân tộc, khỏi nói, không tiến bộ thì thế giới đạp lên xác pháo. Nhưng đạo Phật biết một cái rất quý nói trong kinh Pháp Hoa: một viên ngọc giấu trong áo cũ. Áo cũ phải thay, viên ngọc vẫn giữ. Dân tộc của tôi, nghẹn ngào mà nói, có ngọc quý mà không giữ, lấy cuội của người làm ngọc của mình, gắn lên vương miện.

Thôi, tôi xin kết luận thôi. 
Tôi định nghĩa thế nào đây về tôi? Tôi là ai? 
Dân tộc tôi là ai? Là gì? Là thế nào?

 Nếu không định nghĩa được bằng khẳng định, thôi thì ta tạm định nghĩa bằng phủ định: Tôi không phải như thế này, tôi đáng lẽ phải là thế khác. Dân tộc tôi xứng đáng hơn thế này. Dân tộc tôi chưa xứng đáng với tổ tiên.

Vô cùng cám ơn Quý Vị.
C. H. T.
__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh 

Sunday, 26 March 2017

Trung Quốc cưỡng chế tu viện Tây Tạng để "uốn nắn ý thức hệ"

Trung Quốc cưỡng chế tu viện Tây Tạng để "uốn nắn ý thức hệ"

Thụy My
media
Larung Gar tức Lạc Nhược Hương, khu vực tu viện nổi tiếng của Tây Tạng đang bị chính quyền Bắc Kinh âm thầm giải tỏa.wikipedia
Trong bài phóng sự « Chính sách xe ủi đất tại Larung Gar », Le Monde cuối tuần cho biết từ đầu thập niên 80, các ni sư và người hành hương đổ xô đi viếng tu viện Phật giáo Tây Tạng nổi tiếng trên vùng núi cao ở Tứ Xuyên. Hiện tượng này khiến chính quyền Trung Quốc không hài lòng. Từ một năm qua, Bắc Kinh âm thầm cho trục xuất cư dân và cưỡng chế phá dỡ nhà cửa vùng này, nhân danh « các giá trị cơ bản của chủ nghĩa xã hội ».
Larung Gar tức Lạc Nhược Hương trong chữ Hán, là hàng ngàn ngôi nhà nhỏ bé làm bằng những thân gỗ tròn và xi-măng, sơn màu đỏ tía, gắn chi chít vào sườn núi như những hàng ghế của rạp xiếc. Những khung cửa sổ lớn chiếm lĩnh mặt tiền nhà, như những đôi mắt mở to quan sát.
Khu vực tu viện Tây Tạng Lạc Nhược Hương nằm ở độ cao 4.200 mét, nhìn xuống thung lũng Sertar, tỉnh Tứ Xuyên, sẽ không còn mang bộ mặt xinh đẹp này bao lâu nữa. Sau nhiều năm tương đối nương tay, nay chính quyền Trung Quốc muốn siết lại cộng đồng Phật giáo đông đảo có 10.000 đến 20.000 thành viên. Và họ muốn hành động lặng lẽ không nhân chứng, đặc biệt là người ngoại quốc.
Lệnh trục xuất đã được đưa ra, để giảm số cư dân xuống còn 5.000, và quy hoạch lại toàn bộ khu tu viện hầu hết là người Tây Tạng. Những cơ sở du lịch đang được xây dựng ở đồng bằng phía dưới. Việc cưỡng chế cư dân và phá dỡ các ngôi nhà đã bắt đầu từ giữa năm 2016, một cách bí mật. Tổ chức phi chính phủ Free Tibet ước lượng có khoảng 6.700 người đã bị cưỡng bức di dời, 1.500 căn nhà bị ủi sập.
Sự hung hãn này nhắc nhở rằng các tôn giáo, chứ không chỉ Phật giáo Tây Tạng, đã trở thành đáng ngờ dưới mắt ông Tập Cận Bình, vốn muốn áp đặt « lòng ái quốc » và trung thành với « các giá trị cơ bản của chủ nghĩa xã hội » - có nghĩa là với Đảng. Nhất là Lạc Nhược Hương có vẻ gây phiền phức khi có ảnh hưởng đạo đức ngày càng rộng lớn tại vùng đất người Tây Tạng đã từng xảy ra làn sóng phản kháng năm 2008, rồi 146 vụ tự thiêu từ 2009 đến nay – mới nhất là một vụ ngày 18/03/2017.
Các đạo sư ở đây tuy vậy vẫn cố gắng giữ khoảng cách với Đạt Lai Lạt Ma. Tu viện Lạc Nhược Hương nổi tiếng thuộc Ninh Mã phái (Nyingma), một trong năm phái cổ xưa nhất của Phật giáo Tây Tạng, và có nhiều học giả lỗi lạc.
Phóng viên Le Monde cho biết người ngoại quốc hầu như không thể lọt vào được khu vực Lạc Nhược Hương : một trạm gác kiểm soát ngày đêm tất cả xe cộ đi vào Sertar. Hoặc phải đợi lúc lính gác lơ đễnh, hoặc đi đường bộ lên núi. Trong cuộc thâm nhập hồi tháng Hai, một bãi đất trống cho thấy năm, sáu ngôi nhà mới bị phá dỡ ; xung quanh con đường dẫn lên trung tâm, nhiều nhà bị ủi sập.
Nhà bị ủi sập, tăng ni phải đi học tập cải tạo

Theo Human Rights Watch, việc cưỡng chế ở Lạc Nhược Hương hết sức độc đoán. Các tài liệu bị rò rỉ trình bày việc di dời là nhiệm vụ « uốn nắn ý thức hệ ». Trong một video của Free Tibet có cảnh các ni cô Tây Tạng bị đưa lên những chiếc xe buýt theo từng địa phương khác nhau, trước những đồng đạo đang khóc lóc. Mỗi người bị cưỡng chế đều bị buộc phải viết ra giấy là « ủng hộ chủ trương của chính quyền đối với tu viện ». Họ còn phải cam kết « không có bất cứ hành động nào chống chính phủ, không lan truyền tin đồn », « tự nguyện về quê và không bao giờ quay lại Lạc Nhược Hương ».
Chưa hết : các tăng ni bị cưỡng chế còn phải theo học các lớp « giáo dục ái quốc » khi về đến nguyên quán, có nghĩa là bị tẩy não. Cuối 2016, một video trên Twitter cho thấy một nhóm ni cô bị tại Khu tự trị Tây Tạng mặc quân phục, buộc phải hát « Người Hán và người Tây Tạng đều là con của Mẹ tổ quốc Trung Hoa ». Trại cải tạo này tập trung khoảng 800 ni cô, được công an canh gác.
Trước đây tu viện Lạc Nhược Hương được nương tay nhờ Ninh Mã phái được chính quyền coi là phi chính trị - không thuộc Đạt Lai Lạt Ma, mà theo Cách Lỗ phái (Gelug). Nhưng đến năm 2001, thời Giang Trạch Dân một quan chức đảng ở Tây Tạng cảm thấy sốc vì số lượng người Hán theo học ở đây, đã báo cáo lên trung ương. Tất cả các tỉnh được lệnh phải gởi các nhóm công tác đến buộc người của địa phương mình trở về, và đã có một số vụ tự tử. Sau đợt cưỡng chế đầu tiên, Lạc Nhược Hương dần dần mở rộng trở lại.
Trú ẩn trong Phật giáo cũng là một hình thức phản kháng của người Tây Tạng. Lạc Nhược Hương còn khuyến khích bảo vệ ngôn ngữ Tây Tạng, soạn ra tự điển thích ứng với thời hiện đại để tránh vay mượn từ tiếng Hoa, chống đô hộ văn hóa của Bắc Kinh.
Cuộc chiến ý thức hệ có thể thấy rõ trên cao nguyên Garze. Những panô to đùng dựng bên đường kêu gọi phải « Biết ơn Đảng, yêu thương Mẹ Tổ quốc », những chữ Hán khổng lồ chiếu lên vách núi câu khẩu hiệu của Tập Cận Bình « Cùng kiến tạo giấc mơ Trung Hoa ». Bên cạnh đó, một thông điệp tiếng Tây Tạng kêu gọi người sáng lập Lạc Nhược Hương : « Hỡi đạo sư Jigme Phuntsok, hãy phù hộ cho chúng con ». Câu nói như một lời kêu cứu. Những con đường rộng rãi và những vòng xoay vừa mới vạch ra, đang chờ đợi một thành phố được xây dựng lên.
Trung Quốc hớn hở vì được ứng viên cực tả Pháp ca ngợi

Cũng liên quan đến Trung Quốc, tuần báo L’Obs trong bài « Mélenchon, người Pháp đã vinh danh tư tưởng Mao » cho biết theo ứng cử viên tổng thống cực tả Pháp Jean-Luc Mélenchon, Trung Quốc lại là hình mẫu mà nước Pháp phải noi gương. Bài trả lời phỏng vấn này của chủ tịch đảng « Nước Pháp Bất Khuất » đã được báo chí nhà nước Trung Quốc hớn hở đăng lại, và lan tràn trên hàng ngàn trang mạng ở Hoa lục.
Tác giả Ursula Gauthier mỉa mai nhận định, ông Mélanchon yêu thích những người chống đối lại đàn áp, với điều kiện kẻ « đàn áp » là Mỹ và đồng minh. Ngược lại, những ai phản đối Nga và Trung Quốc đều bị ông coi là tay sai của đế quốc Mỹ.
Chẳng hạn như Tây Tạng. Năm 2008, khi thế giới nổi lên phong trào tẩy chay rước đuốc Thế vận hội Bắc Kinh, Jean-Luc Mélanchon lại lớn tiếng đả kích Đạt Lai Lạt Ma là « thủ lãnh tôn giáo phản đối khai hóa », « người bảo vệ charia (luật Hồi giáo) của đạo Phật », « người chủ trương độc lập sắc tộc muốn trục xuất 100 triệu người Hoa khỏi Tây Tạng ».
Cuộc bầu cử tổng thống lần này mang lại cho ứng viên cực tả cơ hội mới để làm vui lòng Bắc Kinh. Trong video ngày 13 tháng Giêng, khi bình luận về cuộc điện đàm giữa Donald Trump và bà Thái Anh Văn, ông so sánh thần tượng dân chủ Đài Loan với chính khách cực hữu Pháp Marine Le Pen. Nhưng bài trả lời phỏng vấn dài đăng trên tờ Nouvelles d’Europe (tờ báo do Bắc Kinh kiểm soát) hồi tháng 9 năm ngoái mới làm Trung Quốc hởi lòng hởi dạ nhất. Ông Mélanchon gọi Đạt Lai Lạt Ma là người muốn « cắt mất của Trung Quốc một phần tư lãnh thổ », « gây ra một cuộc chiến vĩ đại vô nghĩa ».
Ông tuyên bố : « Nền văn minh Trung Quốc xứng đáng được cả hành tinh chọn lựa. Trung Quốc phải là đối tác ưu tiên của Pháp, vì kỹ nghệ, công nghệ, khoa học và phát triển văn hóa của Trung Quốc đã đạt đến mức siêu việt », cho biết ông rất chờ đợi Bắc Kinh lãnh đạo thế giới.
Đúng là khúc hát thiên cung dành cho các quan lại đỏ ! Bài phỏng vấn được tất cả các trang mạng của chính phủ Trung Quốc đăng lại. Hình ứng viên cực tả Pháp được đặt trên nền đỏ, phía sau Mao Trạch Đông, Stalin, Lênin, Mác, Ănghen. Khẩu hiệu tranh cử « Nắm lấy quyền lực » của ông được bổ sung bằng câu « Chủ nghĩa Mác-Lê và tư tưởng Mao Trạch Đông bách chiến bách thắng muôn năm ! ». Nhiều cư dân mạng ở Hoa lục hoan hỉ gọi ông Mélenchon là « Người Pháp đã làm rạng danh tư tưởng Mao chủ tịch ». Được tuần báo L’Obs liên lạc, Jean-Luc Mélenchon từ chối đưa ra lời bình luận.
Dân chủ Hàn Quốc đang gặp khó

Cũng về Á châu, Courrier International dịch lại bài báo « Một sự chuyển đổi nguy cơ cao » của tờ Weekly Kyunghyang ở Seoul nhận định, Hàn Quốc đang ở vào tình thế khó khăn. Sau khi bà Park Geun Hye bị truất phế, người dân sẽ đi bầu tổng thống mới vào ngày 09/05/2017 tới, trong bối cảnh bị Bình Nhưỡng đe dọa với vũ khí nguyên tử, Washington cứng rắn hơn và quan hệ với Bắc Kinh đang căng thẳng.
« Quyền lực tập trung vào tay tổng thống, trong khi không có cơ chế kiểm soát hiệu quả. Hệ thống này khiến xảy ra lạm dụng quyền lực, những người thân không có chức vụ chính thức can dự được vào công việc Nhà nước, quan hệ chặt chẽ với các đại tập đoàn ». Thẩm phán Ahn Changho của Tòa Bảo hiến đã nhận xét như trên, bên lề phiên tòa truất phế bà Park.
Theo giáo sư Shin Jin Wook của trường đại học Chung Ang, tuy người Hàn Quốc đã thành công trong việc đạt được bầu cử trực tiếp và tách quân đội khỏi chính trị, nhưng vẫn còn phải nỗ lực nhiều để bảo đảm các quyền tự do và tham chính của công dân, đồng thời phân bổ nhiệm vụ cho các định chế.

__._,_.___

Các vấn đề trademark, unincorporated association và incorporated association trong các hội đoàn và tổ chức tại hải ngoại


Các vấn đề trademark, unincorporated association và incorporated association trong các hội đoàn và tổ chức tại hải ngoại

Luật Sư Đào Tăng Dực


I. Tổng quát

Nhu cầu kiện toàn xã hội dân sự, hầu tạo ra sự đối trọng với nhà nước CSVN trong nước, là một nhu cầu thiết yếu và tôi đã viết đầy đủ trong cuốn “Cẩm nang song ngữ thành lập hội đoàn trong bối cảnh xã hội dân sự tại Việt Nam” (Bilingual manual on the formation of associations within the context of civil society in Vietnam) xuất bản năm 2016. Mong rằng, cuốn sách này sẽ đóng góp hiệu năng vào cấu trúc xã hội dân sự tại Việt Nam.

Điều trên không có nghĩa là tình trạng các hội đoàn người Việt hải ngoại, trong xã hội dân sự tại các quốc gia dân chủ đa nguyên là hoàn hảo.

Tình trạng này vô cùng có lợi cho người CSVN trong cố gắng duy trì và kéo dài sự sống còn của chế độ, hầu chia chát tài nguyên quốc gia cho các thành viên cao cấp của đảng và nhất là các thế hệ con cháu của họ.

Như bất cứ tập thể toàn trị nào trong lịch sử, người CSVN sợ hãi nhất là những đối kháng có tổ chức (organized opposition) và luôn coi thường những cá nhân đối kháng (individual opposition). Thâm chí trong nhiều trường hợp, chiến thuật của họ còn khuyến khích một số cá nhân đối kháng chừng mực, tạo ra ảo tưởng dân chủ, hầu trình diện cùng dư luận thế giới và xoa dịu sự phẫn uất của quần chúng.

Những cá nhân chống đối trong nước tương đối được tự do và những cá nhân chống đối tại hải ngoại cũng được visa về nước. Trong khi đó, họ đàn áp mạnh tất cả mọi đối lập có tổ chức, dù là nhỏ nhoi. Những cá nhân đối kháng nằm trong các tổ chức hải ngoại bị triệt để cấm đoán nhập cư Việt Nam.

Điều trên dĩ nhiên là vì người CSVN nghèo nàn tư tưởng và khả năng quản trị quốc gia, nhưng rất thấu hiểu lẽ tương tranh tồn vong trong thiên hạ và từ đó nghiêm cấm hoặc kiểm soát chặt chẽ các lực lượng đối kháng có tổ chức.

Chúng ta phải làm những điều người CSVN sợ hãi nhất. Đó là thành lập các hội đoàn đối kháng có thực chất trong nước lẫn hải ngoại.

Điều này có vẻ đơn giản tại hải ngoại nhưng không phải không có những trở lực khách quan, trong môi trường dân chủ pháp trị tại các quốc gia tây phương. Một số hội đoàn và tổ chức chính trị hải ngoại đã và đang gặp nhiều trở lực lớn trên phương diện này.

Tôi xin nêu ra những đường nét chính về các hội đoàn xã hội dân sự tại Úc Đại Lợi và tuy Úc Đại Lợi là một nền dân chủ pháp trị tiêu biểu và luật pháp tại Hoa Kỳ hay Liên Hiệp Âu Châu cũng tương tự, nhưng độc giả cần phải tham khảo luật sư của mỗi quốc gia, khi có nhu cầu thành lập hoặc điều hành một hội đoàn.

Nếu chúng ta áp dụng các điều trong tài liệu này, chúng ta sẽ tránh được những khuyết điểm mà một số tổ chức, đảng phái chính trị hoặc xã hội người Việt đang đối diện.

Phần lớn các tổ chức hoạt động xã hội, văn hóa, từ thiện hoặc các tổ chức đấu tranh người Việt tại hải ngoại đều là bất vụ lợi tức non-profit. Các tổ chức có tính tôn giáo hoặc từ thiện cũng nằm trong loại này.

Trước hết non-profit có nghĩa là gì?

Câu trả lời là có một nội quy (hoặc thành văn, hoặc trong những trường hợp tạm bợ và đơn giản thì bất thành văn) quy định:

a. Lợi tức không được phân chia cho hội viên

b. Sau khi hội giải tán thì tất cả mọi tài sản chuyển giao cho những hội bất vụ lợi với mục tiêu tương tự

Tuy nhiên hội đoàn đó, như một tập thể dĩ nhiên vẫn có quyền có lợi nhuận và tài sản của mình và vẫn có thể mướn và trả lương cho các nhân viện etc…

II. Các loại tổ chức:

Trên phương diện non-profit tức bất vụ lợi có 2 loại hội đoàn hoạt động như sau:

1. Unincorporated associations:

Ưu điểm:

a. Từ 4- 5 người trở lên có thể thành lập được
b. Không cần khai báo gì với chính phủ

Khuyết điểm:

a. -Không có tư cách pháp nhân riêng (legal personality, legal standing)

- Không thể là bị cáo hay nguyên cáo trước tòa
- Không thể trực tiếp sở hữu tài sản

b. Không có trách nhiệm hữu hạn, ngược lại những thành viên đều chịu trách nhiệm pháp lý cả hình lẫn hộ.

c. Không sở hữu danh xưng riêng của mình

2. Incorporated associations:

Ưu điểm:

a. Có tư cách pháp nhân riêng

b. Có trách nhiệm hữu hạn và các thành viên không chịu trách nhiệm về hình lẫn hộ

c. Có thể xin trợ cấp funding của chính phủ hay các cơ quan tư nhân

d. Sở hữu danh xưng của riêng mình

e. Có thể đứng tên trực tiếp sở hữu tài sản của hội

Khuyết điểm:

a. Phải khai báo sổ sách hằng năm

b. Phải chi phí để đăng ký

III. Trademark danh xưng:

Là thủ tục giữ độc quyền một danh xưng. Chỉ cần áp dụng cho những thực thể không đăng ký hầu có khả năng sở hữu một danh xưng mà thôi. Điều này không thay đổi cấu trúc pháp lý của một hội unincorporated.

IV. Trusteeship (tình trạng ký thác)

Bởi vì các unincorporated association không có tư cách pháp nhân riêng nên nếu có tài sản phải nhờ những người bình thường hay một hội có tư các pháp nhân đứng tên dùm qua việc thành lập các trusteeships với một văn kiện như declaration of trust.

Người trustee chỉ là trustee chứ không phải owner và không chịu trách nhiệm về thuế nếu có.

Nếu không có các declaration of trust hay những văn kiện tương tự, hội có thể bị tước đoạt tài sản dễ dàng và vì hội không có tư cách pháp nhân nên không thể khởi kiện một đệ tam nhân với danh nghĩa của mình được. Vấn đề đòi lại tài sản vô cùng khó khăn.

Trong cuốn sách nêu trên tôi có thảo ra một trusteeship đơn giản có thể sử dụng được.

V. Tương quan giữa những cơ cấu unincorporated và incorporated:

Thông thường những tổ chức chính trị đấu tranh của người Việt hải ngoại là unincorporated vì không muốn bị ràng buộc bởi những kiểm soát của chính phủ. Trong khi đó, một số ngoại vi của họ hoạt động xã hội nhiều hơn nên có đăng ký thành incorporated associations.

Điều này không có nghĩa là luật pháp không thể chế tài các hội không đăng ký vì các hội này vẫn có nội quy, cương lĩnh và trên nguyên tắc, một khi ánh sáng luật pháp chiếu rọi vào, sẽ phải tuân thủ nội quy, cương lĩnh và pháp luật.

Chính vì thế, các tổ chức đấu tranh, dù không đăng ký, vẫn phải có những điều khoản hoàn toàn hợp pháp và hợp hiến của các quốc gia sở tại, nhất là nguyên tắc đấu tranh bất bạo động cần phải được minh thị nêu ra, trong cương lĩnh hay nội quy.

Các ngoại vi có đăng ký của các tổ chức này, ngoài các mục tiêu chính yếu trong nội quy/cương lĩnh (bylaws) như truyền thông, bảo vệ phụ nữ quyền, phục hưng văn hóa.. cần có các mục tiêu khác như, nếu (và thông thường) được cho phép:

a. Tranh đấu cho nhân quyền và dân quyền

b. Tranh đấu cho tiến trình dân chủ hóa tại Việt Nam

c. Bảo vệ môi sinh tại Việt Nam

VI. Các điều pháp lý tuyệt đối không thể vi phạm (bottom line):

Phần lớn các đoàn thể bất vụ lợi đều vi phạm luật chỗ này hay chỗ kia. Lý do là vì họ không phải là những người professional. Tuy nhiên các điều sau đây tuyệt đối không thể vi phạm:

a. Trốn thuế của chính phủ (tax evasion) nếu có thuế.

b. Chia lợi nhuận cho các thành viên

c. Chuyển tài sản chung thành tài sản riêng

Tính ra thì trốn thuế phải đặt ra nhưng tại Úc, có lẽ Hoa Kỳ cũng như thế, thuế lợi tức là thuế quan trọng nhất mà các tổ chức bất vụ lợi được miễn thuế này. Các thuế khác ít hơn nhưng cũng không nên trốn.

Tội trốn thuế là một tội hình luật đại hình (indictable offence) và vi phạm trở thành một hành vi vô cùng nghiêm trọng theo bộ luật hình sự.

VII. Kết luận:

Trước hết chúng ta phải lưu ý các điều này:

Nếu một thực thể đã đăng ký (register hay incorporate) như một non profit association hay một công ty (company), thì pháp luật đã trao (confer) một danh xưng cho mình rồi, không cần phải trade mark một tên nữa. Sau đó, trade mark tất cả những danh xưng một tổ chức cần sử dụng.

Kỷ thuật sử dụng hài hòa các tổ chức có đăng ký và các tổ chức không đăng ký, nhưng độc quyền giữ danh xưng hầu duy trì chính danh trong quần chúng là một kỹ thuật quan trọng cần nắm bắt trong hoạt động đấu tranh tại hải ngoại hầu xúc tiến và hoàn tất tiến trình dân chủ hóa tại Việt Nam.

Hy vọng bài này sẽ giúp các tổ chức, đảng phái đấu tranh nâng cao hiệu năng hoạt động của mình, hầu góp phần tích cực hơn vào tiến trình dân chủ hóa Việt Nam.

25/3/2017

LS Đào Tăng Dực
__._,_.___

Posted by: "Patrick Willay"