Đại Học chăn Trâu




Wednesday, 13 January 2016

Có nên Merci LM Alexandre De Rhodes khi viết chữ Quốc Ngữ ?


    trích tg .. "Các nhà truyền giáo Dao Chua Âu Châu phát minh ra tiếng Việt lúc đầu chi?  nhắm truyền giáo trong xóm làng nghèo VN , hoặc giảng dạy trong các nhà thờ CG mà thôi ."

Dĩ nhiên là nên lịch sự nói lên tiếng Merci,Cảm ơn đối với GM Alexandre de Rhodes như ngay cả chính quyền chưa chính danh chính nghĩa cũng đã thể hiện qua việc giữ lại tên của cố đạo cho một con đường đep tại sài gòn,trước mặt Bộ ngoại Giao VNCH cũ,bên hông công viên lớn tại trung tậm nguyên Thủ đô VNCH

 Thế nhưng,người thức giả nên luôn cố gắng đặt vai trò trung thực,không thêm không bớt của GM Alexandre de Rhodes trong thời điểm ngài sang truyền giáo ở VN cho GH Thiên chúa Giáo La Mã : Ngài hành sự vì quyền lợi của GH La mã và đã đóng góp ý nghĩa vào sự hình thành chử viết (chứ không phải tiếng quốc ngữ đâu nhé;nên nghĩ kỷ) vì thât sự các nhà truyền giáo thời bấy giờ,ỡ Việt nam,ở Nhật cũng như ở Trung Hoa...đều muốn dịch kinh Thánh Thiên chúa ra tiếng bình dân,bằng mẫu tự la mã theo phát âm.

 Ở nước ta, lịch sử sau đó là thực dân Pháp đã xâm chiếm nuớc ta và hợp tác và chia chác với GH Thiên Chúa  với ý đồ để đô hộ nước ta lâu dài,và nếu có thể mãi mãi. Đại Pháp thực dân vì muốn dứt khoát tách rời xứ Annam ta ra khỏi vùng ảnh hưởng của Trung Hoa và chử Hán cho nên đã chủ trương phát triển chử viết theo mậu tự La mã theo phát âm,bõ hẳn chử Hán (nho) và Nôm (Hán việt hoá) sau đệ Nhất Thế chiến.

Kết quả là ngày nay chúng ta có được lối viết tiện lợi mặc dủ đồng thời cũng để mất hết kho tàng tài liệu và văn học tiếng Hán và Nôm của tỏ tiên từ xưa, tuởng nên bảo tồn và phát huy trong đại chúng. 
Lối viết ngày nay tiện và lợi,chúng ta Merci Monseigneur Alexandre de Rhodes là vừa lịch sự vừ tỏ ra lịch lãm; nhưng không có nghĩa là tất cả những gì các nhà truyền giáo làm ngày xưa và ngay cả hiện tại đều "tót dẹp mọi đường " và vị tha thánh thiện mọi đường cả !

Đó là sự thật và là tất cả sự thật mà người thức giả tử tế có kiến thức cần ghi nhớ.

Riêng vai trò của người thiên chúa giáo hiện nay và từ xưa thì nên cẫn trọng để cho một ban chuyên gia lịch sử được đào tạo bài bản nghiên cứu nghiêm túc bình luận xem sao.
Chớ nên,tự mình xưng công và phong tước,kết quả thường ngược lại mong muốn.
Kính thư.

GS NGUYỄN Thái Sơn. 


2016-01-12 13:08 GMT+01:00 vneagle_1 [DienDanCongLuan] <>:
 

From: huong le <
Sent: Monday, January 11, 2016 2:41 PM
Subject: Có nên Merci LM Alexandre De Rhodes khi viết chữ Quốc Ngữ ?

Có nên Merci LM Alexandre De Rhodes khi viết chữ Quốc Ngữ ?

Mới đây một nhóm người Việt đi tìm mộ Cha Alexandre De Rhodes . Ngài chết ở Iraq .
Có thể do bị truy lùng bắt đạo gắt gao VN , nên LM Al. De Rhodes phải qua truyền giáo ở Iraq . Ngày nay Iraq đã cố gắng nhưng cũng chưa có mẫu tự La Tinh abc như tiếng Việt chúng ta.
   Các nhà truyền giáo Dao Chua Âu Châu phát minh ra tiếng Việt lúc đầu chi?  nhắm truyền giáo trong xóm làng nghèo VN , hoặc giảng dạy trong các nhà thờ CG mà thôi .

 Hơn  hai  thế  kỷ sau ,  các nhà ngôn ngữ VN mới thấy mẫu tự La tinh hay hơn nên tìm cách loại bỏ tiếng Hán của người Tàu và thay cách viết tiếng Nôm bằng chữ quốc ngữ như ta thấy ngày nay . Tờ báo đầu tiên dùng chữ quốc ngữ La Tinh abc là tờ Gia  Đi.nh Báo  phát hành năm 1860. 
Người Công giáo VN cám ơn nhiều hơn vì có chữ quốc ngữ liên tục từ  thế kỷ  17 .
Hơn nữa các nhà truyền giáo Âu Châu đã chịu hy sinh rất nhiều vì phải bỏ đời sống an lành sung sướng ở quê nhà , phiêu lưu nguy hiểm vào các xóm nghèo VN . 

Rất nhiều nhà truyên giao Âu Châu nhu Hoà Lan , Y , Tây Ban Nha ,  Phap , Bô Dào Nha ...  đã bị các vua chúa VN giết chết .

From:       "  vneagle_1
Sent: Wednesday, July 29, 2015 4:14 AM
 
 Ba cống hiến quan trọng của Công giáo

http://baomai.blogspot.com/


Tôi là người ngoài Công giáo, nhưng rất tôn trọng các tín ngưỡng.
Những xung đột giữa cộng đồng Công giáo với nhà cầm quyền trong thời gian qua là điều không đáng có. Hơn thế, sau những xung đột đó, một số cán bộ có chức sắc đã có những đánh giá thiếu khách quan về vai trò của giáo dân với đất nước. Điều này không có ích cho khối đại đoàn kết dân tộc.
Để tạo được sự đồng thuận, không có cách nào khác là phải có cái nhìn khách quan về vai trò của các tôn giáo. Xin được điểm qua một vài cống hiến của bà con giáo dân với sự nghiệp chấn hưng nước nhà mà tôi có dịp chứng kiến suy ngẫm.

1-  Chữ quốc ngữ và nền văn minh của nhân loại
image


CHỮ QUỐC NGỮ LÀ NIỀM HÃNH DIỆN CỦA NGƯỜI CÔNG GIÁO
Trước khi các nhà truyền giáo vào Việt Nam , hàng ngàn năm qua, người Việt vẫn dùng chữ Hán hoặc bằng chữ Nôm trong các giao dịch. Nhưng đa số người Việt Nam mù chữ và không thể đọc và viết được chữ Tàu, vì hệ thống chữ viết này quá phức tạp.

Từ thế kỷ XVI, cùng với các phát kiến hàng hải, các nhà truyền giáo theo các tàu buôn đến Việt Nam , họ là người tiên phong trong việc dùng mẫu tự La-tinh để viết lại âm giọng mà họ nghe được từ tiếng Việt. Đầu năm 1625, Linh Mục Alexandre de Rhodes đến Việt Nam , đã có một số phát âm tiếng Việt được viết bằng chữ La-tinh rồi.
image
Trên cơ sở đó, Alexandre de Rhodes (1591- 1660) tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện cách diễn đạt này, để rồi năm 1651, lần đầu tiên ông cho xuất bản cuốn tự điển VIỆT-BỒ-LA tại Roma. Đây được coi là năm sinh chính thức của chữ Quốc Ngữ. Cuộc khai sinh diễn ra tại nhà in Vatican . Chính nơi nhà in Vatican mà Việt Nam nhận được chữ viết của mình. Như vậy, chữ quốc ngữ từ chỗ là công cụ truyền giáo trong các nhà thờ, đã từng bước trở thành ngôn ngữ cho toàn dân Việt Nam .

Ngày nay, không ai có phủ nhận sự thuận tiện và văn minh của chữ Quốc ngữ, chính nó đã góp phần lớn đưa đất nước VN hội nhập với thế giới dễ dàng, đơn giản hơn nhiều ngôn ngữ khác. Những ngôn ngữ chính dùng trên thế giới như Tiếng Anh, Tiếng Pháp… sẽ trở nên ít phức tạp hơn cho người học biết chữ quốc ngữ, so với người dùng chữ Hán hoặc chữ Nôm. Nhưng nguồn gốc và công lao của người sinh ra ít được người ta nhắc đến, đó là sự thiếu công bằng.

image 
Cùng với sự xuất hiện chữ quốc ngữ, những nét văn minh phương Tây cũng dần dần được du nhập vào VN đi kèm với Công giáo. Những hủ tục mê tín, dị đoan như cúng tế, bói toán… khi có bệnh được thay vào đó là bệnh viện, nhà thương bố thí, trường học cho người nghèo… Trước đây, nơi nào có Nhà thờ, thì ở đó có thêm trường học, nhà thương cho những người không có khả năng chữa bệnh hoặc học hành.

Ngoài ra, nếp sống quan niệm về cuộc sống cũng dần dần được đưa vào một cách khoa học, thiết thực hơn bởi các sản phẩm văn minh phương Tây mà những người truyền giáo mang đến cho đất nước An Nam theo bước chân truyền đạo của họ.

Nền văn hóa làng xã, cục bộ địa phương “sau lũy tre làng” cũng dần dần được thay đổi với cách nhìn toàn diện và tổng thể hơn. Với người Công giáo, bất cứ chỗ nào có giáo dân cũng là anh em, với mọi người đều là con Thiên Chúa dù khác đạo. Điều này dễ chứng minh nếu nhìn thấy bà con công giáo khắp nơi đã đổ về Thái Hà, về Xã Đoài… khi có những biến cố mà về mặt xã hội thì không liên quan đến những người ở xa xôi.

image
Những hoạt động của các Dòng tu trong Công giáo như Dòng Chúa Cứu Thế với linh hướng phục vụ người nghèo, Dòng Phanxicô theo linh hướng “Sống với tinh thần nghèo khó”… đã có những tác dụng thiết thực xoa dịu nỗi đau của những người nghèo khổ trong xã hội. Nhìn những cộng đồng tu hành phục vụ tại các trung tâm điều dưỡng, điều trị cho bệnh nhân AIDS, phục vụ những người đang vướng vào tệ nạn xã hội, nuôi dưỡng trẻ mồ côi… đã thể hiện rõ điều này và được xã hội công nhận.

2-  Duy trì nền kinh tế nhiều thành phần

image
Thời bao cấp, do quan niệm thời kỳ quá độ tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội là nền kinh tế chỉ có hai thành phần chính là Kinh tế tập thể và Kinh tế quốc doanh. Mọi thành phần khác đều không được khuyến khích và chính thức thừa nhận.

Ruộng đất, các tư liệu sản xuất quan trọng khác và cả các loại hình dịch vụ đều phải tập trung vào hợp tác xã. Nhưng phong trào Hợp tác hóa nông nghiệp đã dần dần thể hiện rõ những bất cập của nó và sớm chết yểu bởi nó đi ngược với quy luật kinh tế và cách nghĩ truyền thống của nông dân Việt Nam .  Chính vì thế có thể nói đó là một mô hình công xã ảo tưởng, nó đã tiêu diệt nền kinh tế nông nghiệp VN từ chỗ thừa gạo xuất khẩu đến một giai đoạn từ Trung ương đến địa phương, từ quan chức đến mỗi người dân đều chỉ lo… cái đói.

image
Giám mục Đinh Đức Trụ
Tuy nhiên, nhiều nơi, đặc biệt là các vùng Công giáo vẫn có những gia đình, thậm chí là có những cơ sở không gia nhập Hợp tác xã nông nghiệp dù bị nhiều áp lực xã hội. Chẳng hạn theo tôi được biết, ở Thái Bình, Giám mục Đinh Đức Trụ là người đã công khai khuyến khích giáo dân không nên vào Hợp tác xã vì nó chỉ là ảo tưởng. Vì vậy bà con giáo dân vẫn kiên trì mô hình kinh tế hộ, và sau này vào thời kỳ đổi mới, đường lối đó được thực tế chứng minh là đúng đắn. Cả đất nước sau mấy chục năm Hợp tác hóa đã chấp nhận trở lại kinh tế cá thể.

Những hộ kinh tế cá thể không tham gia Hợp tác xã nông nghiệp, tự họ có thể nuôi sống mình mà không cần trợ giúp của nhà nước. Hơn thế, họ còn có nông sản dư thừa cung cấp cho thị trường đã là minh chứng sống cho việc khẳng định đường lối Hợp tác xã nông nghiệp là sai lầm. Điều này giúp cho các nhà hoạch định chính sách mạnh dạn khẳng định chủ trương chấp nhận nền kinh tế nhiều thành phần.
image
Thời kinh tế tập trung, mọi thứ hàng hóa đều do nhà nước quản lý và đều chịu sự phân phối từ trung ương xuống địa phương. Trong khi nhu cầu là sự đa dạng mà nhà nước thì không thể quán xuyến hết nên trong một thời gian thực thi chính sách này, nền kinh tế dần dần đi vào ngõ cụt, đời sống đói kém, hàng hóa khan hiếm nghiêm trọng. Thế nên dân gian mới có câu: “Cái cứt gì cũng phân mà phân thì… như cứt”.

Khi sự đói kém bao phủ toàn xã hội thì ở những làng công giáo, đời sống đỡ tệ hơn nhiều. Làng Vĩnh Hòa thuộc xã Hợp Thành, quê tôi là một làng như vậy. Vào thời điểm đó, trong cộng đồng bà con công giáo, nền kinh tế gia đình vẫn âm thầm phát triển, đặc biệt là các nghề truyền thống. Do bị phân biệt đối xử nên cộng đồng bà con công giáo vẫn ngầm “móc ngoặc” nhau sản xuất hàng hóa và tiêu thụ trong cộng đồng rồi tuồn ra bên ngoài. Sau này tìm hiểu được biết thêm, không chỉ ở làng Vĩnh Hòa quê tôi mà cả các khu vực khác đông đồng bào Công giáo như Phát Diệm, Bùi chu… các ngành nghề phụ vẫn âm ỉ hoạt động và cung ứng hàng hóa cho xã hội.
image
Nhờ sự linh hoạt đó, nên khu vực kinh tế tư nhân mà nhà cầm quyền quyết tâm tiêu diệt đã không chết. Đặc biệt là trong cộng đồng Công giáo. Để rồi, khi dỡ bỏ chính sách cấm đoán đó, thành phần kinh tế này được dịp trỗi dậy, làm sinh động của nền kinh tế.

Hiện tượng này vẫn được đảng ta gọi là: “Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo”

3-  Tiên phong hội nhập

So với các tôn giáo khác, Công giáo là cộng đồng dân cư đa sắc tộc, đa quốc nhất. Trải dài từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam , hơn 175 nước và vùng lãnh thổ có bà con Công giáo sinh sống, nhưng tập trung một tỷ lệ lớn nhất ở các nước phương Tây. Chính vì sợi dây liên lạc này, nên ngay cả khi cấm đoán đang ở vào thời điểm cao trào thì cộng đồng Công giáo vẫn duy trì liên lạc với các tín hữu của mình ở ngoài biên giới quốc gia.

http://baomai.blogspot.com/
Những công trình Công giáo nguy nga, rộng lớn dành cho việc thờ tự đã là một nét văn hóa không thể tách rời từ lâu của nền văn hóa Việt Nam . Việc xây dựng các công trình đó đã đem đến cho Việt Nam những quan niệm ban đầu về một lĩnh vực mới về kiến trúc và xây dựng hiện đại… thoát ra khỏi những quan niệm xây dựng tranh tre lá nứa hoặc vôi cát từ lâu đã in sâu đậm trong quan niệm người Việt.

Cùng với đó, những nhà truyền giáo ngoại quốc vào Việt Nam khiến nhu cầu học tập ngôn ngữ nước ngoài cũng đã dần dần xuất hiện và cổ vũ cho sự tìm hiểu thể giới bên ngoài bắt đầu từ những cá nhân trong chính Công giáo như Nguyễn Trường Tộ…

image

Nguyễn Trường Tộ – một người Công giáo hết lòng vì đất nước – sinh năm 1830 tại làng Bùi Chu
Việc sinh hoạt cộng đồng đã từng bước thay đổi cách sinh hoạt truyền thống của người Việt. Cùng kiến trúc là âm nhạc, hội họa là những môn nghệ thuật mới tạo ra sự khác biệt trong sinh hoạt văn hóa truyền thống của người Việt xưa. Thông qua những sinh hoạt như vậy, người Việt Nam vượt qua được chính những định kiến, những tư tưởng cục bộ địa phương… đó được coi là những mầm mống đầu tiên cho sự hội nhập của đất nước sau này.
image
Cũng cần nói thêm, cuộc di cư vĩ đại từ Bắc vào Nam năm 1954 hầu hết là bà con Công giáo. Sau năm 75, là cuộc di tản vĩ đại sang các nước không cộng sản, trong đó chiếm tỷ trọng lớn là bà con Công giáo. Một tỷ lệ lớn người Việt ở Mỹ là bà con Công giáo. Họ là người có điều kiện tiếp cận với thể chế văn minh, dân chủ phát triển ở trình độ cao.

Khi nhà nước Việt Nam mở cửa, họ là những người đầu tiên về nước hoặc là gửi ngoại tệ về giúp thân nhân ở trong nước. Cùng với đó là hàng hóa, dịch vụ... Điều này giúp cho Việt Nam giảm căng thẳng về sự khan hiếm kéo dài trong những năm bao cấp. Hơn thế là cách thức tổ chức làm ăn, cách thức tổ chức đời sống và ý thức chấp hành pháp luật của một xã hội pháp quyền.

image
Có thể nói, cộng đồng công giáo là những người tiên phong hội nhập.

Trên đây là những cảm nhận được của riêng tôi, có thể các bạn có những phát hiện khác, xin mời có ý kiến tham gia!  

Phan Thế Hải
image
       




__._,_.___

Posted by: Thaison Nguyen 

"PUT SOME PORK ON YOUR FORK/....thêm một nhà lãnh đạo xử thế rất hay"


 
From: "tapchidatme
 Sent: Sunday, January 10, 2016 7:40 PM
Subject: Re: Hãy chuyển bài này đi khắp thế giới

 

Tôi hoàn toàn đồng ý với Thị trưởng Dorval. Tôi cũng mong tất cả các vị lãnh đạo lớn nhỏ của nước Mỹ cũng có quyết định rõ ràng dứt khoát như bà thị trưởng. Làm kiểu xìu xìu ĩnh ĩnh như một số nhà lập pháp Mỹ muốn kiếm phiếu cho cá nhân mình, họ sẽ làm tới.

HS

From: Frank Nguyen <
To: Frank Nguyen <
Sent: Sun, Jan 10, 2016 6:31 pm
Subject: Hãy chuyển bài này đi khắp thế giới

"PUT SOME PORK ON YOUR FORK/
thêm một nhà lãnh đạo xử thế  rất hay"

Vị thị trưởng từ chối nguyện vọng của người Hồi Giáo là bỏ món thịt heo ra ngoài thực đơn của các trường công lập và giải thích như sau:

 Các cha mẹ gốc đạo Hồi Giáo đòi bỏ món thịt heo trong thực đơn của các trường học trong vùng thành phố MONTREAL thuộc tỉnh bang Quebec. Vị thị trưởng của vùng phụ cận DORVAL trong thành phố Montreal đã từ chối nguyện vọng đó và giải thích tại sao:

"* Tất cả người Hồi Giáo phải hiểu rằng họ phải sát nhập vào phong tục tập quán, nếp sống và truyền thống của Canada và nhất là tại tỉnh bang Quebec khi họ chọn lựa di cư đến nước của chúng tôi. 
* Họ phải hiểu rằng họ phải sát nhập vào nếp sống tại Quebec. Họ phải hiểu rõ là chính họ phải thay đổi nếp sống cũ chứ không phải đòi hỏi người Canda phải thay đổi theo họ, vì người Canada đã mở rộng vòng tay đón họ. 
* Người Hồi Giáo phải hiểu rằng người Canda không có phân biệt chủng tộc và bài ngoại. Nước Canada đã chấp nhận cho nhiều người đến định cư trước khi người Hồi Giáo đến. 

* Cũng như nhiều quốc gia khác, Canada không muốn mất đi bản sắc và văn hoá của mình. Và nếu Canada giang tay chào đón bạn không phải là mình thị trưởng của Dorval mà chính là toàn dân Canada.
* Và sau cùng người Hồi Giáo phải hiểu rằng Canada có nguồn gốc là Thiên Chúa Giáo với cây thông Giáng Sinh, nhà thờ và tập tục lễ lậy và tôn giáo phải được diễn ra trong khuôn viên riêng. 

Hội Đồng thành phố DORVAL đã hành động đúng khi từ chối những nguyện vọng của người Hồi Giáo và đạo Sharia của họ. 
** Đối với những người Hồi Giáo mà không đồng ý cùng với bản chất duy vật chủ nghĩa và không cảm thấy thoải mái sinh sống ở Canada, thì trên thế giới còn có 57 quốc gia Hồi Giáo xinh đẹp khác mà đa số rất ít dân cư và đang sẵn sàng đón tiếp các bạn theo luật Sharia . 

Trước đây nếu các bạn đã rời bỏ quốc gia của các bạn mà chọn Canada mà không chọn các nước Hồi Giáo khác thì chắc chắn là các bạn đã so sánh và nhận thấy đời sống tại xứ Canada này tốt hơn nơi khác. 

Chúng tôi không muốn bị các bạn kéo nước Canada xuống ngang bằng 57 quốc gia Hồi Giáo kia. Các bạn hãy tự đặt cho mình một câu hỏi: 
"Tại sao đời sống Canada tốt hơn đời sống nơi bạn ở trước đây?"
"Một miếng thịt heo trong thực đơn tại các trường học" là một phần của câu trả lời này.. 

Nếu bạn đến định cư tại Canada với ý định dùng nhiều kiểu tuyên truyền để đảo chính thể chế Canada thì xin bạn hãy dọn quần áo rời bỏ Canada về lại nơi xứ sở cũ.

Ở đây không có chỗ cho tư tưởng Hồi Giáo và đạo Sharia. Nếu bạn đồng ý với bức thư này thì xin chuyển tiếp, nếu bạn không đồng ý thì xin dọn hành lý đi trở về quê cũ." 





__._,_.___

Posted by: Yen Tran 

Tuesday, 12 January 2016

Hội Giáo Chức Chu Văn An: Từ một biểu tượng của giáo dục VN

 

Hội Giáo Chức Chu Văn An: Từ một biểu tượng của giáo dục VN

Cát Linh, phóng viên RFA

Hội Giáo Chức Chu Văn An. Courtesy photo

Giữa lúc dư luận cả nước vẫn còn băn khoăn  trước việc tỉnh Vĩnh Phúc đầu tư 271 tỉ đồng để xây văn miếu thờ Khổng Tử, một nhà tư tưởng, nhà triết học, nhà giáo dục người Trung Hoa thì ngày 5 tháng 1 vừa qua, một tổ chức xã hội dân sự có tên Hội Giáo Chức Chu Văn An ra đời sau hơn 1 tháng vận động. Mục tiêu hoạt động của hội như thế nào?

Một biểu tượng giáo dục
Theo sử sách ghi lại, Văn Trinh Công Chu Văn An là người có công lớn trong việc truyền bá giáo dục, tư tưởng đạo đức Khổng giáo vào Việt Nam. Ông chịu ảnh hưởng của Khổng Tử, nhà giáo dục người Trung Hoa. Khi tên của ông được trân trọng đặt cho 1 tổ chức dân sự giáo dục ở Việt Nam, Nhà giáo Phạm Toàn, cũng là 1 nhà văn, dịch giả được biết đến nhiều với vai trò là người đồng sáng lập trang mạng Bauxite Việt Nam có một nhận định rất thú vị về tên gọi của tổ chức xã hội độc lập này:
“Tôi hiểu Chu Văn An theo cách của tôi, hiểu Chu Văn An hiểu  theo cách là một con người đi dạy học, chứ tôi không hiểu Chu Văn An là học trò của Khổng Tử. Chu Văn An là học trò của ai cũng được nhưng đấy là một biểu tượng để mình vận động công chúng đi theo một hướng giáo dục mà không vì lợi ích của nhà giáo, mà vì lợi ích của người học. Tức là mình coi Chu Văn An như 1 biểu tượng, mà có khi là một huyền thoại đấy”.

Là người Việt Nam thì ai cũng biết hoặc ít nhất cũng nghe về nhà giáo Chu Văn An, một nhân vật lỗi lạc của dân tộc, 1 nhà giáo, thầy thuốc và đại quan của nhà Trần, người được mệnh danh là “Người thầy chuẩn mực của Việt Nam”.

Ngày 5 tháng 1 vừa qua, tức 26 tháng 11 âm lịch, là ngày giỗ của ông, một tổ chức xã hội dân sự ra đời được đặt tên là Hội Giáo Chức Chu Văn An. Tên của ông được đặt tên cho 1 tổ chức xã hội dân sự đã gần như nói lên hết được mục tiêu và ý nghĩa của sự hình thành tổ chức này.

Mục tiêu và hoạt động
Hội Giáo chức Chu Văn An với Ban điều hành 8 người, là những nhà giáo, giáo sư, dịch giả ở Việt Nam và hải ngoại.
– Nhà giáo Vũ Mạnh Hùng
– Nhà giáo Nguyễn Thế Hùng
– Nhà giáo Phạm Minh Hoàng
– Nhà giáo Đỗ Việt Khoa
– Nhà giáo Vi Đức Hồi
– Nhà giáo Nguyễn Tiến Dân
– Nhà giáo Tô Oanh
– Nhà giáo Vũ Hùng

Nhà giáo Phạm Minh Hoàng, giảng viên Toán ứng dụng tại trường Đại học Bách Khoa, thuộc Đại học quốc gia Việt Nam, người từng bị chính quyền Việt Nam bắt và cáo buộc tội “hoạt động lật đổ chính quyền nhân dân” cho biết:
“Mục đích của hội là chúng tôi có 1 thao thức về vấn đề giáo dục của đất nước, một vấn đề mà từ bao năm nay, những khó khăn trong ngành giáo dục kéo dài và chúng ta không thấy nó chấm dứt ở đâu cả. Chúng tôi là những nhà giáo, cựu giáo chức, có những trăn trở và muốn đóng góp 1 phần, chúng tôi nói 1 phần thôi, trong việc chấn hưng lại ngành giáo dục Việt Nam”.

Một số thành viên Ban điều hành Hội Giáo chức Chu Văn An. Courtesy photo.

Là một trong 8 thành viên của Ban điều hành Hội Giáo Chức Chu Văn An, nhà giáo Phạm Minh Hoàng cho biết tất cả các thành viên cố gắng có những sinh hoạt mang tính chất giáo dục như các buổi hội thảo, trao đổi với các chuyên gia. Bên cạnh đó sẽ là các hoạt động khác như:
“Thứ hai là chúng tôi cố gắng trong hoàn cảnh cho phép, chúng tôi lên tiếng về những vấn đề giáo dục mà đất nước chúng ta đang phải đối mặt. chúng tôi lên tiếng mỗi khi có chính sách nhà nước đưa ra. Thứ ba là chúng tôi tạo lập các quỹ để giúp đỡ cho các học sinh nghèo và các nhà giáo đang có những vấn đề. Xa hơn nữa là hỗ trợ cho các sinh viên và nhà giáo trong những nghiên cứu có liên quan đến giáo dục.”

Bên cạnh những trăn trở để  góp phần giải quyết tình trạng xuống cấp của hệ thống giáo dục và những vấn đề có ảnh hưởng đến thế hệ tương lai của đất nước, mà nhà giáo Phạm Minh Hoàng vừa nhắc đến, một mục đích  khác của Hội giáo chức Chu Văn An được nhà giáo Đỗ Việt Khoa, người đã nhiều lần tố cáo hành vi tiêu cực trong thi cử ở Việt Nam cho biết:
“Mục đích là hỗ trợ cho các thầy cô giáo trên cả nước bị trù dập ở các địa phương. Thêm 1 mục đích thứ 2 là hội sẽ đưa ra những đề nghị, kiến nghị cho lãnh đạo Sở giáo dục thay đổi những bất cập của ngành. Và phát hiện ra những sai sót trong chương trình sách vở, chuyên môn. Chúng tôi có ba mục đích như thế”.

Chúng ta hẳn vẫn chưa quên vào những tháng cuối năm vừa qua, dư luận cả nước xôn xao về việc bỏ môn lịch sử, nội dung sách lịch sử chưa đúng, hoặc một kỳ thi tốt nghiệp được một nhà giáo gọi là “vỡ trận ngay từ đầu”. 

Những điều này, theo thầy Đỗ Việt Khoa, cũng là những mục tiêu mà Hội Giáo chức Chu Văn An mong muốn thay đổi:
“Chuyện kiến nghị sách giáo khoa, thay đổi nội dung, chúng tôi rất mong muốn. Thứ nhất là cập nhật những cái mới. Thứ hai là nội dung chương trình lạc hậu, không phù hợp, chúng ta phải bỏ. Thứ ba là giảm bớt tính bản hoá, tính chính trị của môn lịch sử đi. Lịch sử là phải trung thực”.

Có thể thấy những tiêu chí mà Hội giáo chức Chu Văn An đề ra và được các thành viên cùng đồng ý là những mục tiêu chính mà hội sẽ thực hiện, đều được tập trung ở các hoạt động về giáo dục. Nhà giáo Phạm Toàn đã có những ý kiến đóng góp cho nhu cầu hoạt động của hội trong tương lai:
“Cái tổ chức hội nhà giáo độc lập Chu Văn An phải nhìn ở hai phương diện, thứ nhất là phương diện chính trị và thứ hai là khoa học sư phạm. 

Về Phương diện chính trị tôi hoàn toàn ủng hộ vì phong trào xã hội dân sự bây giờ cần tiếng nói của tất cả các tầng lớp nhân dân. Với tư cách là 1 phong trào dân sự chính trị tôi đều hoan nghênh. Nhưng với tư cách là một phong trào giáo dục thì tôi quan tâm nhiều hơn đến phương diện khoa học của nó. Nói như là các vị tiền bối, “đấu tranh cho đất nước độc lập, độc lập xong thì đi đâu? 

Đấu tranh đòi cho được dân chủ, dân chủ xong thì làm gì? Đấu tranh cho các nhà giáo được độc lập, độc lập xong thì làm gì?”

Chính vì thế, ông cũng bày tỏ một hy vọng rằng cách phát triển của những nhà giáo tâm huyết này không bị “những nhà giáo tiên tiến về chính trị nhưng lạc hậu về khoa học chống lại”.

Tuy rằng mục tiêu của Hội Giáo chức Chu Văn An, theo các thành viên trong ban điều hành cho biết, là những mục tiêu vô cùng chính đáng và cần thiết cho nền giáo dục nước nhà, nhưng nhà nước Việt Nam vẫn tìm mọi cách để ngăn cản sự ra đời của Hội. Vì có nhiều người bị bao vây, quản thúc, đe doạ và ngăn cản việc đi tham dự ngày ra mắt của tổ chức, nên Hội giáo chức Chu Văn An quyết định thực hiện việc ngày ra đời của tổ chức bằng hình thức online, nghĩa là các thành viên gặp nhau và trao đổi qua internet.

Các thành viên của Hội Giáo Chức Chu Văn An đã chọn đúng ngày giỗ của nhà giáo lỗi lạc này để thành lập tổ chức xã hội dân sự mang mang mục tiêu giáo dục. Dù chỉ là sự khởi đầu nhỏ, nhưng qua những lời chia sẽ của các thành viên, có thể thấy rất nhiều tâm huyết cho một nền giáo dục nước nhà trong tương lai. Nói như nhà giáo Phạm Toàn, ông mong rằng “nhà nước Việt Nam sẽ công nhận tự do đóng góp của các nhà sư phạm và dân chủ trong cách đối xử bình đẳng giữa các đóng góp”.
C.L
__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh 

Monday, 4 January 2016

CHUYỆN VĂN HÓA ĐÔNG TÂY




CHUYỆN VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

PHẠM ĐÌNH LÂN, F.A.B.I.

         
Trên đời có lẽ không có sự va chạm nào gây nhiều sứt mẻ ghê gớm như sự va chạm văn hoá. Không có gì đáng ghê tởm bằng sự tự hào văn hoá của mình và nhạo báng văn hoá của người khác. Trong thời hoàng kim của người Bạch Chủng Rudyard Kipling khẳng định:
Đông là Đông,
Tây Là Tây,
Đông và Tây không bao giờ gặp nhau.

Về cơ thể, người ta tìm mọi ưu điểm của người Bạch Chủng để giải thích người Bạch Chủng thông minh hơn người Hoàng Chủng và Hắc Chủng. Nào là da trắng, mắt xanh, tóc hoe vàng trông đẹp đẽ. Nào là góc mặt rộng nói lên chỉ số thông minh. Nào là trán cao, đầu sói biểu lộ một trí thông minh tiềm ẩn. Nào là mũi cao và thẳng khác với mũi tẹt hay mũi hở trên không như ống khói tàu vừa kém thẩm mỹ vừa kém ánh sáng trí tuệ v. v.

Những điều này các thầy tướng Tàu cũng xác nhận. Các ông lớn đều được gọi là người tai to mặt bự. Những người trí thức là những người trán cao kiếng dày. Và, để trả đũa lại người Bạch Chủng thầy tướng Tàu phê tướng người Bạch Chủng là tướng:
Râu ria lông ngực là tôi phản Thần.

Nhưng họ quên rằng người Tây Phương có theo Khổng Giáo đâu mà gọi là tôi phản Thần theo quan niệm trung quân của Khổng Tử. Trái lại họ xem việc lật đổ vua là làm cách mạng: lật đổ chế độ quân chủ để lập nên Cộng Hoà. Cuộc đấu tranh táo bạo này xuất phát từ khái niệm dân chủ mà ra.

Các tôn giáo lớn trên thế giới đều xuất phát ở Á Châu: Đạo Bà La Môn ( Ấn Giáo) ở Ấn Độ; Phật Giáo: Nepal (tiểu lục địa Ấn Độ); Do Thái Giáo (Do Thái), Lão Giáo, Khổng Giáo (Trung Hoa); Ki Tô Giáo (Do Thái), Thần Giáo (Shintoism- Nhật Bản); Hồi Giáo (bán đảo Ả Rập).

Đạo Thiên Chúa chia ra làm: Thiên Chúa Giáo La Mã, Tin Lành, Anh Giáo (Anglicanism) và Chính Thống Giáo.

Phật Giáo chia ra làm: Phật Giáo Đại Thừa, Phật Giáo Tiểu Thừa, Hoàng Giáo Tây Tạng (Tantric Buddhism)

Tôn Giáo
 Quốc Gia
Bà La Môn Ấn Độ
Ấn Độ
Phật Giáo Đại Thừa
Trung Hoa, Nhật, Việt Nam, Triều Tiên
Phật Giáo Tiểu Thừa
Sri Lanka, Miến Điện, Thái Lan, Cambodia, Lào
Thần Giáo
Nhật Bản
Do Thái
Do Thái
Thiên Chúa Giáo
Ý, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Đức, các quốc gia Trung, Nam Mỹ, vùng Caribbean, Phi Luật Tân v. v.
Tin Lành & Anh Giáo
Anh, Đức, Hòa Lan, Na Uy, Thụy Điển, Đan Mạch, Phần Lan, Hoa Kỳ v. v. Đại Hàn có 47% dân số theo Tin Lành
Chính Thống Giáo
Nga, Ukraine, Hy Lạp v. v.
Hồi Giáo
Các quốc gia Trung Đông, Trung Á, Pakistan, Indonesia, Mã
Lai, các quốc gia Bắc Phi và Phi Châu khác.
Khổng & Lão Giáo
Trung Hoa, Việt Nam, Triều Tiên

Đạo Tin Lành và Anh Giáo là đạo Thiên Chúa canh tân không đặt dưới sự chỉ đạo của Giáo Hội Thiên Chúa Giáo La Mã. Chính Thống Giáo có giáo hội riêng không có liên hệ gì với Giáo Hội Thiên Chúa La Mã tức Toà Thánh Vatican.
Phật Giáo ở Nhật là dạng Phật Giáo canh tân của Phật Giáo Đại Thừa.
Những tôn giáo ghi trên là những tôn giáo lớn. Trên thực tế còn có nhiều tôn giáo nhỏ khác. Và hiện nay ở bất cứ quốc gia nào cũng có nhiều tôn giáo khác nhau. Thí dụ Phi Luật Tân có 90% dân số theo Thiên Chúa Giáo và 10% còn lại là tín đồ Hồi Giáo, Phật Giáo, Tin Lành v. v. Ở Việt Nam ngoài Phật, Khổng, Lão còn có Thiên Chúa Giáo, Hồi Giáo (người Chăm), Cao Đài, Phật Giáo Hoà Hảo, Tin Lành v. v.

Nhìn tổng quát ta thấy:
- đạo Christ quan trọng ở Âu Châu và Mỹ Châu
- các quốc gia theo đạo Christ Tin Lành là những quốc gia có nền chánh trị dân chủ, kinh tế mở mang, khoa học kỹ thuật phát triển (Anh, Hoa Kỳ, Đức, Hoà Lan, các quốc gia Bắc Âu, Canada, Úc, Tân Tây Lan)
- các quốc gia Thiên Chúa Giáo Âu Châu có nền chánh trị dân chủ, kinh tế và khoa học kỹ thuật phát triển hơn các quốc gia Thiên Chúa Giáo Trung, Nam Mỹ, hải đảo Caribbean, Phi Luật Tân, New Guinea.

- các quốc gia Phật Giáo Đại Thừa phát triển mạnh hơn các quốc gia Phật Giáo Tiểu Thừa. Trong các tín hữu Phật Giáo Đại Thừa, Nhật là dân tộc có tinh thần phóng khoáng, kỷ cương, trật tự và thích ứng với hoàn cảnh mới dễ dàng hơn những dân tộc cùng đức tin Phật Giáo Đại Thừa.

Mao Zedong (Mao Trạch Đông) tự xem mình như đại biểu văn hoá Đông Phương. Ông tự hào với: Gió Đông đè bẹp gió Tây. Quốc ca của Cộng Hoà Nhân Dân Trung Quốc là Đông Phương Hồng. Tín hiệu phát từ Vệ Tình nhân tạo đầu tiên của Trung Quốc phóng lên không gian là:
Đông Phương Hồng.
Đây Trung Quốc,
Mao Trạch Đông (Mao Zedong).


Ông Mao rất bảo thủ văn hoá Đông Phương của ông bằng cách không mặc Âu phục với cà vạt, không đánh răng bằng bàn chải và kem đánh răng mà chỉ ngậm trà xanh, không thích thú với chánh trị dân chủ và chánh sách độc thê v. v. Nhưng ông quên rằng chủ nghĩa Marx- Lenin mà ông ngưỡng mộ xuất phát ở phương Tây. Do ảnh hưởng của phương Tây mà ông hớt tóc ngắn chớ không thắt đuôi sam như thuở ấu thời.

 Muốn hớt tóc phải có cái tông- đơ ( tondeuse). Tông- đơ và dao cạo tốt đều do Đức sản xuất. Đôi giày da mà ông mang là sản phẩm của người phương Tây. Cái nút áo mà ông mặc cũng vậy. Nó không giống cái nút thắt bằng vải của quần áo cổ truyền của quê hương ông. Bộ đồ ông mặc được may bằng máy may do người phương Tây phát minh và sản xuất.

Ông không thắng Nhật năm 1945 mà chỉ hưởng lấy chiến thắng của Hoa Kỳ. Ông không được mời dự lễ ký kết văn kiện đầu hàng trên tàu USS Missouri ngày 02 - 09 - 1945 vì ông không phải là đại diện Trung Hoa mà chánh phủ Chongqing của Chiang Kaishek (Tưởng Giới Thạch). Tác giả trái bom nguyên tử mà ông có năm 1964 là một người Hoa được Hoa Kỳ đào tạo và được lãnh giải thưởng Nobel về khoa học dưới quốc tịch Hoa Kỳ. Tướng Zhu De (Chu Đức) lỗi lạc của ông học ở Đức. Thủ tướng và nhà ngoại giao lỗi lạc của ông là Zhou Enlai ( Châu Ân Lai) học ở Nhật, Pháp v. v.

Người Trung Hoa hãnh diện với trường Võ Bị Whampoa (Hoàng Phố). Các tướng lãnh lỗi lạc của Quốc Dân Đảng và Cộng Sản Trung Hoa đều xuất thân từ trường Võ Bị này. Đó không phải trường Võ Bị mà Liên Sô (phương Tây) giúp cho Trung Hoa thời Quốc- Cộng Liên Minh lần thứ nhất sao?

 Năm 1923 Chiang Kaishek (Tưởng Giới Thạch) há không nghiên cứu tổ chức chánh trị, quân sự ở Liên Sô? Con trai của ông, Chiang Chingkuo há không học ở Liên Sô và có vợ Nga?

 Vì sao chủ tịch Mao Zedong thúc giục viên y sĩ của mình tìm mọi cách làm cho ông chóng bình phục sức khoẻ để đón tiếp tổng thống Nixon năm 1972? Do đâu Trung Quốc có vị trí như ngày nay nếu không phải nhờ học hỏi kỹ thuật phương Tây và theo kinh tế thị trường của xã hội tư bản phương Tây hay nói rõ hơn là Hoa Kỳ?

Ai Cập cổ há không có nền văn minh sáng lạn? Nhưng nền văn minh ấy không do chính người Ai Cập nghiên cứu và phổ biến mà do các nhà khảo cổ, các nhà Ai Cập học Pháp và Anh nghiên cứu và phổ biến. Cái trống đồng của người Việt cổ cũng do người Pháp khai quật và nghiên cứu. Vậy chừng nào gió Đông đè bẹp gió Tây?
Người Nhật điềm đạm, thầm lặng, khiêm tốn nhưng tự tin và kỷ cương hơn người Hán và nói riêng ông Mao Zedong. Họ có ý thức và nhận thức thâm sâu. Họ kính trọng Thiên Hoàng của họ. Họ biết người và biết ta nên đã âm thầm học cái hay của người, vất bỏ cái dở hay lỗi thời và bảo trì cái hay đặc thù của mình. Tiếng súng đại bác thị uy của Perry năm 1853 đã giúp nước Nhật chọn con đường canh tân xứ sở. Tướng quân Yoshinobu Tokugawa từ bỏ quyền hành mà tổ tiên ông lưu lại trên 02 thế kỷ (1600 - 1867) để Thiên Hoàng Meiji canh tân xứ sở hầu đưa đất nước thoát cảnh lạc hậu, nghèo khổ và suy nhược. Ông ý thức được trách nhiệm của chế độ tướng quân do dòng Tokugawa lãnh đạo trên 02 thế kỷ chỉ làm cho cả dân tộc nhận lấy sự nhục nhã trước một khẩu súng bằng thép dài không quá 2 m bắn thị uy ngoài khơi vịnh Edo! Năm 1945 họ không thừa lúc thất trận để làm chuyện phế lập như thường thấy ở các nước láng giềng. Họ thất trận. Họ nhận chịu mọi nhục nhã của người thất trận để chuẩn bị tương lai cho quê hương và dân tộc họ. Chính người bại trận đã làm cho người thắng trận phải giở nón khâm phục khi đã đưa kinh tế Nhật lên hạng thứ nhì trên thế giới vào thập niên 1970, 1980, 1990. Chỉ có người thắng trận như Hoa Kỳ mới biết khâm phục người bại trận kiêu hùng và tự trọng như Nhật. Và chỉ có người bại trận như Nhật mới cảm ơn Hoa Kỳ và xem tướng Mc Arthur như ân nhân. Trong thời kỳ canh tân Nhật quan tâm đến Anh. Đô đốc Togo Heihachiro (1848 - 1934), người đánh bại hạm đội Nga năm 1905 tại eo biển Tsushima từng học về hàng hải ở Anh từ năm 1871 đến 1878. Đến thế kỷ XX Nhật quan tâm đến Hoa Kỳ. Đô đốc Isoroku Yamamoto (1884 - 1943) từng sống, làm việc và học đại học Harvard từ năm 1919 đến 1923 rồi 1926. Năm 21 tuổi Yamamoto là một sĩ quân hải quân có tham dự trận hải chiến Tsushima năm 1905. Năm 1941 ông là người chỉ huy tấn công Pearl Harbor theo lịnh của Tojo.

Thuở nhỏ tôi không siêng học nên bây giờ tôi siêng hỏi. Đôi khi câu hỏi của tôi ngây ngô và vụng dại nhưng nó xuất phát từ sự chân thật tận đáy lòng. Tôi nhờ các thân hữu và những người có đọc bài viết này vui lòng góp ý và trả lời một vài thắc mắc mà tôi nêu ra nếu có. Các thân hữu đừng ngần ngại sửa chữa sự ngây ngô và vụng dại của tôi nếu có vì chúng ta cần học học hỏi lẫn nhau không ngừng.

Khi còn ở quê nhà cũng như lúc sống trên quê hương thứ hai thỉnh thoảng tôi vẫn nghe hay đọc những bài viết nói triết lý Đông Phương cao siêu trong khi triết lý Tây Phương nông cạn. Thú thật tôi muốn học cái cao siêu và tìm hiểu cái nông cạn. Tôi vẫn thắc mắc tại sao người có triết lý cao siêu vẫn cứ theo học người có triết lý nông cạn. Càng thắc mắc hơn khi không thấy người có triết lý nông cạn sang học người có triết lý cao siêu. Nếu có năm hay mười học giả tò mò để viết sách thì không thể xem ngoại lệ là luật được.

Với cái triết lý cao siêu, người Đông Phương đã hoàn thành được những gì để cống hiến cho quê hương và nhân loại?

Do đâu người nông cạn trở thành đế quốc? thực dân? Nếu vậy mình nên chọn cái cao siêu hay cái nông cạn? Có phải triết lý cao siêu là triết lý vòng vo nói không ai hiểu? và triết lý nông cạn là triết lý nói ra ai cũng hiểu? Hay triết cao siêu là nói như thế này mà phải hiểu ngược lại mới đúng? Triết lý nông cạn ai cũng hiểu nên ai cũng thực hành được?

Người Nhật có sai lầm khi Tây Phương hoá đất nước họ vào năm 1868 không? Họ có mất gốc sau cuộc canh tân theo Tây Phương không? Họ đâu có nhục nhã hay chối bỏ đã từng chịu ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa. Thực tế họ tiếp nhận Phật Giáo qua trung gian của các sư tăng Triều Tiên vào thế kỷ VI. Nhưng trên mặt đất này không có gì là bất biến cả. Họ mạnh dạn vất bỏ Tết Nguyên Đán để cử hành Tết Dương Lịch. Họ vất bỏ Đông Y để dồn nỗ lực nghiên cứu Tây Y. Họ học hỏi, bắt chước nhưng không ăn cắp kỹ thuật của nước nào cả. Họ bảo trì chữ viết rắc rối của họ chớ không theo mẫu tự La Tinh vì đó là lịch sử như người Do Thái bảo trì chữ Hebrew đầy rắc rối và khó khăn của họ. Đó là lịch sử. Đó là niềm tự hào về sự nghiệp của tiền nhân để lại. Người Nhật thích ứng với tư tưởng dân chủ nhưng luôn luôn tôn kính Thiên Hoàng.

  Tôi cúi đầu ngưỡng mộ Đại Hàn. Dù oán ghét sự cai trị cứng rắn của người Nhật trên bán đảo Triều Tiên từ năm 1910 đến 1945, họ đã học hỏi rất nhiều nơi người đô hộ họ thay vì chỉ ngồi chửi suông và gây oán hận từ thế hệ này sang thế hệ khác một cách vô ích. Họ học óc tổ chức, tinh thần kỷ luật, óc trật tự, sự hăng say trong công việc, óc tìm tòi, học hỏi, sự đơn giản, tinh thần trách nhiệm... 

Kết quả: họ thoát cảnh nghèo nàn và lạc hậu trong khi mọi tệ trạng xã hội vẫn còn đeo đuổi các quốc gia đồng châu và đồng cảnh ngộ với họ trước kia. Người ta lên án tướng Park Chung Hee (Phác Chánh Hy) đủ thứ. Nào là tướng độc tài. Nào là sĩ quân do đế quốc Nhật đào luyện. Nào là người của CIA Mỹ đưa lên cầm quyền. Có điều người ta quên hỏi:
- Ông ấy đã có bao nhiêu tiền ở ngân hàng Hoa Kỳ, Anh hay Thuỵ Sĩ? Câu trả lời chắc chắn là KHÔNG CÓ.
- Vòng bụng và gương mặt của ông có đủ điểm số để trở thành một nhà lãnh đạo tham ô với mặt nọng tham tiền, hiếu sắc của TRƯ MA VƯƠNG hay không? Câu trả lời là KHÔNG.
- Ông có lạm quyền để giành những quyền lợi kinh tế, tài chánh cho gia đình và thân nhân của ông không? Câu trả lời: KHÔNG

- Ông làm phương hại gì cho Đại Hàn? Câu trả lời: KHÔNG CÓ.

Ông thực sự nắm quyền năm 1963 đến khi bị ám sát năm 1979. Trong thời gian này Đại Hàn phát triển kỹ nghệ hoá học và kỹ nghệ nặng. Thế giới xem ông là một nhà lãnh đạo lỗi lạc ở Á Châu. Đừng quên rằng Triều Tiên bị chiến tranh tàn phá trong đệ nhị thế chiến, trong chiến tranh Triều Tiên (1950 - 1953) và bị qua phân sau đệ nhị thế chiến. Chỉ trong vòng 12 năm sau khi chiến tranh Triều Tiên chấm dứt và 02 năm sau khi Park Chung Hee cầm quyền, kinh tế Đại Hàn tức phân nửa bán đảo Triều Tiên ở phía Nam đã khởi sắc. Công cuộc kỹ nghệ hoá tiến hành. 

Đến năm 1980 Đại Hàn là một trong Tứ Hổ Kinh Tế Á Châu. Xem như thế mới thấy sự quan trọng của nhà lãnh đạo trong việc làm cho đất nước phú cường, toàn dân ấm no và hạnh phúc: lãnh đạo can đảm, liêm khiết, có khả năng, có viễn kiến, có nhiệt huyết và tinh thần trách nhiệm.
Nếu lấy lợi tức đầu người của Hoa Kỳ làm chuẩn là 100 ta có bảng thống kê sau đây:
Quốc Gia
1960
1970
1977
1985
Đại Hàn
12
17
23
31
Brazil
18
18
24
23
Do Thái
41
52
53
48
Nhật Bản
33
64
67
77

Đại Hàn chỉ học hỏi Nhật Bản và Hoa Kỳ để trở thành một quốc gia có nền kinh tế xếp hạng 12 trên thế giới. Người Đại Hàn thay đổi cái nhìn của họ đối với tướng Park Chung Hee (Phát Chánh Hy) khi bỏ phiếu cho ái nữ của ông làm tổng thống hiện nay. Đại Hàn chẳng những thoát khỏi sự lạc hậu, nghèo khổ của một quốc gia có quá khứ thuộc địa bị chiến tranh tàn phá, bị qua phân và bị các quốc gia láng giềng không ngừng đe doạ, bắt nạt mà còn thoát khỏi sự lạc hậu tư tưởng trong xã hội phong kiến già nua. 

Đại Hàn có tỷ lệ tín đồ Tin Lành cao nhất ở Á Châu (47%). Tỷ lệ này như nói lên một điều gì quan trọng trên đất nước của Trương Lương. Một cựu tổng thống từng là đối lập của tướng Park Chung Hee đã tự tử khi được biết phu nhân của ông tham nhũng. Con gái ông chủ công ty hàng không và là phó chủ tịch của công ty bắt lỗi một chiêu đãi viên hàng không khi phục vụ bà ta như những người hành khách khác trên phi cơ. Bà bắt cô chiêu đãi viên phải quì xuống xin lỗi và bắt chiếc phi cơ phải quay trở lại.

 Dư luận trong nước chống lại cách cư xử hách dịch của bà phó chủ tịch lạm quyền làm nhục nhân viên cấp dưới và gây phiền toái cho hành khách khiến gia đình bà phải xin lỗi cô chiêu đãi viên. Toà án xử bà phó chủ tịch hống hách 03 năm tù (2015). Bản án này có vẻ nặng nề nhưng nó phản ánh ước mơ của nước Đại Hàn muốn gội sạch nhưng tỳ vết độc hại của những tư tưởng lạc hậu, phong kiến và phi dân chủ trong một quốc gia phồn vinh, lành mạnh và văn minh tiến bộ thực sự.

Đừng vội khẳng định gió Đông tốt hay gió Tây tốt. Chuyện gió Đông đè bẹp gió Tây hay ngược lại không cần thiết đối với sự phát triển của quê hương và cuộc sống của dân tộc ta. Điều chúng ta cần là ngọn gió mát không độc. Ngọn gió đó giúp cho quê hương chúng ta vươn lên và mang cho toàn dân ta tự do, ấm no và hạnh phúc để cho cuộc sống có ý nghĩa với kiếp người và quyền làm người trọn vẹn.


Phạm Đình Lân , F.A.B.I
_


__._,_.___

Posted by: truc nguyen 

Chúng ta đã dạy môn Sử như thế nào?


Cai Subject của imeo này là "Chúng ta đã dạy môn Sử như thế nào?"    

Tôi tự hỏi "Chúng ta" đây là ai, người việt imeo muốn đề cập đến ai, nền giáo-dục tại miền Nam sau 1954, hay là tại Việt Nam?
Nếu là tại Việt Nam từ sau 1975 thì tôi không dám nhận cái vinh-dự được bao-gom bởi hai chữ "Chúng ta"!
Suy nghĩ chung-chung, tôi chỉ xin nêu ra đây một vài ý-nghĩ sau khi đã tốt-nghiệp Trung Học trước năm 1975 tại miền Nam, và sau đó tìm hiểu về lịch-sự khi học mày lop về Chính Trị và Văn Hoá.
1-Trước năm 1975, môn Sử được gọi là Sử Ky, nói nôm-na là "Sử" được ghi lại [ky].   Sau này, được biết thêm một món có tên là "Biên Niên Sử [Ammanarch-tiếng Anh có thể sai]",  Sử" đã được ghi lại như thế nào?
Truyện Tàu có nói đến một "Sử gia" nổi tiếng là Từ mà Thiên.  Ông đã bị nhà vừa bắt "thien" vì đã không chịu ghi lại theo ý nhà vừa và Triều Đình muốn.  Vì vậy mà ông nội-tiếng vì "Trung-Thuc".  Sử ký Việt Nam dạy ở bác Tieu Học và Trung Học có trung-thức không?
Câu trả lời là KHÔNG.

Tại sao tôi nói thế? Là vì nếu quí vị nào ở đó tuổi từ 65 trở lên như tôi, nhớ lại thì qui-vi at còn nhớ những đoạn văn beu-xau nhà Nguyễn, đặc biệt là nếu rõ những hành-vị của Gia Lòng như cho quat mợ Quang Trung, đúng xuống số làm cháu để tiểu ban-dem; và đặc biệt là những đoạn nói về ca-nhân vừa Bảo Đai trong những sách sử-ky xuat-bàn sau năm 1955.    

Tôi không nói là vừa Già Lòng không làm những việc đã được ghi trong sách sử-ky xuất bản ở miền Nam sau khi nhà Nguyen bị My khai tử.  Nhưng tôi tự-hỏi là nếu Mỹ chưa nhảy vào thầy Pháp để vợ-hiệu hòa Hiệp Định Đình-Chien Geneve 1954, thì những đoạn sự-ký trên có xuất hiện được không?    
Sau cuộc "ĐẢO CHÍNH' năm 1963, đoán sự-kỹ về "NGỜ CHỈ SĨ" đã được lướt qua nhe-nhang; các biện-đồng thi học-sinh nào tớ-mơ có thể tìm đọc trên báo.

2-Thời gian trôi qua, tôi nhận-thấy giống như thuyet nhà Phật nói về cái Sống và sự Chết, ranh-giới giữa "Sử Ky" va "Tuyên Truyền" rất mong-manh, giống như một sợi chỉ.  Cũng tưởng-từ khi nghĩ về ranh-giới giữa "Sử Ky" va "Các Vấn Đề Chính-Tri".    

Nói thật ngày xưa, đọc quyển sách lich-sự của ông ba Tang xuan An, khi học về giải-đoạn Hai Ba Trung khoi-nghia, tôi không biết sống Hat nằm ở đâu.  Hỏi thầy-giáo thì thấy cũng noi cho quá!  Hội tiếp thị thấy hoi có muốn ăn hại zeros khong?  

Chưa hết, đọc đến đoạn "Trong các Thái Thứ đuoc cứ sang cái-trị nước ta, thì hai vị Thai Thu Tich Quang và Nhắm Điện là có công và....hơn cả."  Đám học-sinh chúng tôi lại cang mu-tit không hiểu từ dau mà các vị Thai Thu được cũ sang....Hình như hai chữ vua Tàu đuoc tránh nói đến khi đúng dong-từ ở Passive voice!

3- Đừng nghĩ rằng hoc-sinh chỉ học sư quả mọn "Sử Ky"; Viết Văn thì chúng tôi được học các thể Thơ Đường, That Ngong Bất Cứ, Từ Tuyet, Tiet Hau vv...Không một thầy giáo nào nhận-manh đây là văn-chuong ngoại quốc, hay A cháu cả!    

Có hai giải-đoạn lịch-sự được nhận-mạnh với "CHIẾN CÔNG HIỂN HÁCH" của Hùng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, và Quang Trung Nguyễn Huệ, đó là HƠI NGHĨ ĐIÊN HONG, VA TRẬN ĐỘNG ĐÃ.    

HƠI NGHỊ DIEN HONG diễn ra là khi nhà "NGUYEN"  "Đem Quân Xâm Lan Nước Ta"!  Nhà Nguyên là gốc Mong Có, đã chính-phuc Trung Hoa và năm chính-quyen, nên ta nói mạnh được!
Trận Động Đã là do "NHÀ THANH"  "sai Ton Sĩ Nghị Đêm Hai Chục Vạn [không bao đảm sự chính-xác của con xô] Quan...."  Nha "THANH" là gốc Mân Châu quoc, von di bị Hạn Toc Trung Hòa xem là "RO [BARBARIAN]" cũng đã chính-phuc Trung Hoa và lập nên chỉnh-quyển Nhà Thanh!  Thế tức là cả hai đã có license là "GIAC", nên các "Giao Sự Sử Ký" viet mạnh tay được.  
Thế thì thật sự chúng ta có "KY" khong?    

Nếu không "KY" duoc, thì có bộ hay tích-hợp vào các bộ môn khác cũng chẳng chết ai cả!  Nhiều khi lại đó tôi-nghiệp cho học-sinh phải đủ-nhap nhưng dù-kien sai lệch.

TRẦN TRỌNG.

From: "Dien bien hoa binh " <>
To:
Sent: Wednesday, December 2, 2015 5:44 PM
Subject: [DDCL] Chúng ta đã dạy môn Sử như thế nào?

 

Chúng ta đã dạy môn Sử như thế nào?

Cát Linh, phóng viên RFA
2015-12-02
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
Chúng ta đã dạy môn Sử như thế nào? Phần âm thanhTải xuống âm thanh
hinh1-622.jpg
Hình ảnh minh họa
Courtesy photo
Your browser does not support the audio element.
Thời gian gần đây, Bộ giáo dục đào tạo đang có dự tính đưa môn Lịch Sử vào chung với các môn học khác, tạm gọi là môn tích hợp. Rất nhiều người lên tiếng bày tỏ quan điểm không đồng tình với kế hoạch này. Trên các diễn đàn truyền thông, không ít những tranh cãi từ những người có tâm huyết với môn Lịch sử và từ cả phía người dân trong và ngoài nước, là nên bỏ, hay giữ lại.
Cát Linh tìm đến những người đang trực tiếp đứng giảng dạy môn học này để hiểu thêm và nghe họ nói về phương cách giảng dạy mà họ đã và đang thực hiện. Tuy nhiên, đài Á Châu tự do chúng tôi xin phép tôn trọng lời đề nghị của những giáo viên này, là không nêu tên trong bài phóng sự này.

Dạy ‘đối phó’

Lịch sử là những gì đã qua, được giữ lại bằng cách ghi lại, và truyền lại bằng cách tái hiện lại. Mỗi một người thầy hoặc cô sẽ có cách tái hiện lại theo phương cách riêng của mình nhằm mục đích làm cho học sinh hiểu được những diễn biến của lịch sử. Thế nhưng, theo lời của một người có khoảng 30 năm đứng lớp, hiện đang là giáo viên giỏi môn Lịch Sử của trường cấp 2 Củ Chi cho biết về cách thức mà người giảng viên Sử đang áp dụng hiện nay:
Nếu phòng giáo dục, sở giáo dục đi dự giờ thì học sinh thích lắm, vì khi có người dự giờ thì các cô dạy rất nghiêm túc. Mấy cô sử dụng tranh ảnh, sử dụng phòng chiếu, sử dụng đủ hết chức năng. Nên khi có người đi dự giờ, học sinh mê lắm.
-Một giáo viên
“Nếu phòng giáo dục, sở giáo dục đi dự giờ thì học sinh thích lắm, vì khi có người dự giờ thì các cô dạy rất nghiêm túc. Mấy cô sử dụng tranh ảnh, sử dụng phòng chiếu, sử dụng đủ hết chức năng. Nên khi có người đi dự giờ, học sinh mê lắm.”
Một giờ học, hay còn gọi là một tiết học ở các trường phổ thông ở Việt Nam được qui định là 45 phút. Trong 45 phút đó, người giáo viên vừa phải kiểm tra bài cũ, vừa phải truyền tải hết tất cả những nội dung trong sách giáo khoa mà Sở giáo dục đã qui định cho một tiết học. Chính do qui định này mà xảy ra rất nhiều trường hợp gọi là ‘cháy giáo án’, theo lời của người giáo viên dạy Sử ở trường Củ Chi.
“Cái khâu mà kiểm tra, bây giờ tưởng tượng lên dạy một bài sử chính, nếu cho đọc và viết một bài theo qui định sách chuẩn kiến thức mà Bộ giáo dục bắt buộc tối thiểu phải ghi, thì hết một tiết học, đừng nói đến việc giảng.”
Để tránh tình trạng “cháy giáo án”, các giáo viên bắt buộc phải dạy theo cách đối phó. Khi có dự giờ, thì họ sẽ không kiểm tra bài cũ. Còn với những giờ học bình thường, nghĩa là không có người dự giờ, thì các giáo viên thường áp dụng cách thức giảng trước, và photo bài cho học sinh về nhà tự chép vào.
“Một số trong những giáo viên đó, nếu mà người nào tâm huyết lắm thì người ta mới dạy không có người dự giờ cũng giống như có người dự giờ. Còn đa số thì họ biết môn này thứ nhất là không có thi, cho nên nếu họ không có trách nhiệm tí xíu thì họ dạy cho nó xong. Mà dạy cho nó xong thì học sinh không thích.”
Hinh02-400.jpg
Tích hợp môn lịch sử với những môn khác trong chương trình sách giáo khoa, ảnh minh họa. Courtesy photo.
Nói một cách khác, như đã trình bày ở trên, lịch sử là môn học được chép lại, truyền lại. Người giáo viên khi đó đóng vai trò không khác gì một kịch sĩ, có nhiệm vụ làm sống lại giai đoạn lịch sử đó trước mấy chục khán giả đang dõi theo mình. Đây là lúc mà kiến thức, sự sáng tạo và cả đam mê của người giáo viên đóng vai trò rất quan trọng. Theo một giáo viên từng là tổ trưởng tổ chấm thi môn Lịch sử, hiện là hiệu trưởng một trường Đại học tư thục cho biết về những gì bà từng góp ý với các sinh viên sư phạm khoa Lịch Sử trước đây:
“Nếu như các em lên lớp giảng bài mà nói y như trong sách giáo khoa thì phần lớn học sinh nó ngủ, mà tôi cũng ngủ. Vì lúc đó, ăn thì thiếu, đạp xe thì cực, đổ mồ hôi đến trường dạy và dự giờ cái giờ 12 giờ trưa thì không ngủ mới lạ, nếu thầy giáo không có cái gì nói ngoài sách giáo khoa.”
Người giáo viên dạy giỏi môn Sử của trường Củ Chi nói rõ thêm về phản ứng của học sinh khi thầy cô có những sáng tạo khác bên ngoài sách giáo khoa:
“Cũng một kiến thức đó, nếu nói bình thường thì học sinh không thích. Mà lúc nói, mà mình nhập tâm với cái đó thì học sinh mê lắm.Ví dụ như giai đoạn nhà Nguyễn đi từ đầu hàng này đến đầu hàng khác là nó cũng phẫn uất, cũng tức lắm, nó nói ‘trời ơi sao kỳ vậy? ông vua này kỳ vậy?’”

Không đầu tư vào phương pháp dạy

Theo lời người giáo viên của trường Củ Chi, nguyên nhân của cách dạy Sử chưa sống động còn do ở bước tuyển chọn ban đầu, mà theo cách gọi của bà, là “đầu vô” của bộ môn này.
Cái đầu vô của ngành Sư phạm, những người học Sử, họ… không giỏi. Số lượng giỏi hiếm lắm. Nói chung là họ thi nhiều môn khác không nổi, thì họ phải thi môn Sử. Cho nên, họ đã không giỏi, thì làm sao họ dạy giỏi? Họ dạy không hấp dẫn.
-Một giáo viên
“Cái đầu vô của ngành Sư phạm, những người học Sử, họ… không giỏi. Số lượng giỏi hiếm lắm. Nói chung là họ thi nhiều môn khác không nổi, thì họ phải thi môn Sử. Cho nên, họ đã không giỏi, thì làm sao họ dạy giỏi? Họ dạy không hấp dẫn.”
Cũng là ý kiến về cách dạy, đầu vào, hay trình độ của những giảng viên môn Sử, nhưng bà hiệu trưởng của trường Đại học Tư thục đưa ra một nhận định gián tiếp:
“Lúc đó, chẳng những thầy giáo là những người đã được đào tạo chế độ cũ, mà sinh viên trường đại học Sư phạm đang còn học 3 năm chế độ cũ, mới 1 năm chót chế độ mới thôi. Nên trong đầu họ có nhiều kiến thức lắm chứ. Họ cũng biết mình phải làm gì trên lớp. Nhưng cái đó càng ngày càng mai một đi, vì người đứng lớp là ai? Và xã hội phải diễn tiến theo diễn tiến bình thường mà lịch sử diễn ra. Là chế độ chính trị như thế nào thì đẻ ra chế độ chính trị của xã hội đó.”
Thêm vào nữa, là những người giáo viên dạy Sử chưa thật sự có sự đầu tư vào cách dạy của mình, theo nhận định của giáo viên dạy Sử trường Củ Chi. Tuy nhiên, bà cũng đưa ra sự cảm thông khi đề cập đến vấn đề chung trong cuộc sống, đó là cơm áo gạo tiền, những thứ mà có vẻ như đã lấy mất sự quan tâm và nhiệt huyết của người giáo viên. Họ phải bươn chải làm chuyện khác, thời gian đầu tư vào chất lượng và phương pháp dạy thu hút thì hoàn toàn không có.
“Người nào có trách nhiệm thì sẽ cố gắng tìm tòi, học hỏi để truyền đạt cho hay. Còn người mà học đã không giỏi,mà hơn nữa làm để cho có việc, cho nên nên cái nhiệt tâm, đam mê của họ không có.”
Những phụ huynh mà Đài Á Châu tự do chúng tôi có dịp nói chuyện đều bảo rằng ngay từ bé, bất cứ công dân của quốc gia nào đều được dạy và xây dựng lòng tự hào về lịch sử của đất nước mình. Chính từ nền tảng cơ bản đó, hình thành nên văn hoá yêu nước của một dân tộc. Vì thế, họ nói rằng môn lịch sử đóng một vai trò quan trọng trong việc xây dựng nền văn hoá này. Và người xây nên những viên gạch vững chắc cho trường đài văn hoá ấy không ai khác hơn chính là người giáo viên dạy Sử.




__._,_.___

Posted by: Tamika Ito 

Popular Posts

Popular Posts