Đại Học chăn Trâu




Wednesday, 25 March 2015

Bốn mươi (40) năm sau còn cãi nhau về một cái tên



Kính chuyễn đọc bài tham luận, phân tích của tác giả Mặc Giao dưới tựa đề " 40 năm sau [ngày Quốc Hận 30/4/75] vẫn còn cải nhau về một cái tên" để cùng suy nghiệm, góp y' trong tinh thần trách nhiệm.
pv


 

On Monday, March 23, 2015 4:13 AM, pham huuban <> wrote:
 
Bốn mươi (40) năm sau còn cãi nhau về một cái tên

Mặc Giao
Chủ nhật, 22 Tháng 3 2015

“…việc đầu tiên khối người Việt chúng ta phải làm là đừng tấn công nhau nặng hơn đánh cộng sản, đừng rút dây chặt cầu với nhau để khi cần nhau còn có thể nhìn mặt nhau không ngượng. Bốn mươi (40) năm rồi, chúng ta không học được bài học nào sao?...”

Miền Nam Việt Nam mất vào tay cộng sản cách đây 40 năm. Phe thắng cuộc gọi ngày 30 tháng Tư là ngày chiến thắng, ngày giải phóng miền Nam. Phe thua cuộc gọi đó là ngày quốc hận, ngày mất nước, tháng Tư đen... Ai muốn gọi là gì thì gọi, muốn kỷ niệm kiểu gì tùy ý và tùy theo lập trường của mình. Chẳng ai áp đặt được ai. Bốn mươi năm qua vẫn vậy. 

Năm nay, chuyện tranh cãi tên gọi ngày 30/4 trở nên sôi nổi. Lý do phát xuất từ Canada do việc ông Nghị sĩ gốc Việt Ngô Thanh Hải đệ nạp dự luật Bill S-219 Hành trình đến Tự Do (Journey to Freedom) tại Thượng Nghị Viện Canada với nội dung ghi nhớ ngày mất Sài Gòn, mở đầu cho phong trào bỏ nước đi tìm tự do của hàng triệu người Việt Nam, trong đó có khoảng 300,000 hiện sinh sống ở Canada. Dự luật đã được Thượng Nghị Viện Canada chấp thuận ngày 8/12/2014 và chuyển sang Hạ Nghị Viện ngày 10/12/2014. Hạ Viện đã mở phiên họp thảo luận đầu tiên. Ông Hải hy vọng dự luật sẽ được Hạ Viện thông qua và Toàn Quyền Canada đại điện Nữ Hoàng Elisabeth II sẽ ban hành quanh thời điểm 30/4/2015. Ngay khi dự luật được phổ biến, nhiều cuộc tranh cài đã xảy ra xoay quanh cái tên của dự luật và tác giả của nó. Phe chống ồn ào hơn phe bênh, nhưng vẫn chưa phân thắng bại.

Riêng tôi, tôi không bênh cũng không chống dự luật này. Tôi không ba phải đâu, nhưng thấy dự luật này nếu có thành luật Canada cũng chẳng cứu được Việt Nam khỏi tay cộng sản. Mặt khác, nó cũng chẳng làm hại gì công cuộc chống cộng hay làm mất chính nghiã của chúng ta khi không gọi ngày 30/4 là ngày quốc hận hoặc tháng Tư đen. Tôi chẳng thấy có âm mưu phò cộng nào trong việc hình thành dự luật này. Dĩ nhiên ông Hải và đảng Bảo Thủ Canada có lý do riêng.

Ông Ngô Thanh Hải được Thủ Tướng Stephen Harper chì định làm nghị sĩ Thượng Nghị Viện cách đây 2 năm. Theo Hiến Pháp Canada, chỉ có dân biểu được dân bầu trực tiếp vào Hạ Nghị Viện, nên viện này được gọi là Viện Thứ Dân (House of Commons) như bên Anh. Các nghị sĩ trước đây được vua hay nữ hoàng Anh chỉ định vào Viện Quý Tộc, người Anh gọi là House of Lords, viện của những bậc vương giả đại diện vua. Ngày nay, theo tinh thần dân chủ, các nghị sĩ tại Anh và Canada được thủ tướng chỉ định. 

Vì vậy Thượng Viện không có nhiều quyền bằng Hạ Viện. Việc chính của Thượng Viện là làm “second reading”, tức đọc lại những dự luật do Hạ Viện biểu quyết và nếu cần thì đề nghị tu chính. Thượng Viện cũng có quyền đề nghị dự luật và biểu quyết trước. Nhưng trong mọi trường hợp, Hạ Viện sẽ có tiếng nói cuối cùng, kể cà bác bỏ dự luật đã được Thượng Viện thông qua, hoặc chấp thuận hay bác bỏ những đề nghị tu chính của Thương Viện. Thượng Viện Hoa Kỳ có nhiều quyền hành hơn vì các nghị sĩ Mỹ được dân bầu trực tiếp.

Ông Ngô Thanh Hải có giao tiếp và liên hệ với giới chính trị tại thủ đô Ottawa từ nhiều năm, khởi đầu bằng làm phụ tá tại văn phòng một dân biểu. Thời gian sau, ông được chọn làm thẩm phán Tòa Án Quốc Tịch (Citizenship judge) vùng Ottawa. Chức vụ này lo công việc cứu xét hồ sơ xin vào quốc tịch và chủ tọa các buổi lễ tuyên thệ nhập tịch.

Năm 2013, Thượng Viện trống ba ghế nghị sĩ, Thủ Tướng Stephen Harper, lãnh tụ Đảng Bảo Thủ (Conservative Party) đương quyền, đã cử ông Ngô Thanh Hải cùng với hai người khác cũng thuộc các sắc dân thiểu số vào các ghế này. Đây là một tính toán tranh cử của ông Harper và Đảng Bảo Thủ. Dù sao cũng phải công nhận ông Ngô Thanh Hải là người có tài giao tế và vận động. Nhờ thế ông đã được “vua biết mặt, chúa biết tên” để đưa ông vào những chức vụ ngon lành, không cần phải vất vả tranh cử. 

Do đó, ông phài chứng tỏ cho những người cử nhiệm ông thấy ông là thủ lãnh đương nhiên của cộng đồng người Việt tại Canada. Ông nghĩ với dự luật này, cộng đồng người Việt sẽ đứng sau lưng ông, sẽ đồng loạt gởi thư ủng hộ ông đến Hạ Viện. Ông đã đạt một phần mơ ước nhưng còn gặp nhiều chống đối, từ phiá cộng sản cho tới những cộng đồng tỵ nạn, trong đó có những người quá khích, những người ganh ghét, nhưng cũng có những người ôn hòa không thích ai tự coi mình là thủ lãnh đương nhiên. Họ coi trọng thể thức dân chủ.

Về phiá đàng Bảo Thủ đang cầm quyền, họ có chính sách vận động lấy phiếu của những cộng đồng di dân thiều số. Chính sách này đã giúp họ thành công trong cuộc bầu cử năm 2011. Họ muốn đẩy mạnh chính sách này mạnh hơn trong cuộc bầu cử sắp tới vào tháng 10 năm nay, 2015. Canada theo chế độ đại nghị (parliamentary). Đảng nào có đa số ghế tại Hạ Viện sẽ cầm quyền và đảng trưởng sẽ trở thành thủ tướng. Canada không bầu người lãnh đạo quốc gia cấp toàn quốc như tại các nước theo tổng thống chế. Cử tri chỉ bầu các dân biểu theo từng đơn vị nhỏ. Ở những đơn vị này, số phiếu chỉ cần chênh lệch vài chục, thậm chí vài phiếu đã có thể phân thắng bại. 

Những cử tri thuộc gốc di dân không có đa số áp đảo, nhưng có thiểu số có thể làm thay đổi kết quả tại nhiều địa phương. Điều này quá rõ ràng. Tại những cuộc bầu cử ở Orange County, California, Hoa Kỳ mới đây, một cựu nghị sĩ tiểu bang da trắng đã thua một ứng cử viên gốc Việt vài chục phiếu khi tranh chức giám sát, một ứng cử viên gốc Việt đã hơn đối thủ chỉ có 7 hay 8 phiếu để đoạt chức thị trưởng Garden Grove. 

Canada cũng từng xảy ra những trường hợp tương tự trong các cuộc bầu dân biểu. Vì vậy, ngoài việc thu phục đa số cử tri bản địa, các đảng còn phái nỗ lực ve vãn cử tri thuộc các cộng đồng di dân. Đảng đang cầm quyền có nhiều lợi thế nhất trong việc ve vãn, vì có nhiều quyền lợi để phân phát, nhiều chức tước để cài đặt, kể cả đưa ra những dự luật vô thưởng vô phạt cho Canada nhưng có thể tạo sự ủng hộ của một sắc dân nào đó. Người ta không lấy làm lạ khi thấy Thủ Tướng Harper đã bổ khuyết 3 ghế nghị sĩ bằng những người thuộc các cộng đồng Phi Luật Tân, Ý và Việt Nam.

Những người chống dự luật S - 219 đầu tiên là cộng sản. Có tin TT Nguyễn Tấn Dũng đã gửi thư cho TT Harper yêu cầu hủy bỏ dự luật này để tránh gây hại cho bang giao Việt Nam - Canada. Đại sứ Việt Nam tại Ottawa đòi được điều trần tại Thượng Viện nhưng không được đáp ứng. Ông gửi bản điều trần viết bằng tiếng …Việt đến Thượng Viện. Ủy ban cứu xét coi bản điều trần như không có với lý do không kịp dịch sang tiếng Anh và tiếng Pháp, hai ngôn ngữ chính thức của Canada. 

Một lá thư có 22 chữ ký của một số người Việt sống ở Canada được gửi đến Hạ Viện để yêu cầu viện này bác bỏ dự luật được Thượng Viện chuyển đến. Trong số những người ký, một phần ba là những cựu sinh viên được chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cho đi du học trước 1975 nhưng đã tham gia hội sinh viên, Việt kiều yêu nước chống chính thể VNCH, ủng hộ Việt Cộng, đặc biệt có 3 người thuộc hội đồng quản trị Hội Doanh Nghiệp Việt Nam-Canada (Vietnam-Canada Chamber of Commerce), đứng đầu là bà Nguyễn Đài Trang, trụ sở đặt tại 1351 Dufferin Street, Toronto. Hội Việt kiều cộng sản (Vietnam-Canada Association) cũng dùng nơi này làm trụ sở. Thư của 22 người cũng lấy địa chỉ liên lạc ở đây. Như vậy chỗ này là đầu cầu, là trung tâm giao liên của cộng sản Việt Nam tại Canada. Cộng sản rất đau nếu dự luật được Hạ Viện biểu quyết thành luật, đánh dấu ngày miền Nam Việt Nam bị cộng sản cưỡng chiếm, và dân miền Nam phải chạy cộng sản bán sống bán chết.

Oái oăm thay, trong khi cộng sản sợ dự luật thì lại có một số người Việt chống cộng ở hải ngoại tẩy chay dự luật và mạt sát người khởi xướng dự luật là ông Ngô Thanh Hải một cách rất thậm tệ. Dù khác lập trường và quan điểm với nhau cũng không nên đối xử với nhau một cách thiếu tương kính như vậy, nhất là không nên kết tội người khác một cách vô bằng chứng hay với những bằng chứng còn nhiều nghi vấn. Dĩ nhiên ông Ngô Thanh Hải có hậu ý khi đề xướng và vận động dự luật này. Ông Hải làm chính trị mà. Nhưng ông Hải và cả chính phủ lẫn quốc hội Canada đâu có quyền bắt người Việt tỵ nạn phải từ bỏ những tên Ngày Quốc Hận,

 Tháng Tư Đen và thay thế bằng tên Ngày Hành Trình Đến Tự Do. Ngược lại, chúng ta cũng không thể bắt Quốc Hội Canada, và qua đó bắt toàn dân Canada, phải nhìn nhận ngày 30/4 là Ngày Quốc Hận hay Tháng Tư Đen theo ý chúng ta. 

Dự luật này nếu được ban hành sẽ là luật của Canada, không phải luật của người tỵ nạn Việt Nam. Theo nội dung dự luật, ngày 30/4 sẽ không phải là ngày quốc lễ, chỉ là Ngày Tưởng Nhớ (Commemoration Day) sự kiện miền Nam Việt Nam bị cộng sản chiếm và mở đầu việc hàng trăm ngàn người Việt Nam đến Canada tỵ nạn, tìm tự do, rồi trở thành những công dân Canada và đóng góp vào sự cường thịnh của quốc gia này. 

Dự luật có nói đến nỗi khổ mất nước và mất tự do của người tỵ nạn, đồng thời cũng gián tiếp ca ngợi Canada đã mở rộng vòng tay đón nhận họ. Như vậy đã đủ để cộng sản nhột. Chính phủ Canada cũng phải tìm lợi cho họ trong việc này. Vừa khéo léo kể công, vừa lấy cảm tình của hàng trăm ngàn cử tri gốc Việt. Không có lợi ai làm, dù tử tế đến đâu?

Có lẽ ông Ngô Thanh Hải bị tấn công nặng như vậy một phần cũng vì ông hiện giữ chức Chủ Tịch Ban Chấp Hành Trung Ương của tổ chức Liên Minh dân Chủ. 

Tổ chức này được cố Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy thành lập. Sau khi Giáo Sư Huy qua đời, tổ chức coi các đàn anh lão thành Phạm Thái, Nguyễn Văn Huy (xin đừng lộn với GS Nguyễn Ngọc Huy) như chỗ dựa tinh thần. Hai ông này đều ở Việt Nam và đều bị cộng sản bỏ tù. 

Trong tù, ông Nguyễn Văn Huy đã thuyết phục cựu Dân Biểu Phạm Duy Tuệ sắp được ra tù và sẽ được đi ngoại quốc đại diện ông đi “thuyết khách” ở hải ngoại về giải pháp cộng tác với cộng sản để biến cộng sản từ đỏ sang hồng rồi từ hồng sang trắng. Trong một bữa ăn tại tư gia chúng tôi ở Calgary, ông Tuệ đã nói với tôi đại ý là cộng sản hiện như một chai rượu Johnny Walker chỉ còn cái nhãn ông già chống gậy, nước bên trong đã hết chất rượu rồi. 

Vì vậy chúng ta phải tìm cách pha chất quốc gia của chúng ta vào. Ông Tuệ hỏi tôi có phải anh hai Mỹ đã đồng ý giải pháp này không. Tôi trả lời không biết, nhưng theo tôi nghĩ Mỹ chưa ủng hộ một giải pháp nào hay một tổ chức nào và việc bắt tay với cộng sản lúc này chỉ là một ảo tưởng. Ông Tuệ đập tay vào đùi than: “Chết mẹ rồi!”. 

Chắc ông Tuệ mới từ trong nước ra, chưa nắm vững tình hình, đã được rỉ tai là mọi sự đã được sắp xếp đâu vào đó cả rồi, kể cả Mỹ đã bật đèn xanh. Nên khi thấy tôi nói điều ngược lại, ông ngạc nhiên và hoảng hốt. Cuộc nói chuyện của ông Phạm Duy Tuệ ngày hôm sau tại Calgary do phân bộ Nam Alberta Liên Minh Dân Chủ tổ chức không đạt kết quả như ý muốn. Tôi cũng đi dự vì tình bạn bè cựu đồng viện nhưng “tịnh khẩu như bình”. T

hời gian đó cách đây cũng gần hai chục năm. Sau khi Tổng Thống Bill Clinton lập bang giao với Hà Nội, chắc nhiều cấp lãnh đạo của Liên Minh Dân Chủ nghĩ rằng thời cơ đã tới nên phải đi bước trước để trở thành lực lượng đối thoại với cộng sản. Họ đã đưa người về Sài Gòn sửa soạn một cuộc hội thảo lớn tại khách sạn Métropole trên đường Trần Hưng Đạo. 

Nhiều thành phần cộng sản và quốc gia được gửi thiệp mời tham dự, trong đó có cả kẻ viết bài này. Lúc đầu nhà cầm quyền cộng sản để yên cho làm. Nhưng trước ngày khai mạc mấy bữa, họ ra lệnh cấm và tìm bắt những người tổ chức từ Mỹ về. Một số anh em chạy thoát. Hai người không chạy kịp bị bắt giam mấy năm trước khi được thả về Mỹ. Ông Stephan Young, bạn của GS Nguyễn Ngọc Huy, cho rằng cộng sản VN nhận được lệnh của Trung Cộng phải phá vỡ ngay cuộc hội thảo này.

Vì toan tính thay đổi đường lối đấu tranh chính trị mà Liên Minh Dân Chủ bị vỡ làm đôi. Một số cán bộ thâm niên, chủ yếu ở châu Âu, tách ra thành Liên Minh Dân Chủ Kiên Định Lập Trường. Phần còn lại vẫn do ban chấp hành của ông Lê Phát Minh lãnh đạo, nhưng sau đó lại bể thành hai nữa. Thực tế, Liên Minh Dân Chủ đã bể thành ba. Phe của ông Minh và hiện thời do ông Ngô Thanh Hải đứng đầu là phe chính truyền. Vì thế ông Hải bị một số người kết án là thừa kế một tổ chức muốn bắt tay với cộng sản.
Ông Ngô Thanh Hải còn bị nghi ngờ và mang tiếng thêm vì một vụ khác vào năm ngoái. Đó là việc ông tiếp Thứ Trưởng Ngoại Giao cộng sản Nguyễn Thanh Sơn một cách kín đáo. Mấy ngày sau cuộc gặp gỡ, Nguyễn Thanh Sơn tung ra một thông báo khoe khoang rằng Nghị Sĩ Ngô Thanh Hải đã đồng ý hết với những gì đương sự trình bầy liên quan tới Việt Nam. Ông Ngô Thanh Hải phải viết bài đính chính trối chết. Dĩ nhiên ông Hải với tư cách một nghị sĩ Canada có quyền tiếp bất cứ một chính khách ngoại quốc nào đến gặp ông. Không ai có thể kết án ông về việc này. Tuy nhiên ông phạm một lỗi chiến thuật, đó là không công khai hóa sớm và dành quyền lên tiếng trước. Ai cũng biết ông gốc Việt Nam, gặp một thứ trưởng ngoại giao Việt Nam không thể không nói chuyện về Việt Nam. Ông phải hiểu cộng sản luôn luôn lợi dụng cơ hội để tuyên truyền sai lạc. Nếu ông cho dư luận biết trước cuộc gặp gỡ và lên tiếng liền sau cuộc gặp gỡ là ông có thế thượng phong, không ai nghi ngờ được ông, và Nguyễn Thanh Sơn chưa chắc đã dám lên tiếng sau ông để xuyên tạc. Ông đã tạo cớ cho người khác nói xấu ông.

Thêm một vụ nữa chứng tỏ ông Ngô Thanh Hải đã có một quyết định vội vàng, không suy nghĩ kỹ, gây hậu quả tiêu cực cho chính ông. Ông đã dẫn GS Nguyễn Ngọc Bích và LS Lâm Chấn Thọ vào Quốc Hội Canada trần tình một giải pháp cho Việt Nam bằng việc phục hoạt (reactivate) Hiệp định Paris 1973.

 Mấy ông này còn rêu rao đó cũng là giải pháp cho vấn đề Biển Đông. 

Ông có thấy tất cả các chính phủ ký hiệp định này đã xé bỏ hay muốn quên hẳn hiệp định họ đã ký, kể cả 12 nước và Liên Hiệp Quốc ký Định Ước bảo đảm việc thi hành hiệp định? Lúc này ai còn có thể triệu tập các quốc gia đã ký Định Ước họp lại để lấy quyết định buộc các phe liên hệ phải tái thi hành hiệp định Paris?

 Giả dụ quyết định này thành tựu, ai sẽ đại diện Mặt Trân Giải Phóng Miền Nam đã bị chính cộng sản Bắc Việt khai tử? Ai là thành phần thứ ba và ai sẽ đại diện thành phần này? 

Ai sẽ đại diện Việt Nam Cộng Hòa? 

Chẳng lẽ lại là GS Nguyễn Ngọc Bích, LS Lâm Chấn Thọ và ông Hồ Văn Sinh? Ai bầu các ông này? Hay các ông tự chỉ định với danh nghiã VNCH Foundation do các ông mới lập ra? Cũng đừng quên rằng theo Hiệp định Paris, Việt Nam vẫn chia hai, miền Bắc do cộng sản nắm chắc, mọi giải pháp chính trị, quan trọng nhất là cuộc bầu cử để thành lập chính quyền mới, chỉ được áp dụng tại miền Nam. 

Chính quyền nào sẽ được giao trách nhiệm tổ chức cuộc bầu cử? VNCH đâu còn quân lực và guồng máy chính quyền để bảo đảm một cuộc bầu cử trong sáng, công bằng. Mọi xáo trộn, mọi trò gian dối lại diễn ra. Chẳng bao lâu sau Bắc Việt sẽ lại nuốt chửng miền Nam. Tình trạng Biển Đông chắc chắn sẽ tệ hơn vì Trung Quốc lợi dụng tình trạng quân hồi vô phèng ở Việt Nam để thả cửa lấn chiếm.

Ký ức của mấy ông này quá ngắn. Họ không nhớ Giáo sư Vũ Quốc Thúc đã vận động phục hoạt Hiệp định Paris từ năm 1988 với sự ủng hộ của nhiều dân biểu và luật gia Pháp, Việt. Giáo sư Vũ Quốc Thúc đã thành công trong việc tổ chức một cuộc hội thảo lớn tại Paris trong đó có các dân biểu Pháp, đại diện các luật gia Việt Nam tại Mỹ, Pháp và Âu châu. 

Tôi đã mang đến cuộc hội thảo gần 100 chữ ký của các luật gia Việt Nam tại Canada ủng hộ và đóng góp ý kiến cho công việc này. Một đại diện của CIA cũng công khai tham dự và phát biểu. Các bài thuyết trình và các cuộc thảo luận rất xâu sắc và nặng tính chuyên môn, dự trù mọi khiá cạnh áp dụng. 

Một cuốn bạch thư được phát hành vào dịp này (xin đọc Hồi Ký của GS Vũ Quốc Thúc để biết thêm chi tiết). Việc vận động phục hoạt Hiệp định Paris được xúc tiến nghiêm chỉnh vì có tin cộng sản VN có thể chấp nhận quay lại Hiệp định Paris do nạn thiếu thực phẩm và khó khăn kinh tế họ đang gặp phải, nhất là thấy Liên Xô và các nước cộng sản Đông Âu đang có dấu hiệu tan rã. 

Đó là cơ hội rất tốt mà tình hình hiện nay không có. Nhưng cơ hội đó cũng qua đi khi cộng sản Việt Nam vẫn trụ được sau khi khối cộng sản Liên Xô và Đông Âu sụp đổ. Thời cơ như thế, vận động nghiêm chỉnh và quy mô như thế mà cũng không có kết quả. Mấy ông làm chính trị tài tử chỉ thích làm lãnh tụ có dám nghĩ mình thành công khi người khác đã làm hơn mình từ 27 năm trước và đã thất bại? 

Tôi không cổ võ tinh thần chủ bại, nhưng phải biết mình biết người, có danh chánh ngôn thuận, biết ứng phó với hoàn cảnh mới bằng những giải pháp mới thì mới mong đạt kết quả. Nghị sĩ Ngô Thanh Hải dẫn mấy ông này vào Quốc Hội Canada trình bày giải pháp cho Việt Nam và cho Biển Đông kiểu ấy không sợ các dân biểu nghị sĩ cười thầm trong bụng cho cả họ lẫn ông sao? Ông bị nạn lây vì rất nhiều người không chấp nhận mấy ông đại diện VNCH  tự phong.

Sự thật thường hay mất lòng. Tôi đã nói đúng những gì tôi biết và nói thẳng những gì tôi nghĩ. Tôi chắc bài viết ngắn này không làm hài hài lòng cả hai bên đang tranh cãi về cái tên của ngày 30/4. Tranh cãi kiểu đó có lợi gì cho đại cuộc? Có sớm giải phóng đất nước khỏi ách cộng sản không? Hay chỉ gây thêm chia rẽ và hận thù ngay trong hàng ngũ của chúng ta? 

Dự luật S-219 chẳng thâu ngắn hay kéo dài ngày về quê hương của chúng ta. Tôi nghĩ Nghị sĩ Ngô Thanh Hải không gặp may mắn với dự luật này. Ông có thiện chí và tưởng rằng dự luật sẽ củng cố hậu thuẫn cho ông, đồng thời đóng góp phần nào vào việc chống cộng, ít ra về phương diện tuyên truyền. 

Ông đã không ngờ gặp sự cay cú và phản ứng tàn tệ của một số người trong cộng đồng tỵ nạn. Chắc chắn có những phần tử cộng sản trà trộn núp danh quốc gia để đánh lén ông, không kể những tên cộng sản công khai đã ra mặt tấn công ông. 

Ông cũng phải chịu thêm đòn về việc đứng đầu sóng ngọn gió cho Liên Minh Dân Chủ, thêm một số quyết định và việc làm dễ tạo cớ cho một số người hiểu lầm và chỉ trích. Tôi chắc ông đã biết và chờ đợi những đòn này khi quyết định làm chính trị. Đời chẳng biết thế nào là khôn dại. 

Nhưng tôi nghĩ ông nên thận trọng và “nhẹ nhàng” hơn. Tôi cũng nghĩ việc đầu tiên khối người Việt chúng ta phải làm là đừng tấn công nhau nặng hơn đánh cộng sản, đừng rút dây chặt cầu với nhau để khi cần nhau còn có thể nhìn mặt nhau không ngượng. Bốn mươi (40) năm rồi, chúng ta không học được bài học nào sao?

Mặc Giao
* Ông Mặc Giao nguyên là dân biểu Quốc Hội, Tổng Thư Ký Hạ Nghị Viện, Sứ thần ngoại giao của Việt Nam Cộng Hòa tại Paris (Pháp) trước 1975.

Đồng tác giả cuốn "30 năm Công Giáo Việt Nam dưới chế độ cộng sản", và tác giả sách khảo luận "Một cái nhìn khác về văn hóa Việt Nam". Ông là Chủ tịch Ủy Ban Canada Tự Do Tôn Giáo cho Việt Nam.






__._,_.___

Posted by: Paul Van 

Friday, 20 March 2015

Kết cục cuộc chiến Việt Nam và những quyết định từ Hà Nội

 

Kết cục cuộc chiến Việt Nam và những quyết định từ Hà Nội

Việt Hà, phóng viên RFA


Giáo sư sử học Nguyễn Thị Liên Hằng thuộc trường Đại học Kentucky và cuốn “Hanoi’s War””tạm dịch là “Cuộc chiến Hà Nội”, được xuất bản vào năm 2012.
Cuộc chiến Việt Nam đã kết thúc 40 năm qua nhưng rất nhiều điều về cuộc chiến vẫn còn tiếp tục là chủ đề gây chú ý tại Mỹ. Các sử gia Mỹ đã dành nhiều thời gian nghiên cứu và viết về cuộc chiến này để tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến kết cục của nó. Giáo sư sử học Nguyễn Thị Liên Hằng thuộc trường đại học Kentucky là người có những nhận định khá khác biệt so với những sử gia Mỹ khác về những nguyên nhân dẫn đến kết cục của cuộc chiến. Điều này đã được bà đề cập trong cuốn Hanoi’s War tạm dịch là Cuộc chiến Hà Nội, được xuất bản vào năm 2012. Việt Hà phỏng vấn giáo sư Nguyễn Thị Liên Hằng về những phân tích của bà về cuộc chiến.
Việt Hà: Thưa bà, vào tháng 3 năm 1965, Hoa Kỳ quyết định gửi quân vào Việt Nam, theo bà thì những nguyên nhân nào từ phía Hà Nội đã có ảnh hưởng đến quyết định này của Mỹ?
Prof. Nguyễn Thị Liên Hằng: Câu hỏi về quyết định của chính phủ Johnson khi gửi quân sang Việt Nam là một câu hỏi rất quan trọng. Lập luận của tôi là cả hai chính phủ bao gồm chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa (Bắc Việt Nam) và chính phủ Mỹ đều có lý do để tham chiến. Theo nghiên cứu của tôi thì Đảng Cộng sản Việt Nam lúc đó, còn được gọi là Đảng Lao động Việt Nam, dưới thời Lê Duẩn, đã đưa ra quyết định tiến hành một cuộc chiến ở quy mô lớn từ năm 1962, 1963. Lê Duẩn muốn tăng cường những nỗ lực cho cuộc chiến ở miền Nam và ông ta chỉ đợi cho đến khi có thời cơ tốt để tiến hành. Điều này đã không xảy ra cho đến tận cuối năm 1963 tại Hội nghị Trung ương 9. Với lý do đó, ông ta đã có quyết định bắt đầu một cuộc chiến quy mô lớn và Hoa Kỳ theo nhiều cách cũng đã quyết định tiến hành cuộc chiến dưới thời của Tổng thống Lyndon Johnson (LBJ) trong thời gian 1964.
Tôi cho rằng Lê Duẩn đã làm mọi chuyện trở nên dễ dàng hơn cho phía Mỹ can thiệp sớm hơn. Cả Hà Nội và Washington đều phải chịu trách nhiệm về cuộc chiến.
Prof. Nguyễn Thị Liên Hằng
Cho nên theo tôi, họ đều có lý do riêng của họ. Nó không phải là, nếu Lê Duẩn không leo thang cuộc chiến, thì Hoa Kỳ cũng không tham chiến, Hoa Kỳ cũng đã có lý do riêng để tham chiến… Tất nhiên quyết định của Lê Duẩn đã cho LBJ lý do để can thiệp, nhưng ông ấy cũng có lý do nội địa ở nước Mỹ để tham chiến. Nếu không phải là Lê Duẩn mà là một người khác lãnh đạo ở Bắc Việt Nam thì LBJ sẽ làm gì? Chúng ta không biết được câu trả lời rõ ràng cho điểm này. Nhưng tôi cho rằng Lê Duẩn đã làm mọi chuyện trở nên dễ dàng hơn cho phía Mỹ can thiệp sớm hơn.  Cả Hà Nội và Washington đều phải chịu trách nhiệm về cuộc chiến.
Việt Hà: Khi Mỹ gửi quân vào Việt Nam, Mỹ cũng thực hiện một loạt các chiến dịch quân sự. Một số sử gia quân sự Mỹ cho rằng các chiến dịch quân sự này đã thất bại, nhưng trong cuốn Cuộc chiến Hà Nội của bà thì tôi thấy rằng các chiến dịch quân sự của Hà Nội từ năm 1964, 1968 đến 1972 đều đã thất bại. Vậy tại sao Lê Duẩn vẫn khiến phía Mỹ phải ngồi vào vòng đàm phán và cuối cùng giành thắng lợi?
Prof. Nguyễn Thị Liên Hằng: Câu hỏi này liên quan đến bản chất của cuộc chiến tại Việt Nam. Phía Mỹ đã không có một định nghĩa rõ ràng về chiến thắng. Họ không có ý định lật đổ Lê Duẩn hay Đảng ở Hà Nội, mà chỉ là muốn duy trì một chính phủ phi cộng sản ở Sài Gòn. Vì Johnson không tuyên bố cuộc chiến, bởi vì lúc đó Johnson đang có hai chiến dịch là chiến dịch chống đói nghèo ở trong nước Mỹ và thứ hai là cuộc chiến ở Việt Nam. Nếu ông ta không chiến thắng ở cuộc chiến này (Việt Nam) thì dân chúng Mỹ sẽ mệt mỏi bởi vì họ phải gửi quân lính sang Việt Nam. Cho nên theo tôi đây là một phần lý do cho thấy mặc dù Lê Duẩn đã thất bại trong việc lật đổ chính phủ Sài Gòn nhưng ông ta vẫn chiến thắng hay khiến phía Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán. Đó là phần mà mọi người biết được khi đọc cuốn Cuộc chiến Hà Nội (Hanoi’s war). Nhưng người Mỹ đã không biết là Hà Nội cũng mắc rất nhiều sai lầm, và những mục tiêu quân sự mà Hà Nội đề ra đã không đạt được.
Trong khi đó, chúng ta nghe từ phía Mỹ là Hà nội đã thắng này thắng kia và không có những động thái sai, nhưng trên thực tế thì họ có sai lầm. Đó là điểm chính của cuốn sách của tôi. Nó cho thấy là Lê Duẩn đã có một kế hoạch quân sự đầy tham vọng là Tổng tiến công và nổi dậy. Ông ta tin là mỗi lần ông ta thực hiện Tổng tiến công và nổi dậy thì Thiệu sẽ bị sụp đổ nhưng điều này đã không xảy ra. Tuy vậy, Lê Duẩn nắm quyền kiểm soát chắc dư luận ở Hà Nội. Thực tế là cũng không có dư luận ở Hà Nội, vì Đảng Lao động đảm bảo là người dân không được phép viết và chỉ trích cuộc chiến. Mỗi lần Lê Duẩn sai thì không một ai ở Hà Nội có thể lên tiếng vì Lê Duẩn có thể vô hiệu hóa được Võ Nguyên Giáp và Hồ Chí Minh và những người lãnh đạo khác ở Hà Nội. Lê Duẩn có thể giảm thiểu được những đe dọa cho mình. Trong khi đó thì ở Mỹ mọi điều không phải như vậy.
Chúng ta nghe từ phía Mỹ là Hà nội đã thắng này thắng kia và không có những động thái sai, nhưng trên thực tế thì họ có sai lầm… Lê Duẩn đã có một kế hoạch quân sự đầy tham vọng là Tổng tiến công và nổi dậy. Ông ta tin là mỗi lần ông ta thực hiện Tổng tiến công và nổi dậy thì Thiệu sẽ bị sụp đổ nhưng điều này đã không xảy ra.
Prof. Nguyễn Thị Liên Hằng
Việt Hà: Xin bà cho biết là mối quan hệ giữa Việt Nam với Liên Xô và Trung Quốc vào lúc đó có ảnh hưởng thế nào tới quyết định đưa quân vào Việt Nam của Mỹ?
Prof. Nguyễn Thị Liên Hằng: Tôi nghĩ là quan hệ giữa Bắc Việt Nam với Trung Quốc và Liên Xô vào giai đoạn đầu những năm 60 là một quan hệ rất gần. Hoa Kỳ thì không muốn khiêu khích Trung Quốc để khiến nước này tham chiến, cho nên họ không gửi quân vào phía bắc vĩ tuyến 17 và họ cũng không ném bom biên giới giữa Trung Quốc và Việt Nam ở phía Bắc ngay khi chiến dịch Rolling Thunder bắt đầu. Họ lo ngại là Trung Quốc sẽ can thiệp. Mặc dù Hà Nội không thân thiết lắm với Liên Xô vào lúc đầu cuộc chiến nhưng đến năm 1968 thì Liên Xô đã vượt qua Trung Quốc trong những trợ giúp cho Việt Nam. Cho nên quan hệ giữa các nước cộng sản này rất gần. Điều này có ảnh hưởng đến cách mà Washington tiến hành cuộc chiến với điều quan trọng nhất là họ lo ngại sự can thiệp của Trung Quốc cho mãi đến khi Nixon thực sự lên nắm quyền. Vào cuối những năm 60 thì họ biết rõ là Trung Quốc sẽ không can thiệp nhưng đó là nỗi lo sợ của họ vào lúc đầu cuộc chiến.
Việt Hà: Xin bà giải thích bối cảnh tại sao sau năm 1968, Hoa Kỳ lại có những thay đổi về chính sách khi quyết định nhượng bộ ngồi xuống đàm phán với Hà Nội?
Prof. Nguyễn Thị Liên Hằng: Đã có sự phản bội lại miền Nam Việt Nam, sự phản bội đối với Việt Nam cộng hòa. Theo tôi điều này có liên quan đến sự thay đổi của chiến tranh lạnh và tình hình ở Việt Nam. Tôi nghĩ Nixon, đặc biệt là Kissinger muốn giữ uy thế của nước Mỹ trong chiến tranh lạnh. Cho nên điều mà Kissinger muốn làm là đàm phán để Mỹ thoát khỏi cuộc chiến và chỉ đợi trong vài năm Sài Gòn sẽ sụp đổ và đến lúc ấy thì đó không phải lỗi của Mỹ. Cho nên ông ta đã làm vậy. Thứ nhất là người Mỹ đã không kết nối được thực tế cuộc chiến đang diễn ra ở chiến trường và thứ hai là do sự thay đổi trong quan hệ giữa Mỹ, Trung Quốc và Liên Xô. Cho nên việc có tồn tại hay không một chính phủ phi cộng sản ở Sài Gòn không còn quá quan trọng đối với Mỹ, đặc biệt sau khi Hoa Kỳ và Trung Quốc bắt đầu nói chuyện lại với nhau.
Ngay kể cả khi Nixon không muốn bỏ rơi Việt Nam và ông ta đã cố gắng sử dụng không quân để tàn phá Hà Nội trong thời kỳ ông làm Tổng thống, nhưng theo tôi sự tồn tại của một chính phủ phi cộng sản ở Sài Gòn đã không còn quan trọng với Mỹ kể từ sau năm 1968, 1969, và càng rõ ràng hơn vào đầu những năm 1970 so với thời kỳ của Tổng thống Lyndon Johnson.
Việc có tồn tại hay không một chính phủ phi cộng sản ở Sài Gòn không còn quá quan trọng đối với Mỹ, đặc biệt sau khi Hoa Kỳ và Trung Quốc bắt đầu nói chuyện lại với nhau.
Prof. Nguyễn Thị Liên Hằng
Việt Hà: Theo bà nếu như những người đưa ra chính sách ở Mỹ biết được những gì đang diễn ra ở Hà Nội thì liệu phía Mỹ có thể kết thúc được cuộc chiến sớm hơn không?
Prof. Nguyễn Thị Liên Hằng: Trong các tài liệu lưu trữ mà tôi được nghiên cứu ở Mỹ, bao gồm của Bộ Ngoại giao, của CIA, tôi thấy phía Mỹ đã không biết được điều gì đang diễn ra ở Hà Nội. Có một số những chuyên gia tình báo dường như là đã có những ý tưởng về những tranh luận đang diễn ra trong nội bộ Đảng Lao động ở Hà Nội nhưng dường như không ai đọc các báo cáo của họ. Tôi nghi ngờ là ngay kể cả khi một nhân viên nào đó ở Bộ Ngoại giao hay CIA có được thông tin đúng thì báo cáo của họ cũng khó đến được bàn Tổng thống, vì theo tôi, cuối cùng Hoa Kỳ vẫn tin là họ sẽ chiến thắng dù điều gì đang diễn ra ở Hà Nội đi chăng nữa. Hoa Kỳ sẽ chiến thắng bởi lực lượng hùng hậu, vì vậy họ cũng không cần lợi dụng sự chia rẽ trong Đảng Lao động.
Vì điều quan trọng hơn cả là sức mạnh của Hoa Kỳ chứ không phải là kẻ thù yếu thế nào; đã luôn có một sự tin tưởng ở Mỹ là nước Mỹ sẽ thắng, nhất là trong thời kỳ chiến tranh lạnh, tức là Hoa Kỳ chưa từng thua một trận chiến nào. Họ cứ tham chiến và thắng. Cho nên họ không cần quan tâm đến những chia rẽ về chính trị ở Hà Nội. Tất nhiên là Hà Nội cũng gây khó khăn cho người bên ngoài muốn nhìn thấy sự chia rẽ này. Nhưng tôi có cảm giác là Hoa Kỳ chưa bao giờ cố gắng tận dụng sự chia rẽ này ở Hà Nội vì họ quá tin tưởng là họ sẽ chiến thắng bởi sức mạnh quân sự.
Việt Hà: Xin cảm ơn bà đã dành cho chúng tôi buổi phỏng vấn.

__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh 

Tội Ác VC nằm trên Google


Đăng ngày 16-03-2015 Sửa đổi ngày 16-03-2015 17:53

Chỉ điểm và đạo đức, vấn đề nhức nhối thời hậu Cộng sản ở Đông Âu

mediaTài liệu của cơ quan mật vụ Rumani Securitate được chuyển đến trụ sở Hội đồng Quốc gia Nghiên cứu Tư liệu của Securitate CNSAS gần Bucharest, thủ đô Rumani. Ảnh tư liệu 10/03/2005.Bogdan Cristel/REUTERS
Mới đây, một bộ phim tài liệu mang tựa đề "Trong tầm ngắm của Securitate" - Securitate là cơ quan mật vụ của chế độ Cộng sản Rumani trước đây - đã được công chiếu trên hai kênh truyền hình quốc gia của Hungary. Sự kiện này làm dấy lên trong công luận và truyền thông Hungary những vấn đề về đạo đức và tội ác trong quá khứ vẫn chưa bị trừng phạt.
Từ Budapest, thủ đô Hungary, Thông tín viên Hoàng Nguyễn trước hết nêu bật nội dung bộ phim :
Thông tín viên Hoàng Nguyễn tại Budapest 16/03/2015 - Mai Vân nghe
« Bộ phim đã được quay tại những hiện trường gốc, với sự tham dự của các nhân vật đa phần đã can dự vào những sự kiện có thật xảy ra cách đây ba chục năm, dưới chính thể của thủ lĩnh cộng sản Ceausescu tại Rumani, khi cơ quan mật vụ chính trị Securitate làm mưa làm gió ở quốc gia này.

Chỉ điểm ngay trong gia đình
Bộ phim nói về tấn thảm kịch của một gia đình ở vùng Kolozvár, một mảnh đất từng thuộc Vương quốc Hungary, sau đó bị sáp nhập vào Rumani và vẫn còn một cộng đồng Hung kiều đông đảo sinh sống. Hai vợ chồng nọ, vợ là Tőkés Eszter, chồng là Barta Tibor đều là những bác sĩ, những nhân vật có uy tín và được trọng vọng trong vùng.

Cùng một số gương mặt của giới trí thức vùng Kolozvár, gia đình Tőkés Eszter có xu hướng đối lập rõ rệt. Đặc biệt, thành viên gia đình có mục sư Tin lành Tőkés László là người được coi như thủ lĩnh tinh thần của Hung kiều ở Rumani, và cuộc nổi dậy cuối năm 1989 tại nước này được coi là có cơ nguyên từ hoạt động bảo vệ nhân quyền và tín ngưỡng của ông.

Bản thân bác sĩ răng Tőkés Eszter nhiều lần làm các cuộc phỏng vấn bí mật về tình hình rất nghiêm trọng tại khu vực có đông kiều dân Hung sinh sống, và tìm cách tự mang sang Hungary, hoặc thông qua một người bạn. Nhưng những kế hoạch đó luôn thất bại: tại biên giới, các nhân viên mật vụ đã chờ sẵn để "bắt quả tang" họ.
Một số những bài viết quan trọng, hoặc truyền đơn, tờ rơi với nội dung đối lập mà Tőkés Eszter đã cẩn thận cất giấu kỹ lưỡng vì sợ bị khám nhà, không hiểu sao cũng đều đều lọt vào tay mật vụ chính trị Securitate, và trở thành những bằng cứ mà chính quyền sử dụng để chống lại gia đình bà.

Trong những năm tháng ấy, cố nhiên không ai nghi ngờ người chồng, vị bác sĩ chỉnh hình tài ba, đầy uy tín, một con chiên sùng đạo Công giáo, chơi dương cầm rất điệu nghệ, và sau giờ làm việc còn chữa chạy miễn phí cho bệnh nhân nghèo. Ông Barta Tibor còn hết sức được lòng hai người con riêng của bà Eszter với người chồng thứ nhất.

Sau biến cố 1989, bác sĩ Barta Tibor sang Hung định cư. Vợ ông, bà Eszter không theo chồng, và tới năm 2004 hai người ly dị. Phải tới gần hai chục năm sau, năm 2007, bà mới nhận được một hồ sơ từ Viện CNSAS (cơ sở xử lý các hồ sơ của mật vụ chính trị Rumani thời kỳ cộng sản), và cay đắng khi được biết sự thật về người chồng trong quá khứ.

Sự thật cay đắng về người chồng điềm chỉ
Theo đó, gần như hàng ngày, chồng bà đã viết báo cáo về hoạt động của đối lập của bà trong 5 năm liền để gửi lên thượng cấp. Thậm chí, bác sĩ Barta Tibor sở dĩ kết hôn với bà năm 1985 cũng là để nhằm thông qua bà, có được mối quan hệ với cả gia đình bà, để thực hiện hoạt động chỉ điểm được Securitate giao phó.
Mang biệt danh "Stelian", Barta Tibor viết tường trình về tất cả mọi thứ có thể một cách hết sức kỹ lưỡng, kể cả về lễ thành hôn của hai vợ chồng. Ngay sau khi cưới, ông ta đưa vợ và hai con riêng của vợ đi nghỉ ở bờ biển để trong thời gian đó, mật vụ chính trị Securitate có thể đặt thiết bị nghe trộm vào ngôi nhà của họ.

Những bài viết, truyền đơn hoặc tư liệu gửi sang Hungary của bà vợ Tőkés Eszter cũng đều bị ông chồng chuyển tới cho Securitate. Là một kẻ chỉ điểm hết sức chuyên cần, Barta Tibor không bỏ qua bất cứ cuộc gặp mặt gia đình hay xã hội nào của gia đình Tőkés Eszter, để có được thông tin tức khắc cho mật vụ chính trị.

Không chỉ báo cáo về nhà vợ, Barta Tibor còn chỉ điểm rất nhiều nhân vật trí thức quan trọng vùng Kolozvár, trong đó có các chính khách, các nhân vật thuộc giới tăng lữ, các nhà nghiên cứu - nhiều người vẫn coi vị bác sĩ uy tín này là bạn thân có thể chia sẻ được.
Khi cuộc nổi dậy và chính biến 1989 ở Rumani xảy ra, Barta Tibor biến khỏi nhà và trong nhiều ngày ông ta ở lỳ trong trung tâm của mật vụ chính trị địa phương nằm ngay trên tầng trên của trụ sở giáo phận của Giáo hội Công giáo. Khả năng là trong thời gian đó, ông ta đã tìm cách tẩu tán hồ sơ tuyển dụng của mình với biệt danh "Stelian".

Quá khứ chỉ điểm, di chứng đau đớn của một thời
Dùng mạng lưới chỉ điểm dày đặc để duy trì chính quyền và khiến người dân luôn trong cảnh sợ hãi và phục tùng là một trong những đặc tính của các thể chế cộng sản tại Liên Xô (cũ) và vùng Đông Âu. Trong nhiều thập niên, Stasi của Đông Đức, Securitate của Rumani hay AVH của Hungary là những cái tên kinh hoàng đối với mọi người dân.

Tại Hungary, theo ước tính chưa đầy đủ, đã có chừng hai trăm ngàn “chỉ điểm viên” từng phục vụ thể chế độc tài cộng sản, trong số đó, có cả những “kiều nữ” trẻ thành thạo tiếng Ả Rập và không ngần ngại nếu phải sử dụng thân xác cho “việc lớn”, theo một lãnh đạo Cục Lưu trữ Lịch sử trực thuộc Cơ quan An ninh Quốc gia nước này.
Trong một phần tư thế kỷ qua, không ít những nhân vật có uy tín - những chính khách, tăng lữ, văn nghệ sĩ, nhà thể thao... - của Đông Âu đã bị lộ diện là những kẻ chỉ điểm. Chỉ điểm trong nội bộ gia đình cũng không phải là quá mới mẻ, đặc biệt như trong trường hợp mât vụ chính trị Stasi của Cộng hòa Dân chủ Đức, hay KGB của Liên Xô.

Tuy nhiên, tại Rumani, phương pháp "nghiệp vụ" này không hay được cơ quan Securitate áp dụng. Trường hợp của Barta Tibor đặc biệt ở chỗ, nó được kiến tạo và tiến hành hết sức công phu, có chủ ý, đạt hiệu quả cao, và kết quả là đã làm tan nát cuộc đời của nhiều con người khi những giây phút, cảm xúc riêng tư nhất của họ cũng bị phản bội.

Phân tích các "loại hình" chỉ điểm, các nhà nghiên cứu nhận thấy, không ít người bị cưỡng bức và làm công việc này một cách miễn cưỡng, "cho xong việc". Nhưng cũng có những kẻ làm một cách tích cực, nhiệt tình như thể họ tìm được khoái cảm trong việc chỉ điểm và ngầm làm hại cuộc đời người khác, kể cả đó là người gần gũi nhất với mình.

Một thể chể có thể hủy hoại con người
Thuật lại một câu chuyện ít nhiều đã được biết đến cách đây ít năm, bộ phim "Trong tầm ngắm của Securitate" khiến người xem sững sờ ở chỗ, nó cho thấy một thể chế có thể làm hỏng con người như thế nào. Hoặc giả, nó tạo điều kiện để những bản năng tệ hại nhất của con người được "thả nổi", trở thành hiện thực.
Về mặt đạo đức, rõ ràng bác sĩ Barta Tibor đã có thể lựa chọn cách khác, và không cần làm hại chính vợ ông ta - và gia đình nhà bà, cũng như những bạn hữu gần gũi và thân thiết - một cách chủ động và tích cực như vậy. Nhưng ông ta đã làm điều đó và ngay cả về sau này, khi bị phát hiện, cũng không hề cảm thấy cần phải sám hối.
Chỉ điểm đã từng được các lãnh đạo Xô-viết thời Stalin ở Liên Xô coi là một "bổn phận công dân", khi họ hô hào "mỗi người dân đều là một chiến sĩ an ninh", kỳ thực là những nhân viên mật vụ. Điều này cũng đúng với các nước Đông Âu thời kỳ 1945-1989, khi tất cả mọi công dân chỉ còn là một ốc vít trong cỗ máy vận hành.

Không phải ngẫu nhiên mà rất nhiều người ở các xứ Đông Âu thời hậu cộng sản, khi có cơ hội, đã không dám tìm hiểu những hồ sơ chỉ điểm được bạch hóa, sợ sẽ thấy trong đó những cái tên quen thuộc, hoặc là thành viên gia đình, bố mẹ con cái mình, hoặc bạn bè mình. Những biệt danh trong các hồ sơ mật vụ, nhiều khi vĩnh viễn sẽ không được biết đến.

Trường hợp của bà Tőkés Eszter, được sự hỗ trợ của thân nhân là ông Tőkés László, người hùng của cách mạng Rumani 1989, nay là dân biểu Nghị viện Châu Âu, nên đã được biết đến rộng rãi thông qua báo chí và phim ảnh. Tuy nhiên, người chồng Barta Tibor, hiện vẫn sống và làm việc trên cương vị một bác sĩ có tiếng tại Budapest, thì không hề phải chịu hậu quả gì.

Báo chí Hungary có đặt câu hỏi: đúng vào thời điểm bộ phim được công chiếu, ông Barta Tibor còn có một buổi hòa nhạc tại Vương cung thánh đường Budapest, nơi lẽ ra hàng ngày ông ta phải tới sám hối cho tội lỗi của mình. Tuy nhiên, ông ta đã không hề tỏ ra hối hận, và dùng giấy tờ giả để biện minh, chối bỏ và phủ nhận mọi hoạt động chỉ điểm của mình!

Tư pháp bất lực, dành chỗ cho phán xử đạo đức
Tại các quốc gia cựu cộng sản vùng Đông - Trung Âu, kể từ sau biến cố dân chủ 1989-1990, nhu cầu thiết lập công lý, trừng phạt những tội ác trong quá khứ, để kẻ gieo gió phải gặp bão - nói rộng ra là trong sạch và trực diện triệt để với quá khứ - luôn là ý nguyện của số đông cư dân từng là nạn nhân bị đàn áp, tù đày, hoặc bị theo dõi, chỉ điểm bởi các thể chế độc tài toàn trị.

Tuy nhiên, việc truy cứu trách nhiệm sau ngần ấy năm không đơn giản, khi rất nhiều nhân chứng không còn sống, những hồ sơ, tư liệu tiêu hủy và thiếu sót, sự buộc tội và chứng tỏ tội trạng rất khó khăn. Nhiều kẻ thủ ác - trong giai tầng lãnh đạo, hoặc đơn thuần là những kẻ thừa hành của bộ máy mật vụ - không hề bị trừng phạt, và có thể sinh sống và ra đi êm thấm.

Báo chí Đông Âu hay nhắc tới ba cái tên Csatáry László, Képíró Sándor và Biszku Béla, ba kẻ thủ ác trong thập niên 40 và 50 thế kỷ trước tại Hungary, cũng chỉ bị xem xét tội trạng trong những năm cuối đời. Hai người đầu, phải chịu trách nhiệm trong những cuộc thảm sát dân Do Thái trong Đệ nhị Thế chiến - rốt cục đều đã thoát tội, và qua đời trong chăn ấm đệm êm ở tuổi 97.

Chỉ có Biszku Béla, Bộ trưởng Nội vụ thời sau cách mạng 1956, kẻ được coi là “nắm đấm cứng nhất” của thể chế độc tài cộng sản ở Hungary, là bị kết án ở tuổi 83 sau mấy chục năm sống yên lành và sung túc tại một biệt thự khu “thượng lưu” ở Budapest, với mức lương bổng gấp bốn lần lương hưu của một người bình thường.

Không chỉ thế, tại Cộng hòa Slovakia, mới đây chính quyền địa phương còn đưa ra một quyết định hết sức bị phản đối nhằm vinh danh một nhân vật cộng sản cộm cán - ông Vasil Bilak, đã mất cách đây một năm ở tuổi 95 - bằng cách phong ông ta làm công dân danh dự và dựng bảng ghi danh tại làng nơi ông ta chào đời.

Giữ chức Bí thư Trung ương đảng trong vòng hai chục năm, ông Bilak từng là một yếu nhân của Đảng Cộng sản Tiệp Khắc, đồng thời là nhân vật quan trọng nhất trong số năm quan chức cao cấp đã ký vào bức thư “mời” Mátxcơva và quân đội khối Hiệp ước Vácxava vào đàn áp Mùa xuân Praha tại Tiệp Khắc năm 1968.

Những năm cuối đời, Vasii Bilak sống tại một biệt thự vào hàng sang trọng nhất ở thủ đô Bratislava. Hành vi "cõng rắn cắn gà nhà" của ông từng bị điều tra vì tội danh "bán nước", nhưng hồ sơ điều tra của vụ án - lên tới hơn 23 ngàn trang - đã bị khép lại năm 2011. Luôn chối tội, Bilak đã ra đi mà không hề phải đối diện với hành động của mình trước vành móng ngựa.

Tuy nhiên, một khi công lý đến bởi cơ quan tư pháp tạm bất lực, thì người dân đã có cách khác để bày tỏ sự phán xử đạo đức của họ. Những tấm biểu ngữ được giăng trước nhà những nghi can trên, hoặc trong phiên xử của họ, kêu gọi tội ác phải bị trừng phạt, kẻ sát nhân không thể ngủ yên, v.v... chính là bản án của người dân, của những nạn nhân dành cho kẻ thủ ác.

Đối với Barta Tibor, tuy không bị truy tố nhưng tờ nhật báo lớn nhất của Hungary "Tự do Nhân dân" (Népszabadság) đã có bài bình luận về ông ta với những lời phê phán rất nặng. Tác giả đặt câu hỏi, là một bác sĩ chỉnh hình, thường xuyên phẫu thuật cột sống, nhưng chính ông ta lại là kẻ không hề có xương sống khi chỉ điểm chính vợ mình, gia đình mình trong nhiều năm...

Như thế, khi nền tư pháp bất lực, công luận và người dân sẽ có sự phán xét đạo đức riêng của họ, cho những kẻ đáng bị trừng phạt, và đây là hình phạt cao nhất...


__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh

Thơ: Từ ngày bác vô đây...!!??



From: NGUYỄN VÂN TÙNG <
Date: Fri, Mar 13, 2015 at 12:43 PM
Subject: Thơ: Từ ngày bác vô đây ...???
To:




      Thơ: Từ ngày bác vô đây...!!?? 
image

image
Before you guys arrived in here
I was not even born yet
Mom walked to school each morning
Rosy cheeks, a sweet sixteen
image
After you came, suddenly one day
Grandpa was persecuted and imprisoned
Every night Grandma shed mournful tears
Mom felt sullen -- her innocence was lost

image

Two years passed from the day you came
On a wintry morning which shrouded in mist
Armed with guns, you came knocking at our door
And whisked Mom away to a labor camp

image
After one month, Mom returned home
Nothing but skin and bones
Embracing Grandma, she wept:
They raped me, Ma, gang-raped and all!

image
And so I was born, a fatherless child
Grandma passed away, leaving Mom penniless
Mom scraped a living to support me
Dad was all the while anybody's guess!

image
Eighteen years after you came
We went totally broke
Mom died of a terminal illness
Now then, what's left but my own body to trade?

image
Almost twenty years after you came
At sixteen, my body withered -- hardly a dish
I toiled from dawn to dusk
In return just for a loaf of bread!


__._,_.___

Posted by: =?UTF-8?B?TkdVWeG7hE4gVsOCTiBUw5lO

100 bịnh nhận chết may mắn 1 bịnh nhân sóng Có thể chưả dứt căn Ung Thư ?


        Trân Trọng Kính Chuyễn :
        Bản tin : Đột Phá Trong Việc Chữa Lành Bịnh Ung Thư Tại VN - Posted By DungDinh3575 .
        Kính Thưa Qúy Vị ;
       
 1 - Sự kết hợp giải phẩu  - Xạ trị và kết hợp " Hoá Trị " với liều thuốc  trị ung thư cực mạnh và phục hồi sinh lưc bịnh nhơn  bằng cách ghép tế bào nguyên thủy " có thể chữa lành bịnh ung thư " dù bịnh nhơn ở giai đoạn 4 : giai đoạn cuối " :
        Nếu : "   Bản tin này được xác định bởi các cơ quan truyền thông độc lập " - liệu pháp y khoa trị bịnh  này được các cơ quan y tế thế giới công nhận thì đây là bước tiến nhảy vọt của ngành y khoa Việt Nam !
        Trong tinh thần khoa học : thành kính ngưỡng phực và vinh danh những công trình y khoa phục vụ nhơn sinh này của TS Nguyễn Duy Thăng - Bịnh Viện Trung Ương Huế .
       2 - Những phương pháp trị bịnh ung thư " hiện nay " ... của nền y khoa " Thế Giới Tự Do " như các phương pháp " Phẩu thuật = mổ xẽ con bịnh , cắt bỏ ... khâu vá ...  " - " Xạ trị quang tuyến ( tiêu diệt tế bào ung thư ) "... có thể nói độ khoản 2-5 năm hiện tại ... thông thường không còn áp dung tại các bịnh viện ung thư ... Vì thế cần "  kiểm chứng ( Verification - Establishment of facts )" liệu pháp này , cùng tính "  chính xác của khoa học ( The exact sciences ) " .... và vì những chuyên viên " được đào tạo trong trường phái duy vật =  cộng sản ( Reared in the school of materialism ) ... : Rất khó tin tưởng ; Ví dụ như các vị  " đảng cử ... vào bưng " ...  như  bà BS Nguyễn Thị Xuyên ... BS Bùi đức Phú ... TS lương ngọc Khuê .. VV ...

                               Trân Trọng
                              Vương Thiên Vũ
             ( Lão Đưa Đò Trên Giòng Sông Biến Dịch )


 

To: bandoc
Date: Sun, 15 Mar 2015 20:24:21 -0700
Subject: [ChinhNghiaViet] Fw: Đột phá trong chữa ung thư tại VN?

 
Kết Hợp Giải Phẩu, Xạ Trị và Hoá Trị Liều Cao và Phục Hồi cơ thể Bằng Ghép Tế Bào Gốc Tự Thân Có thể chưả dứt căn Ung Thư ?

Kính chuyễn

ĐXD

Sent: Sunday, March 15, 2015 6:20 PM
Subject: Fw: Fwd: Đột phá trong chữa ung thư tại VN?


On Thursday, March 12, 2015 10:40 PM, Phan chi <> wrote:



Envoyé de mon iPad

Objet: Đột phá trong chữa ung thư tại VN?
BV Trung ương Huế:

Chữa khỏi đa ung thư giai đoạn cuối

​, ​hy vọng mới của ngành y nước nhà

Dân trí -  PGS.TS. Nguyễn Duy Thăng, PGĐ BV Trung ương Huế là bác sĩ đầu tiên tại Việt Nam chữa lui nhiều bệnh ung thư hoàn toàn bằng tế bào gốc. Đến nay đã có 4 bệnh nhân giai đoạn cuối lành bệnh và nhiều số phận “cận kề cái chết” khác sẽ được cứu sống.
  Điều trị thành công ung thư buồng trứng bằng tế bào gốc tạo máu tự thân

Ngày 25/6/2014, bệnh nhân Lê Thị Sau (52 tuổi, trú Thị xã Hương Thủy, tỉnh TT-Huế) được ra viện sau khi lành bệnh ung thư buồng trứng giai đoạn cuối. Chị Sau cũng là ca bệnh ung thư đầu tiên tại Việt Nam được ghép tế bào gốc thành công, mở ra một triển vọng cực kỳ khả quan cho việc điều trị ung thư dứt điểm.

Đến ngày 21/11, bệnh nhân thứ hai là Trần Thị Thu (48 tuổi, phường Kim Long, TP Huế) với bệnh tương tự chị Sau - được chữa lành, ra viện.
Vào ngày 22/1/2015, bệnh nhân Nguyễn Thị Vui (58 tuổi, huyện Phú Lộc, tỉnh TT-Huế) bị ung thư tủy xương được chữa khỏi bằng tế bào gốc.

Và gần Tết Ất Mùi, ngày 13/2, bệnh nhân Lê Thị Kiều Diễm (40 tuổi, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau) bị ung thư vú giai đoạn cuối di căn ung thư lên não, phổi, cột sống – chưa có tiền lệ sống sót từ trước đến nay đã hoàn toàn khỏe mạnh, được ra viện với phương pháp tương tự.

Đây là 4 trong 10 bệnh nhân trong đề tài cấp Nhà nước độc lập đầu tiên “Nghiên cứu sử dụng tế bào gốc tạo máu tự thân trong điều trị ung thư vú và ung thư buồng trứng” được Bộ KH&CN cho phép riêng BV Trung ương Huế triển khai 2013 - 2015 và PGS.TS. Nguyễn Duy Thăng làm chủ nhiệm đề tài.

Lần đầu tiên làm thành công - nhiều người không tin

“Mỗi năm tại Việt Nam có khoảng 22.000 người mắc ung thư - một con số khủng khiếp, giống như một đại dịch hay quả bom nguyên tử nổ chậm, không chỉ với nước ta mà còn cả trên thế giới. Thực tế khi bắt đầu làm chương trình quốc gia về sàng lọc ung thư từ năm 2000 tại bệnh viện, hàng ngày điều trị bệnh nhân, chứng kiến từng người cứ lần lượt ra đi mà không làm được gì, lòng tôi quặn lại, xót thương lắm.

Nếu ung thư di căn giai đoạn 2-3 trở đi thì việc điều trị truyền thống coi như đã nắm phần thất bại, không chỉ nước ta mà các nước tiên tiến cũng không điều trị được. Thất bại của chúng ta là không chữa được bệnh đến nơi đến chốn - nói cách khác là không điều trị tiệt căn tế bào ung thư. Bởi nếu diệt tế bào ung thư hết thì cơ thể chúng ta cũng chết trước luôn vì không chịu nổi hóa trị, xạ trị liều cao”, BS Thăng cho biết.

Phụ trách Trung tâm huyết học truyền máu tại BV Trung ương Huế từ 2007, nơi đã làm được ghép tủy, có hệ thống tách tế bào gốc, bảo quản tế bào gốc; thực tế đã cứu sống nhiều bệnh bị suy tủy bằng việc ghép tế bào gốc; bên cạnh đó, nhận thấy ung thư buồng trứng và ung thư vú là hai bệnh có tỷ lệ khá cao... nên BS Thăng nghĩ đến phải tiến hành chữa dứt điểm 2 bệnh ung thư này bằng tế bào gốc.
Sử dụng phương pháp truyền thống kết hợp với ý tưởng đột phá, BS Thăng đã cho ra quy trình điều trị như sau: Phẫu thuật lấy khối u khi đã làm nhỏ khối u bằng hóa trị. Bắt đầu sẽ hóa trị/ xạ trị hay kết hợp cả 2 để tiêu diệt các tế bào ung thư còn lại đang “lang thang” trong cơ thể người bệnh.

Tiếp theo, sẽ tách tế bào gốc tạo máu tự thân ngoại vi và xử lý tế bào gốc (dùng máy hiện đại tách những phần còn bị lẫn ở tế bào gốc), rồi bảo quản tế bào gốc ở nhiệt độ -196 độ C, khi ổn định rồi sẽ đưa vào ghép cho người bệnh. Sau đó tiếp tục hóa trị liều cao và điều trị nhắm đích, thậm chí có thể xạ phẫu nếu trường hợp nặng.
Vì là ca đầu tiên nên xác định không được thất bại nên tất cả ý chí được dồn hết cho người bệnh. BS Thăng vẫn nhớ khi biết bệnh nhân đầu tiên khỏi bệnh nhờ điều trị bằng tế bào gốc, có nhiều người trong ngành y vẫn chưa tin. 

Chỉ đến khi công bố trong ngày ra viện của chị thì mới hoàn toàn thuyết phục tất cả.

BS Thăng và bệnh nhân đầu tiên chữa lành ung thư giai đoạn cuối bằng tế bào gốc - chị Lê Thị Sau

BS Thăng và bệnh nhân đầu tiên chữa lành ung thư giai đoạn cuối bằng tế bào gốc - chị Lê Thị Sau (ảnh: Ngọc Văn - Báo Tiền Phong)
BS Thăng và bệnh nhân đầu tiên chữa lành ung thư giai đoạn cuối bằng tế bào gốc - chị Lê Thị Sau

GS.TS. Bùi Đức Phú, GĐ BV Trung ương Huế tặng hoa chúc mừng chị Trần Thị Thu, bệnh nhân thứ hai ra viện và BS Thăng

“Mở đường máu” tiêu diệt ung thư di căn lên não
Trong số 4 bệnh nhân, chị Kiều Diễm là bị nặng nhất: ung thư vú giai đoạn cuối đã di căn lên não, phổi, cột sống. Vào tháng 9/2014, khi bệnh nhân chuyển ra BV Trung ương Huế, các bác sĩ không có thông tin nhiều về bệnh tình của chị vì các BV điều trị trước đó “giam” nhiều kết quả xét nghiệm. BV Trung ương Huế phải tiến hành làm lại, chụp CT, rà soát chụp cộng hưởng từ (MRI), xét nghiệm về thông số huyết học, chụp xạ hình xương… và khi cầm trên tay kết quả thì BS Thăng đã không tin những gì mình thấy.

“Bệnh nhân ung thư vú giai đoạn 4, bị u đa ổ di căn phổi khi đã di căn ở 2 đỉnh phổi, di căn ở chạc ba khí quản, di căn xương cột sống đốt D3, D5. Đặc biệt khối ung thư đã di căn lên não. Tôi nói với các anh em là ‘thôi rồi’ vì chỉ khoảng 3-4 tháng sau nữa là sẽ suy hô hấp, tử vong. Hội chẩn cùng các ekip liên quan, 10 người đều chung 10 ý là không làm được. Biên bản cũng xác nhận là không làm.

Tuy nhiên vì gia đình chị Diễm quyết tâm lắm, họ nói nếu ra đi ở Cố đô thì còn hơn ra đi ở Tây đô và người em của chị Diễm đang là nhà báo tại Đài PT-TH Cần Thơ nên hiểu được chị mình đang đứng trước cơ hội có thể được chữa khỏi nếu làm những gì mà trước đây các bệnh nhân khác chưa làm. Tôi lại một lần nữa đưa ra hội đồng, vận động và thống nhất quan điểm ‘bệnh nhân đến với mình thì bất luận thế nào cũng phải điều trị hết mình”, BS Thăng kể lại.
BS Thăng và bệnh nhân đầu tiên chữa lành ung thư giai đoạn cuối bằng tế bào gốc - chị Lê Thị Sau

BS Thăng kể lại câu chuyện đấu tranh tìm ra sự sống cho bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối (ảnh: Thành Nhân)

Và thế là các bác sĩ quyết định tấn công vào vùng não vốn được xem là “bất khả xâm phạm” vì từ trước đến nay thuốc không thể vào võ não. BS Thăng đã phải cho sử dụng xạ phẫu, cách làm mạnh nhất nhưng nguy hiểm nhất để phá vỏ bọc khối u. Khi phá được “phòng tuyến” này, BS đã mừng rỡ đến độ không tả nổi, ví như việc đánh trận “mở đường máu” giữa hàng vạn kẻ địch để thoát chết, vì phương pháp này có thể làm bệnh nhân tử vong.

Sau đó, công việc đã nhẹ nhàng hơn nhưng không kém phần phức tạp với độ tính toán trước các bước một cách chuẩn nhất là dùng hóa trị liều cao - điều trị đích - xạ toàn não. Việc đưa thuốc vào phải tiến hành ngay vì còn nhiều ổ nhỏ ung thư rải rác trong não, nếu thuốc vào lâu thì việc chữa khỏi sẽ kém. Và cuối cùng là điều trị tiếp liều cao kèm điều trị đích thêm một lần nữa.

Khi sạch hết tế bào ung thư trong não thì tiếp tục tấn công các khối ung thư ở vú và những vùng khác. Nhưng thực tế toàn bộ tế bào ung thư bị diệt thì cơ thể bị rơi vào trạng thái suy tủy không hồi phục, người bệnh sẽ mau chóng tử vong. Tuy nhiên, “nhân tố vàng” là tế bào gốc tạo máu tự thân đã được lấy trước đó từ người chị Diễm và bảo quản tốt ngay lập tức được đưa vào đã làm cho cơ thể “tái sinh”. Một hệ thống tạo máu mới sạch, khỏe đã làm cho toàn bộ các cơ quan được phát triển như ban đầu lại: khỏe mạnh và không còn bóng “quân thù ung thư”.

BS Thăng và bệnh nhân đầu tiên chữa lành ung thư giai đoạn cuối bằng tế bào gốc - chị Lê Thị Sau

Bệnh nhân Kiều Diễm (cầm hoa) bị đa ung thư (vú, não, phổi, xương sống) vỡ òa niềm vui ngày ra viện vào đầu năm 2015

Tiến hành tiêu diệt tế bào ung thư từ cuối tháng 10/2014, đến cuối tháng 1/2015 thì ghép tế bào gốc. Gần 1 tháng sau vào ngày 13/2, bệnh nhân đã ra viện. Việc điều trị được ví như một phương pháp “cải lão hoàn đồng”, nhưng đây là “cải lão” cho một người bệnh đã hết đường cứu chữa chỉ chờ chết.

Có thể xem đây là người bệnh bị đa ung thư nặng nhất tại Việt Nam được cứu sống. Quan trọng hơn hết, đây là việc không tưởng mà như lời BS Thăng tâm sự, chính sự thành công đã mở ra một tinh thần mới cho các y bác sĩ khi tự tin làm những ca bệnh khó nhất một cách không sợ hãi.

Mở ra 1 hướng mới trong điều trị ung thư dứt điểm
Ngồi với chúng tôi tại phòng làm việc buổi cuối chiều 26/2, khi những giờ phút ngày cũ sắp hết và Ngày Thầy thuốc Việt Nam đang đến gần, BS Thăng tâm huyết chia sẻ: “Chính việc dùng tế bào gốc thành công đã mở ra trong tôi và các đồng nghiệp một hướng mới trong điều trị ung thư. Không chỉ ung thư buồng trứng và ung thư vú mà các bệnh ung thư khác cũng sẽ được chữa lui hoàn toàn. Tôi nghĩ sẽ xây dựng 1 phương pháp điều trị ung thư mới, chữa cho nhiều người bệnh cả trong và ngoài nước”.

Được biết, đề tài mà BS Thăng phụ trách chỉ chữa cho 10 người bệnh, nhưng BS tự tin cho biết sẽ làm được con số nhiều hơn thế. Chi phí chữa cho bệnh nhân cũng không lớn lắm vì đã có nguồn kinh phí từ đề tài lo những khoản ngoài bảo hiểm y tế. Tuy nhiên để điều trị được thành công, phải có sự phối hợp nhịp nhàng, chặt chẽ, khoa học giữa các chuyên khoa, y bác sĩ y tế trên cơ sở khoa học và kinh nghiệm chứ không phải công trạng của riêng ai.

BS Thăng và bệnh nhân đầu tiên chữa lành ung thư giai đoạn cuối bằng tế bào gốc - chị Lê Thị Sau

PGS.TS. Nguyễn Thị Xuyên, Thứ trưởng Bộ Y tế (thứ 3 từ trái qua), PGS.TS. Lương Ngọc Khuê, Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh, Bộ Y tế (thứ 3 từ phải qua) cùng ekip y bác sĩ chữa ung thư bằng tế bào gốc của BV Trung ương Huế chúc mừng bệnh nhân Kiều Diễm khỏi bệnh

“Một việc rất cốt yếu của bản chất là tinh thần, sự tin tưởng của bệnh nhân và người nhà. Phía gia đình phải lạc quan, tin tưởng thầy thuốc. Ngược lại, người BS phải giải thích cho bệnh nhân biết tất cả những gì họ đang và sẽ gặp phải khi điều trị chứ không được giấu thông tin. Đây là một quan niệm mới khi BS không phải là người ban phát.

Riêng bảo hiểm y tế, chúng tôi nghĩ các bệnh viện và riêng cá nhân cán bộ y phụ trách sổ bảo hiểm của bệnh nhân cần tạo điều kiện chuyển sổ đến nơi mà người bệnh cần điều trị. Vì đã không ít trường hợp, bệnh nhân bị “giữ” sổ bảo hiểm ở nơi điều trị trước đó vì lý do cá nhân. Nếu mình đặt vào vị trí người nhà mình bị vậy thì sao? Sẽ rất đau khổ và làm chậm tiến trình điều trị khi bệnh đã nguy cấp”, BS Thăng có ý kiến.

Từ lúc điều trị cho bệnh nhân đầu tiên đến nay đã 2 năm tròn và tóc của BS Thăng đã bạc đi rất nhiều. BS cho biết đã dồn hết tâm sức vào công việc để có được kết quả. Vì cuộc đời ai cũng có những điểm nhấn và điểm nhấn của cá nhân BS là sẽ làm sao cho bệnh nhân ung thư được chữa khỏi hoàn toàn, để không còn nỗi quặn thắt trong lòng người BS khi thấy người bệnh của mình cứ lần lượt ra đi dưới lưỡi hái thần chết. Vì rằng cuộc đời này vẫn còn có quá nhiều điều tươi đẹp cho bệnh nhân khi họ được cứu sống.

BS Thăng trực tiếp khám bệnh ung thư giai đoạn cuối trong phòng cách ly

BS Thăng trực tiếp khám bệnh ung thư giai đoạn cuối trong phòng cách ly
BS Thăng trực tiếp khám bệnh ung thư giai đoạn cuối trong phòng cách ly

BS Thăng vẫn đang theo dõi tiếp tục những người bệnh điều trị cách ly trong phòng đặc biệt từ hệ thống máy tính. Hiện còn nhiều bệnh nhân đang được điều trị tại BV Trung ương Huế và tin tưởng sẽ được cứu sống hoàn toàn (ảnh: Thành Nhân)

Công trình của BS Thăng mới đây đã được vinh dự bầu chọn là 1 trong 10 sự kiện Khoa học & Công nghê tiêu biểu năm 2014 do CLB nhà báo Khoa học và Công nghệ. Các sự kiện này được các nhà báo theo dõi lĩnh vực khoa học công nghệ bình chọn theo 6 lĩnh vực: cơ chế chính sách, khoa học xã hội và nhân văn, nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, hợp tác quốc tế và tôn vinh các nhà khoa học. “Thành công của đề tài mở ra phương pháp mới trong điều trị ung thư ở Việt Nam nói chung và ung thư vú, ung thư buồng trứng nói riêng”, nhận xét từ BTC.

Một ngày 27/2 nữa lại tới, trong tâm khảm những người làm báo như chúng tôi thấy như một phép màu trong lĩnh vực y tế. Rồi đây, sẽ có thêm nhiều người bệnh ung thư giai đoạn cuối được cứu sống. Xin cảm ơn những thầy thuốc đã làm nên sự sống cho người bệnh, đặc biệt trong ung thư - căn bệnh thế kỷ. “Nhiệm vụ bất khả thi” của các y bác sĩ tại BV Trung ương Huế nói chung và BS Thăng nói riêng làm được thật đáng khâm phục, khi chỉ vài năm trước đây thôi chúng ta chưa thể nghĩ tới. Chính điều này đã đem lại niềm tin bất diệt vào ngành y, cho xã hội một niềm tôn kính lớn lao khi nhiệm vụ cứu người là tôn chỉ của ngành nghề được xem là cao quý nhất.


Bài thơ xúc động của bệnh nhân Kiều Diễm đọc và gửi tặng cho BS Thăng cùng các bác sĩ BV Trung ương Huế, Khoa Huyết học lâm sàng, Trung tâm Ung bướu trong ngày ra viện 13/2/2015:
Bài thơ bệnh nhân Kiều Diễm tặng riêng cho các điều dưỡng ở Khoa Huyết học lâm


Bài thơ bệnh nhân Kiều Diễm tặng riêng cho các điều dưỡng ở Khoa Huyết học lâm
sàng:
Bài thơ bệnh nhân Kiều Diễm tặng riêng cho các điều dưỡng ở Khoa Huyết học lâm
                                                         Đại Dương





__._,_.___

Posted by: Tuan Hoang 

Popular Posts

Popular Posts