Đại Học chăn Trâu




Friday, 24 April 2015

Sao Lại Đề Nghị Unesco Vinh Danh Tội Đồ Võ-nguyên-Giáp Là Anh Hùng Giải Phóng Dân Tộc???

hồ chí minh, võ nguyên giáp, trần canh


Nguyễn Thu Trâm, 8406
Tôi không có ý định nhắc đến Tướng Giáp nữa, bởi công tội của ông thì đã quá rõ ràng khi nhìn vào xã hội Việt Nam hôm nay đang vô cùng loạn lạc. Đạo đức gia đình, xã hội suy đồi đến mức không thể suy đồi hơn được nữa. Trộm cướp, hãm hiếp, giết người xãy ra từng ngày từng bữa trên khắp mọi miền đất nước, cha hãm hiếp con gái, vợ giết chồng để dễ bề thông dâm với tình nhân, vợ bí thư xã giết chủ nợ để quỵt tiền vay ăn chơi đàn đúm… Và một đất nước khốn khó, đói nghèo, tụt hậu hàng thế kỷ so với các nước láng giềng, nhân sỹ, trí thức thì nhược hèn chỉ biết khom lưng cúi đầu trước bạo quyền cộng sản, chỉ biết làm ngơ trước hiểm họa cả dân tộc sắp bị Hán hóa, sắp phải trở lại thời kỳ Bắc thuộc lần thứ 3… Như vậy, khỏi nói ra thì ai ai cũng hiểu rằng cả tứ trụ công thần của chế độ cộng sản Việt Nam là HỒ, CHINH, ĐỒNG, GIÁP thực ra là công thần hay tội đồ của dân tộc. Vì vậy mà tôi đã quyết định không phí hoài thời gian và công sức để viết về tướng Giáp nữa, mà cứ để cho lịch sử và các thế hệ người Việt phán xét những kẻ tội đồ,  đã mang vô vàn đau thương tang tóc đến cho giống nòi, cho đất nước.
Nhưng tôi đã không thể nào còn có thể giữ  được thái độ im lặng thêm nữa khi một đại biểu Quốc Hội, một  Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa - Giáo dục - Thanh niên - Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc Hội  là Lê Như Tiến, vừa “đề nghị Nhà nước trình UNESCO vinh danh Đại tướng Võ Nguyên Giáp làanh hùng giải phóng dân tộc, nhà quân sự kiệt xuất thế giới” với những lời lẽ hà lạm rằng “Ngoài những đề xuất như đặt tên đường, mở bảo tàng hay xây dựng tượng đài, nhà nước cần đề nghị Tổ chức Giáo dục - Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) vinh danh Đại tướng Võ Nguyên Giáp là anh hùng giải phóng dân tộc và nhà quân sự kiệt xuất thế giới. Dân tộc Việt Nam đã có 2 vị từng được UNESCO và quốc tế vinh danh là Anh hùng Giải phóng Dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới là Nguyễn Trãi và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tôi nghĩ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có công lớn trong 2 chiến thắng chấn động địa cầu, ghi danh sử sách thế giới là Điện Biên Phủ năm 1954 và giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước năm 1975. Chắc chắn, với những chiến công lẫy lừng như thế, với quân đội đi từ con số 0, bất cứ ai cũng phải khâm phục ông là nhà quân sự kiệt xuất của thế giới.” Sic.
Trước hết, xin được thưa rằng UNESCO chưa bao giờ vinh danh Hồ Chí Minh là danh nhân văn hóa thế giới cả. Bởi thế giới loài người ngày nay ai cũng tỏ tường rằng Hồ Chí Minh, thực chất chỉ là một kẻ thất phu, một tên vô lại, vô học, một kẻ lắm vợ nhiều con mà chẳng có trách nhiệm gì với con với vợ, tức là chưa biết tu thân, tề gia, thì làm sao mà bình được thiên hạ? Vậy thì sao Hồ Chí Minh lại là một anh hung giải phóng dân tộc được? Cả tập Ngục Trung Nhật Ký là của một tù nhân người Hoa do Hồ đánh cắp về rồi cũng được đảng cộng sản gán cho ông Hồ, rồi cả những danh ngôn của các danh nhân thế giới, cũng được đảng nhét cả vào miệng ông Hồ trong khi trên thực tế, ông Hồ chưa bao giờ được học hành qua bậc tiểu học, “mà nhân bất học, bất tri lý” thì làm sao ông Hồ lại được UNESCO vinh danh là danh nhân văn hóa được, cớ sao những người cộng sản Việt Nam cứ tuyên bố vung vít và hà lạm như thế để tiếp tục lừa bịp người dân? Đó là chưa nói đến việc Cộng Đồng Quốc Tế đã từng lên án tội ác chống lại loài người của chủ nghĩa cộng sản cũng như của các lãnh tụ cộng sản, nói chung. Riêng ông Hồ, thì tội ác đó còn lớn gấp bội phần bởi ngoài tội ác thảm sát đồng bào trong cải cách ruộng đất, trong Tổng Công Kích Và Nỗi Dậy Mậu Thân 1968, thì việc Hồ Chí Minh đã bí mật thủ tiêu những cộng sự của mình cũng như đã thanh trừng những người yêu nước thuộc các đảng phái chính trị không cộng sản khác cũng là một đại tội ác. Đó là chưa nói đến việc thế giới loài người đã khám phá ra rằng Hồ Chí Minh chính là Hồ Tập Chương, một trùm tình báo của Hoa Nam được cài cắm vào Việt Nam để thực hiện kế hoạch Hán Hóa Việt Nam. Vậy thì làm sao Hồ Chí Minh lại có thể là một anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam hay một danh nhân văn hóa để được UNESCO vinh danh như tổ chức này đã từng vinh danh nhà van hóa, quân sự, chính trị Nguyễn Trãi được?
china admits 320000 troops in viet nam
Là một học trò trung thành của Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp chính là kẻ đã hiện thực hóa mọi chương trình, kế hoạch đấu tố, nướng quân và thảm sát đồng bào do Hồ Chí Minh hoạch định, thì Giáp đích thực là một đại đồ tể, một đại tội đồ của dân tộc giống như Hồ Chí Minh, thì hà cớ gì nhà cầm quyền Việt Nam lại “đề nghị Tổ chức Giáo dục - Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) vinh danh Đại tướng Võ Nguyên Giáp là anh hùng giải phóng dân tộc và nhà quân sự kiệt xuất thế giới.” Bởi đây là một hành động làm nhục cả dân tộc Việt Nam, bởi hành động này của Lê Như Tiến, của Quốc Hội và nhà nước Việt Nam chẳng khác nào đi đề xuất UNESCO vinh danh Adolf Hitler, Mussolini, Joseph Staline, Pol Pot, Iêng Sary, Mao Trạch Đông Bin Laden... và những tội phạm chiến tranh khác cùng những trùm khủng bố khác là anh hùng giải phóng dân tộc, là danh nhân văn hóa thế giới?
Trải qua những xung đột giữa các nền văn hóa, văn minh của nhân loại, con người đã đúc kết được rằng không có cuộc chiến tranh nào là tốt đẹp và cũng chẳng có nền hòa bình nào là tồi tệ cả, vậy thì Tướng Giáp, kẻ đã được coi là chiến thắng, khi đã tiếp đón hơn 300.000 binh lính Tàu Ô cùng với hàng triệu thanh niên Việt Nam bị đưa vào cuộc chiến, với vũ khí của Nga, Tàu để truy diệt hàng triệu đồng bào, đồng chủng của mình để dành quyền cai trị đất nước cho đảng, cho giai cấp của tướng Giáp, thì Giáp có phải là một anh hùng giải phóng dân tộc hay chỉ là một tội phạm chiến tranh, một đại tội đồ tàn hại dân tộc?
Vì vậy, với tư cách là một công dân của nước Việt, chúng tôi yêu cầu đảng cộng sản Việt Nam, Quốc Hội Nước CHXHCN Việt Nam và nhà nước Việt Nam chấm dứt ngay việc làm ngu xuẩn là đề nghị UNESCO vinh danh tướng Giáp,  bởi sự ngu xuẩn đó của quý vị không chỉ mang lại nỗi nhục riêng cho những người cộng sản quý vị, mà còn lây cái nhục đến cho tất cả những người Việt Nam dù không phải là cộng sản, dù hiện không ở trên đất nước Việt Nam, nhưng vẫn mang trong mình dòng máu Việt.
Bởi Tổ tiên Việt Nam chúng ta há đã chẳng dạy dỗ cháu con rằng: “Người dại để l… người khôn xấu hổ” đó sao!
Nguyễn Thu Trâm, 8406
Trúc-Lâm Yên-Tử Trên Mạng Xã Hội:
facebook

Chuyện quân đội TC có mặt tại chiến trường Việt Nam ai cũng biết chỉ có VC là không dám lên tiếng công nhận mà thôi.


CÀNG HUÊNH HOANG BỐC PHÉT VỀ ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN


---------- Forwarded message ----------
From: minhthuy nguyen thi 



Chuyện quân đội TC có mặt tại chiến trường Việt Nam ai cũng biết chỉ có VC là không dám lên tiếng công nhận mà thôi. 


 zleductho -hanthu



---------- Forwarded message ----------
NHỮNG ĐIỀU KINH HOÀNG MÀ BẠN CHƯA BIẾT VỀ "ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN 30/4 NĂM 1975.


Thuy Trang Nguyen's photo.
Thuy Trang Nguyen's photo.


TÂM SỰ: NHỮNG ĐIỀU KINH HOÀNG MÀ BẠN CHƯA BIẾT VỀ "ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN 30/4 NĂM 1975".

Nhiều bạn chưa biết là gia đình Thùy Trang có 3 đời theo Cộng Sản. Từ thời... Việt Minh cho tới thời "chống Mỹ" cứu nước, gia đình mình phải nói là gia đình "CÁCH MẠNG" thứ thiệt.

Bố Thùy Trang là sĩ quan Thiết Giáp, trong năm 1975 bố đã vào SG theo đoàn quân CS. Chú ruột Thùy Trang thì từng đi tù ngoài Côn Đảo, còn Cô Thùy Trang thì làm Du Kích Việt Cộng bị máy bay trực thăng Mỹ bắn gãy đôi chân.

Lý do Thùy Trang nói về gia đình mình để các bạn biết là những gì Bố và Chú Thùy Trang kể lại sự kiện năm 1975 là sự thật mà Đảng CSVN bưng bít.

Thưa các bạn, trong cuộc chiến đánh chiếm Miền Nam VN năm 1975 "Chiến Dịch HCM" mà tướng Văn Tiến Dũng viết trong cuốc sách "Đại Thắng Mùa Xuân" thì ông ta chỉ nói sự thật có 1/3 thôi.

Các bạn có biết là Trung Quốc đã đưa sang VN năm 1975 là 10 sư đoàn, trong đó có 2 sư đoàn vũ khí nặng (pháo binh và súng cối) để giúp cho CSVN giành chiến thắng trong trận chiến 1975 không?

Chú Thùy Trang cho biết là lính Trung Quốc gửi sang 100.000 quân, hết 1/3 quân số ở lại trấn giữ Miền Bắc để cho CS BẮC VIỆT rảnh tay xua quân xâm chiếm Miền Nam.

Một trong những trận chiến mở đầu ở cao nguyên BUÔN MA THUỘT là do 2 sư đoàn Trung Quốc (cãi trang Bộ Đội VN) vây đánh, sử dụng chiến thuật "tiền pháo hậu xung" theo kiểu Mao Trạch Đông.

Lúc bấy giờ, cao nguyên BUÔN MA THUỘT của VNCH nhanh chóng bị thất thủ vì VNCH không đủ pháo binh và phi cơ yểm trợ để chống giữ, phần lớn quân số phải kéo về trấn giữ các thành phố lớn để bảo vệ cho dân.

Sau trận đánh Ban Mê Thuộc thì quân Trung Quốc tiếp tục tấn công các mặt trận khác, trong khi đó quân CS BẮC VIỆT chỉ việc vào tiếp quản. Khi quân Trung Quốc kéo tới Xuân Lộc vào ngày 22 tháng 4 thì bị Không Quân VNCH thả một trái bom CBU-55 (đốt không khí gây ngạt) ngay trên đầu sư đoàn Quảng Tây, phía báo Mỹ phỏng đoán trái bom CBU-55 nổ ở Xuân Lộc đốt hết dưỡng khí trong một vùng trên mặt đất 16.000m2, giết chết 250 người, tuy nhiên tin tình báo Phòng 2 của VNCH cho biết là chết 5.000 quân Cộng Sản đang tập trung tại một khu rừng ở Xuân Lộc, và tin nầy cũng đã đăng trên một số báo ở SG lúc bấy giờ.

Với 1 Sư đoàn hùng mạnh Quảng Tây của Trung Quốc, cộng thêm Sư đoàn bộ binh CSVN, một trung đoàn tăng, thiết giáp, và một trung đoàn pháo binh Trung Quốc, với sự hỗ trợ của Trung đoàn 95B thuộc Sư đoàn bộ binh 325 CSVN và một đại đội xe tăng với tổng quân số khoảng 40.000 do Đại tá Trung Quốc Ming Yue cùng Thiếu tướng Hoàng Cầm làm tư lệnh mà vẫn KHÔNG thể nào vượt qua khỏi được thị trấn Xuân Lộc.

Điều nầy cho thấy sự DŨNG MÃNH của quân lực VNCH chỉ có một sư đoàn 18 của tướng Lê Minh Đảo mà chọi tới 40.000 quân Cộng Sản mà vẫn giữ vững Xuân Lộc một thời gian khá lâu.

Trong kho vũ khí của Phi Trường Tân Sơn Nhất lúc bấy giờ có cả thảy là 4 trái CBU-55, nhưng tình báo Mỹ CIA đã tháo ngòi 2 trái trước khi rời khỏi phi trường Tân Sơn Nhất.

VNCH chỉ còn lại 2 trái CBU-55, đem thả 1 trái ở Xuân Lộc ngày 22 tháng 4 và trái còn lại định sử dụng ở Biên Hòa, tuy nhiên Trung Tướng Trần Văn Minh tư lệnh Không Quân VNCH không cho phép sử dụng vì lúc bấy giờ quân Trung Quốc và CS Bắc Việt đã tiến quá gần khu đông dân cư.

Thùy Trang có nói chuyện với một vài người lính VNCH, họ cũng cho biết là quân "CS Bắc Việt" biết nói tiếng Tàu khi giáp trận.

Đây là một sự thật Thùy Trang đưa lên cho các bạn tìm hiểu vì còn rất nhiều sĩ quan và lính VNCH vẫn còn sống, họ có thể làm chứng về chuyện Trung Quốc cãi trang Bộ Đội CSVN để giúp đánh chiếm Miền Nam VN trong năm 1975.

Vào tháng 10 năm 1976, Lê Duẫn đã ra lệnh gom góp hết lúa gạo của Miền Nam VN, chở sang TQ hằng chục ngàn tấn gạo để trả nợ chiến tranh.

Miền Nam đang giàu có bỗng phút chốc hóa thành nghèo khó, phải ăn cơm trấu độn với khoai sắn để sống qua ngày. Nếu cô chú bác nào đã sống ở Miền Nam VN vào thời điểm năm 1976 thì có thể minh chứng điều nầy.

(*) Quân CSVN rất khiếp sợ hình bóng của các chiến sĩ VNCH, vì lý do đó nên khi 5 thanh niên đi biểu tình Cây Xanh ở bờ Hồ đã bị Công An bắt vì họ mặc áo có in hình con ó của QLVNCH.
Cộng Sản chúng nó thấy hình ảnh VNCH cho dù là một huy hiệu thì chúng nó cũng sợ ỉa ra quần. Đó là lý do vì sao người thanh niên tên Dũng Phi Hổ đã bị bắt giam, chờ truy tố là vậy.

Nguyễn Thùy Trang




__._,_.___

Posted by: truc nguyen

Thursday, 23 April 2015

Cần gọi đúng tên cuộc chiến này


Cần gọi đúng tên cuộc chiến này

Phạm Đình Trọng

Một cuộc chiến mà hai người nồng nhiệt yêu nước – Phạm Đình Trọng và André Menras Hồ Cương Quyết (xem bài đăng dưới đây) – có cái nhìn hoàn toàn đối lập: người trước khẳng định phải “gọi đúng tên” là nội chiến, và người sau lại xác tín: “Đối với tôi, đó không phải là một cuộc nội chiến […]”. Chỉ chừng đó thôi, cũng đủ thấy cuộc chiến tranh khốc liệt ấy phức tạp và ám ảnh đến chừng nào. Thời gian 40 năm vẫn chưa đủ để hàn gắn vết thương, chưa đủ để thống nhất trong đánh giá. Nhưng mọi người đều có quyền nêu lên quan điểm của mình và nếu chế độ toàn trị xa lạ với tinh thần dân chủ thì ít nhất trên những diễn đàn của những ai ưu tư về vận nước, sự khác biệt cần được tôn trọng.
Bauxite Việt Nam
Lần thứ 40 ngày 30 tháng Tư của lịch sử đau thương mất mát, của vui nông nổi mà buồn thăm thẳm lại đến.
Suốt 40 năm qua, hệ thống tuyên truyền khổng lồ của Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền đã ngốn quá nhiều tiền thuế của dân, tiền bán tài nguyên đất nước vào việc tự huyễn hoặc mình và lừa dối người dân về ngày 30 tháng Tư năm 1975, ngày huy hoàng đại thắng, ngày vẻ vang thống nhất đất nước.
Cuộc chiến tranh mà hệ thống tuyên truyền của nhà nước Việt Nam cộng sản vẫn thần thánh hóa là cuộc chiến tranh “Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”, “Cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước” thực chất chỉ là cuộc nội chiến tội lỗi, người Việt bắn giết người Việt, hệ quả tất yếu của hiệp định Genève cắt đôi đất nước Việt Nam thành hai tiền đồn, hai trận tuyến của hai ý thức hệ quyết liệt đối kháng, tiêu diệt nhau, chia đôi dân tộc Việt Nam thành hai thế lực thù địch không đội trời chung, hai tên lính xung kích của hai lực lượng đối kháng đó. Việc chia cắt độc đoán, phũ phàng, oan nghiệt đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam hoàn toàn do những người cộng sản thực hiện, cộng sản Tàu mưu toan và áp đặt, cộng sản Việt cam tâm cúi đầu chấp nhận.
Rắp tâm làm cuộc nội chiến, lực lượng cộng sản Việt Nam ở miền Nam phải chuyển ra miền Bắc theo qui định của hiệp định Genève nhưng họ đã bí mật ém lại lượng lớn súng đạn và khá đông đội ngũ lãnh đạo cộng sản chỉ biết có đấu tranh giai cấp bạo liệt, sắt máu, không biết đến đạo lí thương yêu đùm bọc giống nòi. Đầu năm 1959, Đảng Cộng sản Việt Nam ban hành nghị quyết 15 xác định rõ việc thâu tóm miền Nam bằng bạo lực cách mạng, tiến hành chiến tranh trong lòng dân tộc, quyết thực hiện nội chiến tương tàn.
Có nghị quyết 15, những người cộng sản ở miền Bắc liền hối hả mở đường đưa súng đạn và lực lương chiến đấu vào miền Nam. Tháng năm, 1959, đường mòn từ miền Bắc xâm nhập miền Nam được mở dọc theo dãy Trường Sơn. Tháng Bảy, 1959, mở tiếp đường mòn trên biển, mở luồng mở bến cho những con tàu không số chở súng, đạn, thuốc nổ từ Đồ Sơn, Hải Phòng vào Vũng Rô, Phú Yên, Trung Bộ, vào Gành Hào, Cà Mau, Nam Bộ.
Có nghị quyết 15, cán bộ cộng sản ở lại miền Nam nằm vùng liền tổ chức, tập hợp lực lượng. Những hầm súng đạn được khui lên. Cuối năm 1959, tiếng súng nội chiến bùng nổ ở Trà Bồng, Quảng Ngãi. Ngày 17.1.1960, tiếng súng nội chiến rộ lên ở huyện Giồng Trôm và huyện Mỏ Cày, Bến Tre. Từ đó tiếng súng nội chiến lan ra khắp miền Nam. Khắp miền Nam, nơi nào cũng có lãnh đạo cộng sản nằm vùng, nơi nào cũng mịt mù lửa khói nội chiến, lênh láng máu người Việt giết người Việt. Từ đó, ngày 17.1.1960 được những người Cộng sản tự hào coi là ngày Đồng khởi vẻ vang của họ. Còn lịch sử Việt Nam phải đau buồn ghi nhận ngày 17.1.1960 là ngày khởi đầu cuộc nội chiến Nam Bắc.
Chiến tranh vũ trang thảm khốc và chiến tranh chính trị lừa dối do những người cộng sản phát động đã đẩy chính quyền Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam vào cuộc khủng hoảng nặng nề, triền miên không có điểm dừng. Trước nguy cơ sụp đổ của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, một chính quyền được tổ chức theo mô hình dân chủ văn minh, có tam quyền phân lập thực sự, nhờ thế người dân miền Nam bước đầu đã có tự do dân chủ thực sự, một chính quyền đang chiến đấu ngăn chặn sự tràn lan bạo lực cộng sản; trước nguy cơ cả Đông Nam Á bị tràn ngập trong sắt máu bạo lực cộng sản, năm 1965, sáu năm sau nghị quyết 15 của Đảng Cộng sản Việt Nam sử dụng bạo lực thâu tóm miền Nam, gần sáu năm sau tiếng súng nội chiến bùng nổ ở miền Nam, Mĩ mới đưa quân vào miền Nam Việt Nam cứu đồng minh Việt Nam Cộng hòa trước nguy cơ sụp đổ và củng cố một tiền đồn ngăn chặn cơn thác lũ cách mạng bạo lực cộng sản đang ở đỉnh cao trào.
Năm 1965, quân đội Mĩ đổ vào Việt Nam cũng như năm 1944 quân đội Mĩ đổ bộ vào châu Âu trong chiến tranh thế giới thứ hai, cũng như năm 1950 quân đội Mĩ đổ bộ lên bán đảo Triều Tiên đều không có mục đích xâm lược, không đánh chiếm lãnh thổ mà chỉ để làm trách nhiệm của một đồng minh và làm trách nhiệm của một nước lớn bảo đảm một thế giới ổn định, công bằng, bảo vệ những giá trị tự do, dân chủ của con người, ngăn chặn thảm họa phát xít thời thế chiến hai và ngăn chặn thảm họa cộng sản đang như bệnh dịch nhấn chìm thế giới vào hận thù đấu tranh giai cấp, vào bạo lực chuyên chính vô sản và nô dịch con người.
Cần giấu biến cuộc nội xâm tội lỗi của ý thức hệ giai cấp, cuộc nội xâm mang hận thù giai cấp vay mượn, mang tư tưởng bạo lực chuyên chính vô sản ngoại lai, mang súng đạn của thế giới cộng sản về đánh phá dân tộc, nô dịch nhân dân, thống trị đất nước, ngay từ khi phát động cuộc nội chiến phi nghĩa núp bóng cuộc chiến tranh chính nghĩa “giải phóng miền Nam”, những người cộng sản đã vẽ ra con ngáo ộp “đế quốc Mĩ” hiếu chiến, tham tàn, man rợ hù dọa người dân, đã lôi “đế quốc Mĩ” vào tham chiến để biến cuộc nội chiến thành cuộc thánh chiến như lời bài hát của nhạc sĩ cộng sản Lưu Hữu Phước sáng tác năm 1960: “Giải phóng miền Nam chúng ta cùng quyết tiến bước / Diệt đế quốc Mĩ phá tan bè lũ bán nước”. Năm 1965, những đơn vị tinh nhuệ, hiện đại nức tiếng của quân đội Mĩ, những sư đoàn Kị Binh Bay Số 1, lữ đoàn Tia Chớp Nhiệt Đới… với xe tăng lổm ngổm bò kín đất Vạn Tường, Quảng Ngãi, máy bay lên thẳng vè vè rợp trời Bông Trang Nhà Đỏ, Bình Dương thì hệ thống tuyên truyền nhà nước Việt Nam cộng sản như bắt được vàng, như được trích một liều đô pinh mạnh, họ reo lên: “Có những ngày vui sao cả nước lên đường / Xao xuyến bờ tre từng hồi trống giục… Bộ đội dân công trùng trùng điệp điệp / Chào nhau không kịp nhớ mặt nhớ tên / Đội ngũ ta đi dài theo tiếng hát…”. Đó là thơ của nhà thơ quân đội Nhân dân Việt Nam, Chính Hữu. Khi reo lên như vậy, năm 1966, nhà thơ Chính Hữu là thiếu tá ở cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị. Lúc chết, năm 2007, ông là đại tá.
Đây không phải là niềm vui của người lính bị dồn ra trận. Đi vào chỗ chết, đi vào cuộc chiến người Việt bắn giết người Việt, làm sao vui được. Đây là niềm vui tuyên huấn, niềm vui cộng sản. Niềm vui của những người đã đánh tráo được tên gọi cuộc nội chiến tương tàn thành cuộc thánh chiến hào hùng “Chống Mĩ cứu nước”. Niềm vui đã đưa được cả nước vào cuộc nội chiến ngùn ngụt hận thù giai cấp, người Việt vô sản say mê bắn giết người Việt tư sản. Niềm vui khi thấy hai anh em ruột thịt cùng cha cùng mẹ ở hai chiến tuyến ý thức hệ xả súng vào ngực nhau, quăng lựu đạn vào đầu nhau!
Quân đội Mĩ vào tham chiến bên những người lính Việt Nam Cộng hòa có làm cho cuộc nội chiến do những người cộng sản tiến hành chựng lại, tốc độ khuất phục, thâu tóm dải đất miền Nam của họ chậm lại nhưng không làm thay đổi bản chất cuộc nội chiến vì ý chí cộng sản dùng bạo lực khuất phục dải đất miền Nam không thay đổi. Không thay đổi ý chí cộng sản dùng máu người Việt để thống nhất trong tay họ đất nước Việt Nam mà chính họ đã chia cắt.
Nếu thực sự là cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước thì khi quân đội Mĩ giảm vai trò, giảm sự có mặt trong cuộc chiến, mức độ ác liệt của cuộc chiến phải giảm và khi quân đội Mĩ rút hết khỏi Việt Nam thì cuộc chiến phải kết thúc. Không! Từ năm 1970, Mĩ thực hiện Việt Nam hóa chiến tranh, quân đội Mĩ giao lại vai trò chủ thể chiến trường cho quân đội Việt Nam Cộng hòa, quân đội Mĩ không trực tiếp tham chiến nữa, họ chỉ trợ chiến, yểm trợ hỏa lực. Khi quân đội Việt Nam Cộng hòa độc lập tác chiến trên các mặt trận, trực tiếp đối đầu với những người lính Việt Nam phía bên kia là lúc diễn ra những trận đánh đẫm máu nhất, những người lính Việt Nam ở cả hai phía, Việt Nam Cộng hòa và Việt Nam Cộng sản chết trận nhiều nhất. Những điểm quyết chiến ở Snoul, Mỏ Vẹt, biên giới Việt Nam – Campuchia, ở đường 13, ở đường 9 – Nam Lào, ở thành cổ Quảng Trị trở thành những cái cối xay thịt nghiền nát hết trung đoàn, lữ đoàn lính Việt Nam này đến trung đoàn, lữ đoàn lính Việt Nam khác của cả hai phía.
Từ khi cuộc nội chiến bùng nổ, chưa bao giờ những người lính Việt Nam Cộng hòa và những người lính Việt Nam Cộng sản chết nhiều như trong chiến dịch đường 9 – Nam Lào đầu năm 1971.
Từ khi cuộc nội chiến nổ ra, chưa bao giờ những người lính Việt Nam Cộng hòa và những người lính Việt Nam Cộng sản chết nhiều như trong trận hai bên giành giật nhau thành cổ Quảng Trị hè thu năm 1972, thời gian miền Trung bước vào mùa mưa xối xả. Mưa ở Quảng Trị năm 1972 trở thành những trận mưa máu. Máu nhào đất thành cổ Quảng Trị thành bùn nhão nhoét, đỏ lòm và tanh tưởi. Dòng sông Thạch Hãn ngàn đời trong xanh bỗng trở thành dòng sông máu, loang đỏ máu lính Việt Nam. Lính chết không kịp chôn. Quân số bổ sung liên tục mà  không còn lính sống để chôn lính chết. Người lính Lê Bá Dương may mắn sống sót đã viết về những đồng đội không có người vớt lên chôn cất còn mãi mãi nằm lại với sông Thạch Hãn: “Đò lên Thạch Hãn xin chèo nhẹ / Đáy sông còn đó bạn tôi nằm / Có tuổi hai mươi thành sóng nước / Vỗ vô bờ mãi mãi ngàn năm”.
Nước lênh láng ba phần tư diện tích trái đất được nhà thơ Xuân Diệu coi đó là nước mắt đau khổ của loài người: “Trái đất ba phần tư nước mắt / Đi như giọt lệ giữa không trung”. Ba phần tư lịch sử Việt Nam cũng là lịch sử chiến tranh, là máu và nước mắt. Trong những cuộc chiến tranh liên miên đó chưa có cuộc chiến tranh nào mà người Việt lại quyết liệt, say mê giết người Việt như trong cuộc nội chiến do những người Cộng sản Việt Nam phát động giữa thế kỉ hai mươi.
Năm 1973, quân đội Mĩ rút khỏi Việt Nam thì những người Cộng sản càng đẩy mạnh cuộc nội chiến để chỉ hai năm sau họ thâu tóm hoàn toàn miền Nam vào ngày 30.4.1975.
Là cuộc nội chiến nên đích cuối cùng những người lính Việt Nam Cộng sản đến không phải là tổng hành dinh quân đội Mĩ mà là dinh Độc lập, nơi làm việc của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, người quản lí một nửa lãnh thổ Việt Nam, người lãnh đạo một nửa dân số Việt Nam.
Là cuộc nội chiến nên lá cờ những người lính Việt Nam Cộng sản hạ xuống ở dinh Độc lập ngày 30. 4. 1975 không phải là lá cờ Mĩ mà là lá cờ Việt Nam Cộng hòa, lá cờ quốc gia của một nửa lãnh thổ Việt Nam, lá cờ Tổ quốc của một nửa dân tộc Việt Nam.
Những người Cộng sản Việt Nam đã cắt đôi đất nước Việt Nam, chia đôi dân tộc Việt Nam rồi họ lại lấy máu của chính dân tộc Việt Nam để thống nhất đất nước, để họ nghiễm nhiên thống trị cả nước không cần lá phiếu bầu chọn của người dân! Những người Cộng sản Việt Nam coi đó là chiến thắng vĩ đại của họ. Còn với dân tộc Việt Nam đó là keo thua đau đớn tức tưởi! Với những người dân miền Nam đã được sống trong tự do dân chủ, nay mất cả quyền con người, quyền công dân, không được quyền bầu chọn người quản lí đất nước, người lãnh đạo dân chúng, còn cái thua nào đau hơn!
Điểm lại những sự kiện chính của cuộc chiến tranh do những người cộng sản Việt Nam phát động từ 1960 đến ngày kết thúc 30.4.1975 để thấy rõ cuộc chiến này dứt khoát không phải là cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc mà chỉ là cuộc nội chiến đẫm máu nhất, tội lỗi nhất trong lịch sử Việt Nam để Đảng Cộng sản Việt Nam giành quyền thống trị cả nước, nô dịch cả dân tộc Việt Nam.
Bản chất cuộc nội chiến càng lộ rõ ngay cả khi cuộc chiến đã kết thúc. Nếu cuộc chiến tranh kết thúc ngày 30.4.1975 là “Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước” thì cuộc chiến tranh đó trước hết phải giải phóng người dân miền Nam khỏi sự nô dịch của đế quốc Mĩ như hệ thống tuyên giáo cộng sản vẫn ra rả tuyên truyền, để người dân miền Nam trở về với dân tộc Việt Nam yêu thương. Đất nước thống nhất trước hết phải thống nhất trong tình cảm, ý chí người dân. 40 năm đã qua, sự thống nhất đó vẫn chưa hề có. Cuộc chiến tranh kết thúc ngày 30.4.1975 chỉ giải phóng đất đai miền Nam để người thắng cuộc thâu tóm, thống trị cả nước, còn người dân miền Nam vẫn bị người thắng cuộc coi là thù địch. Chỉ là cuộc nội chiến, người Việt Cộng sản làm chiến tranh để tiêu diệt người Việt Cộng hòa. Người Việt Cộng hòa có may mắn thoát chết trong cuộc nội chiến khốc liệt, tàn bạo đó cũng bị loại bỏ khỏi sinh hoạt xã hội, trở thành những người tù không án, bị giam cầm mút mùa không thời hạn trong những nhà tù hà khắc.
Trước 30.4.1975 một ngày, Đô đốc Elmo Zum Walt Jr., Tư lệnh hải quân Mĩ ở Việt Nam điều một máy bay vận tải C130 từ Philippines đến Tân Sơn Nhất đón cả gia đình Đô đốc Trần Văn Chơn của Hải quân Việt Nam Cộng hòa sang Mĩ tị nạn. Đô đốc Trần Văn Chơn đã từ chối ra đi để được ở lại làm người dân Việt Nam sống cuộc đời bình yên với đất nước yêu thương đã hết chiến tranh. Nhưng những người Cộng sản thắng cuộc trong cuộc nội chiến vẫn coi những người như Đô đốc Trần Văn Chơn là đối tượng phải loại bỏ của cuộc nội chiến, họ nào có để cho ông được yên. Đô đốc Trần Văn Chơn ở tuổi ngoài sáu mươi bị tống vào nhà tù với tên gọi trại tập trung mỏi mòn mười ba năm trời.
Những ngày ngục tù tăm tối, cực khổ, Đô đốc Trần Văn Chơn mới nhận ra rằng nhà nước Việt Nam Cộng sản chỉ là nhà nước của một giai cấp hão huyền nào đó chứ không phải nhà nước của dân tộc Việt Nam. Người Việt Nam chân chính dù yêu nước nhưng không Cộng sản cũng không thể sống bình yên trên đất nước thương yêu của mình. Ra tù dù đã gần tám mươi tuổi, chân đã yếu, mắt đã mờ, đã gần đất xa trời, dù muốn được gửi nắm xương tàn vào đất Mẹ Việt Nam bên ông bà, tổ tiên, Đô đốc Trần Văn Chơn cũng phải ngậm ngùi gạt nước mắt ra đi, tìm đến đất nước xa lạ nhưng mở lòng bao dung đón nhận ông. Vài triệu người Việt Nam đã phải bỏ nước ra đi trong nước mắt như Đô đốc Trần Văn Chơn là nỗi đau, nỗi uất hận khó nguôi ngoai của dân tộc Việt Nam. Suốt bốn ngàn năm lịch sử có khi nào dân tộc Việt Nam bị thua đau đến như vậy!
Ngày 30.4.1975 là ngày chiến thắng vĩ đại của những người cộng sản chỉ biết có giai cấp, không biết đến dân tộc nhưng là ngày thua đau của cả dân tộc Việt Nam. Dân tộc Việt Nam đã bị thua đau, bị chết mòn trong cuộc nội chiến núi xương sông máu nay lại bị đòn thù giai cấp đánh vào trái tim con người, đánh vào đạo lí xã hội, đánh vào lẽ sống còn của dân tộc làm cho dân tộc li tán tan tác và ngày 30.4.1975 là ngày khởi đầu của cuộc đại li tán dân tộc.
Ngày 30.4.1975 sau thoáng vui nông nổi mau qua đi, người dân liền phải nhận ra một sự thật cay đắng. Sự thật của lịch sử trớ trêu: Cái hung tàn thắng cái văn minh. Sự thật trắng tay của người dân. Bao thế hệ người dân Việt Nam đổ máu trong cuộc chiến đấu cho đất nước độc lập, cho người dân được tự do. Cuộc chiến kết thúc, trở về xã hội dân sự mới lồ lộ ra một thực tế: Tự do của người dân không có mà độc lập của đất nước cũng không! Quyền yêu nước của người dân cũng bị tươc đoạt. Đất nước ngày càng phụ thuộc và mất dần vào tay kẻ thù truyền kiếp của lịch sử Việt Nam nhưng là đồng chí cùng lí tưởng, cùng ý thức hệ, là bạn vàng bốn tốt của Đảng Cộng sản Việt Nam!
P. Đ. T.
Tác giả gửi BVN.

__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh

Wednesday, 22 April 2015

Nhắn nhà cầm quyền Việt Nam: Đừng bỏ lỡ tín hiệu


Nhắn nhà cầm quyền Việt Nam: Đừng bỏ lỡ tín hiệu

Thục Quyên

Tin tức dồn dập nhiều tuần nay, từ cuộc đình công qui mô của công nhân công ty PouYuen tại quận Bình Tân, Sài Gòn, để bảo vệ quyền lợi của mình,tới những cuộc biểu tình chống đốn cây xanh tại thủ đô Hà Nội để bảo vệ môi trường sống, rồi một gia đình dân oan liều chết chống trả lực lượng cưỡng chế đất, và hôm qua người dân Tuy Phong, ngạt thở vì khói bụi của nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2, ngạt thở luôn cả vì thái độ vô trách nhiệm của nhà nước bấy lâu nay, đã ào ra quốc lộ 1A gây ra một cuộc nghẽn xe khổng lồ. Cảnh sát cơ động ùa tới. Đáng lo ngại vì đã có xuất hiện gạch đá và bom xăng, chưa xác định đến từ thành phần nào trong đám người biểu tình.

Cũng hôm qua, khoảng 10 giờ sáng ngày 17/04/2015tù nhân lương tâm Mai Thị Dung, một phật tử Hoà Hảo, cuối cùng đã được trả tự do vô điều kiện sau hơn chín năm rưỡi, dù thân xác hao mòn tiều tụy vì tù đày khắc nghiệt, vẫn nhất quyết không ký giấy nhận tội”gây rối trật tự công cộng” đã do nhà nước cộng sản đặt dựng. 

Bản thông cáo báo chí gia đình chị Mai Thị Dung gửi ra, thay tiếng nói đầu tiên của chị khi vừa về tới gia đình, là lời cám ơn thật đầy đủ đến
“những cá nhân và tổ chức đã đồng hành cùng với gia đình bà trong việc vận động nhà nước Việt Nam trả tự do vô điều kiện cho bà:
  • Người bảo trợ: ông Frank Heinrich, dân biểu Quốc hội CHLB Đức;
  • Các phái bộ ngoại giao tại Việt Nam, đặc biêt là Đại sứ quán Đức, Hoa Kỳ, Úc-Đại-Lợi, Gia-Nã-Đại vàPhái bộ Liên minh Âu Châu;
  • Ông Báo cáo viên Đặc biệt về Tự do Tôn giáo, Tín ngưỡng của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc;
  • CácTổ chức Nhân quyền quốc tế, đặc biệt là tổ chức VETO! Mạng lưới những Người Bảo vệ Nhân quyền;
  • Nhiều tổ chức xã hội dân sự tại Việt Nam, đặc biệt là Hội Ái hữu Tù nhân Chính trị và Tôn giáo Việt Nam và Hội Bầu bí Tương thân;
  • Quý đồng đạo PGHH và các tín hữu Công giáo, Phật giáo, Tin Lành và Cao Đài.”
Bên cạnh cách xử sự đúng theo lễ nghĩa Á Đông, bản thông cáo cũng là một tín hiệu quan trọng cho nhà cầm quyền Việt Nam: sự đoàn kết nhịp nhàng chặt chẽ đầy tình thương của người dân từ Nam tới Bắc, từ trong tới ngoài nước, giữa tín đồ các tôn giáo, đã có hiệu lực kéo tất cả đại diện các quốc gia cùng các tổ chức quốc tế nhập cuộc, ủng hộ cuộc tranh đấu đòi nhân quyền của chị Mai Thị Dung và gia đình.

Những hình thức một chế độ độc đảng sử dụng để áp bức người dân thân cô thế cô, những thủ đoạn chia rẽ dân để dễ ức hiếp và bịt mắt quốc tế không còn hiệu lực: những người đang tiếp tục gieo đau thương cho dân tộc, hãy dừng lại trước khi quá trễ!

Hãy dừng lại! Đừng mưu đồ chia dân tộc làm hai phe một lần nữa!

Lần này người dân không còn mắc lừa để Nam-Bắc súng đạn giết nhau, nhưng từ Nam tới Bắc, bây giờ là những chiến trường nhỏ nơi người cảnh sát cơ động mang dùi cui, khiên mũ bảo vệ, áo giáp, đứng nghênh chiến với người dân nghèo chân lấm tay bùn.

Những người chủ chốt thừa biết là trong tình thế hiện tại, khi họ còn đang ve vuốt thế giới hỗ trợ kinh tế để sống còn, thì giải pháp bất nhân Thiên An Môn của Trung Cộng không thể đem ra áp dụng được. Không lấy được xe tăng nghiền nát người dân thì chỉ còn cách vẽ mặt bôi vôi để những người cùng máu mủ bỗng trở thành thù nghịch, kẻ “công an” người “phản động”, bị đẩy vào tình thế chém giết lẫn nhau.Bên này bị thương, bên kia bị thương, bên này chết, rồi bên kia cũng chết.

Thế là lại máu chảy thịt rơi, oán thù chồng chất.

Trở lại với người tù lương tâm Mai Thị Dung vừa được thả.
Chị đã kể cho tôi nghe từ ngày những nhân viên các toà đại sứ cho chồng chị là anh Võ Văn Bửu biết họ đang can thiệp đòi tự do cho chị, thì bỗng chốc những tên công an hắc ám đã trở thành những cai tù không quá khắc nghiệt, cư xử bớt hống hách. Bỗng chốc công an lại có chút “người”trong giọng nói, trong ánh mắt.

Làm tôi nghĩ tới những người công an, cảnh sát cơ động núp đằng sau khiên mũ. Chắc chắn phải còn những người còn có tính người. Dù họ là những người trẻ không biết cuộc nội chiến tương tàn, không biết đến những núi xương biển thịt chồng chất của cha chú họ, nhưng với những tin tức đa chiều của thế giới ngày hôm nay, họ không thể mù quáng đến nỗi họ không hiểu mình đang bị sai sử và đồng thời bị vắt chanh bỏ vỏ.

Nhìn những người cảnh sát cơ động Việt Nam, không khỏi nhớ tới những người lính và công an Đức ngày 9/10/1989 tại thành phố Leipzig, Cộng hoà Dân chủ Đức.

Được tin dân chúng sẽ đổ ra đường, chính quyền cộng sản Đông Đức lúc đó đã huy động 8.000 lính và công an mang vũ khí sẵn sàng ra tay, và tung tin sẽ thi hành “giải pháp Trung Hoa”, nghĩa là sẽ dùng biện pháp đẫm máu của Thiên An Môn. Các bác sĩ, nhân viên nhà thương, được lệnh trực 24/24 chờ đợi một cuộc đổ máu trên đường phố Leipzig.Từ hai giờ trưa, 600 thành viên của SED (Đảng Cộng sản Đức) đã chiếm đóng nhà thờ Nikolai, điểm tụ họp của cuộc biểu tình.

Dân chúng Leipzig tiếp tục đổ ra đường, hô to những khẩu hiệu “Nhân dân là chúng tôi. Chúng tôi là nhân dân”và “Chúng tôi nhất quyết ở lại” (để nói lên ý chí ở lại Đông Đức để tranh đấu chứ không xin xuất ngoại mong cầu sự yên thân của chính mình).

Sau một lễ cầu nguyện cho Hoà Bình, 70.000 người cuồn cuộn di chuyển từ nhà thờ Nikolai về hướng Nhà Hát lớn ở trung tâm thành phố. Con số khổng lồ những người tham dự biểu tình bất kể những tin đe dọa đã vượt quá sức tưởng tượng của chính phủ. Những cú điện thoại về chính phủ trung ương xin ý kiến không được hồi âm. Nhà cầm quyền hoàn toàn bất lực.

Trong khi đó đoàn người biểu tình tiếp tục giữ tinh thần bất bạo động và tiến tới.

Sự căng thẳng lên đến cực điểm.

Khi làn sóng người tới trước Ga xe lửa Leipzig thì một sự mầu nhiệm xảy ra: Lính và Công an võ trang lùi dần và tuần tự rút đi. Hơn 70.000 ngọn nến Hoà Bình được đốt lên.
Và đoàn biểu tình giải tán trong trật tự vào lúc 20:00.
Đó là một dấu mốc lịch sử của nước Đức và của thế giới.
Ngày 9/11/1989 bức tường Bá Linh sụp đổ.

Ngày 3/10/1990 Cộng Hoà Dân Chủ Đức chấm dứt tồn tại.
Quốc gia Đức thống nhất lãnh thổ không đổ một giọt máu.
Lạy hồn thiêng sông núi để những người con của Mẹ Việt Nam cũng sáng suốt như những người dân và người lính Đức. Theo gương Thầy tôi, Thiền sư Nhất Hạnh, xin chắp tay nguyện cầu cho bồ câu trắng xuất hiện.

T. Q.
Tác giả gửi BVN.

__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh 

Tuesday, 21 April 2015

Vẹt Vũ quang hiển hót bài con kẹt


Vẹt Vũ quang hiển hót bài con kẹt

Một “truth denier” của Việt Nam

GS Nguyễn Văn Tuấn

Các bạn phải chuẩn bị tinh thần! Phải bình tĩnh để đọc phát ngôn sau đây: “Tôi nghĩ rằng sau chiến tranh, Việt Nam không có ngược đãi đối với mọi người. Bởi vì chính sách lúc ấy của nhà nước Việt Nam là chính sách hòa hợp dân tộc. […]Thế còn việc tập trung học tập hay cải tạo, tôi nghĩ đấy là để học cho nó rõ chính sách của nhà nước Việt Nam thời bấy giờ. […] Chứ không có nghĩa là một chế độ tù đày” (1). Nếu có thì giờ, nên nghe cái tape phỏng vấn và những phát biểu của ông thì sẽ rõ hơn, nhưng ý chính là như trích dẫn trên.
Ai nói thế? Xin thưa, đó là Tiến sĩ Vũ Quang Hiển, phó giáo sư, sử gia của Đại học Quốc gia Hà Nội (2). Xin nhắc lại để khỏi nhầm lẫn: sử gia của Đại học Quốc gia Hà Nội. Nhìn qua lí lịch khoa học thì thấy đây là một sử gia rất tiêu biểu của “triều đình” (còn gọi là sử gia cung đình).
Tôi nghĩ câu nói đó đã đủ để ông có thêm một chức danh mới, nói theo tiếng Anh là “truth denier”, tức là kẻ phủ nhận sự thật. Rất nhiều người, không phải là sử gia, có thể thấy ngay rằng ông đã sai lầm. Tù cải tạo là một thực tế đã xảy ra. Nhục hình, tra tấn, đánh đập đã xảy ra. Có nhiều người chết trong các trại tù cải tạo. Tất cả những điều đó là sự thật. Ấy thế mà ông phó giáo sư sử học lại phủ nhận thì chúng ta có lí do để chất vấn tính trung thực của ông ấy, dù là tính trung thực của người làm khoa học xã hội.
Có bao nhiêu người đi tù cải tạo?
Con số tù cải tạo chính xác thì rất khó có được vì phía chính quyền nắm giữ và họ chưa tiết lộ. Nhưng trang wikipedia có hẳn một entry dành cho tù cải tạo (3). Dò theo nguồn này, chúng ta sẽ thấy một số nguồn ước tính, và con số tù cải tạo rất lớn. Đáng chú ý là một bài trên thuvienhoasen.info thấy tác giả trích dẫn tài liệu mang bí số TN/QP-14 ngày 14/2/1977 tại Cục lưu trữ Quốc phòng thì: “Tổng số tù nhân tham gia học tập cải tạo để trở thành con người mới sau khi chế độ Sài Gòn đầu hàng là 1.321.506 người. Trừ những số trốn trại, bị chết trong lúc cải tạo và già yếu trả về với gia đình, bộ quốc phòng giao lại cho bộ nội vụ quản lý là 1.236.569 người” (4). Rất tiếc là tác giả không cho thấy hình ảnh, nhưng hãy tạm xem đó là một nghi vấn.
Tài liệu đó (4) cũng có trích dẫn tài liệu từ Viện bảo tàng VN tại San Jose với vài thống kê từ phía VNCH như sau:
  • Năm 1975, miền Nam VN có 980 ngàn quân nhân; trong số này có khoảng 9600 cấp tá + tướng, 80000 là cấp uý.
  • Cấp tướng tính đến ngày 30/4/1975 là 112 người, trong số này bị bắt làm tù cải tạo là 32 người, còn 80 thì di tản ra nước ngoài.
  • Cấp đại tá có 600, trong số này bị bắt cải tạo là 366 người.
  • Cấp trung tá có 2500 người, tù cải tạo là 1700 người.
  • Thiếu tá có 6500 người, tù cải tạo là 5500 người.
  • Cấp uý có 80000 người, bị bắt đi tù cải tạo là 72000 người.
Theo tác giả cuốn “Le Livre Noir du Communisme: Crimes, Terreur, Repression” của Robert Laffront thì “Sau năm 1975 ở miền Nam có hơn 1.000.000 người thuộc diện phải ra trình diện. Theo đó Phạm Văn Đồng đã chỉ đạo bắt giữ con số người phải trải qua giam giữ sau này 30/4/1975 là hơn 200.000 trong tổng số 1 triệu người ra trình diện. Tính đến năm 1980 thì chính phủ Việt Nam công nhận còn 26.000 người còn giam trong trại. Tuy nhiên 1 số quan sát viên ngoại quốc ước tính khoảng 100.000 đến 300.000 vẫn bị giam. Ước tính của Hoa Kỳ cho rằng khoảng 165.000 người đã chết trong khi bị giam” (trích từ #4).
Một tài liệu tổng hợp khá công phu từ những chứng nhân và học giả từ Đông Nam Á, nhóm tác giả đi đến những ước tính là có khoảng 1 triệu người bị giam giữ không được xét xử; trong số này có đến 165 ngàn người chết trong các trại tù cải tạo (5).
Theo báo cáo của Quĩ Aurora thì năm 1983 có hơn 1 triệu người miền Nam đã bị bắt đi “cải tạo”. Lúc đó, Việt Nam có trên 150 trại cải tạo. Trong số trên 1 triệu đó, có khoảng 500 ngàn người được trả tự do trong vòng 3 tháng; 200 ngàn bị tù từ 2-4 năm; và 240 ngàn bị tù trên 4 năm; và vài chục ngàn tù trên 10 năm. Có thể nói thời đó, gia đình nào ở miền Nam cũng có người bị bắt đi tù cải tạo.
Địa ngục trần gian
Trại cải tạo thường được các trại viên mô tả là “địa ngục trần gian”. Có người còn nói rằng những trại ở Siberia của Stalin chưa chắc thấm gì so với trại tù cải tạo ở Việt Nam, vì thiếu thốn đủ thứ. (Thời đó thì cả nước thiếu thốn lương thực, thực phẩm và thuốc men & thiết bị y tế, chứ chẳng riêng gì trại tù.) Đã có hàng ngàn tài liệu viết về tù cải tạo, và thông tin thường rất nhất quán với nhau. Tôi không thể nào kể hết, nhưng những cuốn sách nổi bậc nhất mà tôi từng đọc qua là “Đại học máu” của Hà Thúc Sinh, “Đáy địa ngục” của Tạ Tỵ, “AK và Thập giá” của Phan Phát Huồn, sách của Duyên Anh, những bài viết của sử gia Tạ Chí Đại Trường, và các cựu sĩ quan VNCH. Riêng cuốn “Trại cải tạo” của Phạm Quang Gai có phác hoạ bằng tay những nhục hình được các nhà tù sử dụng thời đó.
Những gì mà các cựu tù nhân kể qua thì thấy họ bị hành hạ về thể xác lẫn tinh thần. Như tôi nói trên, họ kể một cách rất nhất quán. Rất nhiều hồi kí kể rằng trong tù quản giáo ít khi tra tấn tù nhân, nhưng họ có cách làm cho tù nhân chết dần chết mòn: bỏ đói. Như tác giả Phạm Quang Giai mô tả, “Họ lôi cái máy này đến mọi nơi, mọi chốn có tù nhân chính trị miền Nam để trả thù, trả hận mà vẫn không mang tiến là ác độc, là giết người.”
Trong thực tế, đi tù cải tạo cũng là một cuộc tẩy não. Các tù nhân bị bắt buộc phải viết kiểm điểm liên tục, và lần nào cũng phải viết “Ðả phá chủ nghĩa đế quốc Mĩ, kẻ thù của nhân dân Việt Nam và thế giới. Sự thất bại của chủ nghĩa đế quốc Mĩ; Ðế quốc Mĩ là con đỉa hai vòi: một vòi hút máu mủ nhân dân trong nước, còn vòi kia vươn sang các nước khác để hút máu mủ nhân dân các nước này bằng cách bán súng đạn, tạo ra các cuộc chiến tranh diệt chủng. Tội ác của ngụy quyền ngụy quân miền Nam, bán nước, tay sai. Chính sách khoan hồng của Ðảng, nghĩa vụ của người có tội, lao động là vinh quang. Những thắng lợi vĩ đại của nhân dân Việt Nam.”
Theo Hà Thúc Sinh, trong cuốn “Đại học Máu” nổi tiếng, thì khi tù nhân nhập trại họ được đưa “chỉ tiêu” như sau:
”Tôi không bao giờ quên rằng tôi là kẻ có tội với Đảng, với Tổ Quốc, với nhân dân. Tôi cũng không quên rằng Đảng đã khoan hồng tha tội chết cho tôi, lại tập trung tôi lại, tạo điều kiện cho tôi học tập cải tạo để trở nên người công dân lương thiện. Để đền ơn Đảng, tôi nhất trí:
1.  Tích cực học tập cải tạo lao động tốt.
2.  Giải phóng mọi tình cảm gia đình yếu đuối và tình nguyện ở lại trại học tập lao động cho dến khi nào được cách mạng công nhận tiến bộ cho về phục vụ xã hội, phục vụ nhân dân.
3.  Trong thời gian học tập tại trại, tôi phải chấp hành nghiêm chỉnh mọi nội quy quy định. Khắc phục mọi khuyết điểm tồn tại. Đấu tranh sai trái để thủ tiêu mọi mặt yếu của các bạn cải tạo khác hầu biến trại ta trở thành trại cải tao tiên tiến về mọi mặt.
4.  Tố giác kịp thời với Cách mạng bọn xấu trong và ngoài trại đang còn ý đồ chống phá cách mạng.
5.  Tuyệt đối tin tưởng vào đường lối khoan hồng trước sau như một của cách mạng.” (6)
Có khá nhiều trường hợp bị hành hạ đến chết ở trong trại tù, nhưng không ai biết con số chính xác là bao nhiêu. Một trong những người bị chết trong tù là đồng nghiệp và đàn anh của ông Vũ Quang Hiển: sử gia Phạm Văn Sơn, người nổi tiếng với bộ Việt Sử Tân Biên. Một số thì sau khi ra tù một thời gian ngắn cũng chết do những di chứng từ thời còn bị giam trong tù. Ông Hồ Hữu Tường (một học giả nổi tiếng ở miền Nam) chết sau khi bị thả ra khỏi tù.
Tạ Tỵ, một nhà văn và hoạ sĩ có tiếng là điềm đạm, mà cũng viết trong sách là “Rồi mai đây, nếu vì may mắn nào đó, tôi được sống trong môi trường khác, tôi có bổn phận phải nhớ và nhớ thật kỹ tất cả những gì đã xảy ra, đã khắc sâu vào tâm khảm tôi những chứng tích khổ đau, hờn hận!” (7)
Có những chuyện cười ra nước mắt. Chẳng hạn như những mẩu đối thoại sau đây cho thấy cán bộ quản giáo rất ngô nghê như thế nào.
[trích]
Chỉ huy trại là một người miền Nam tập kết, cấp bậc Đại úy mà các tù binh vẫn quen gọi là “ông Răng Vàng” vì nguyên hàm răng trên của ông là “kim loại màu vàng” – nói theo cách nói của “cách mạng”.
Một tù binh khai: “Cấp bậc: Đại úy, chức vụ: Quyền Tiểu Đoàn Trưởng” bị “ông Răng Vàng” đập bàn, hét:
“Mẹ bố, quân ngụy các anh là láo lếu: ai chẳng biết các anh là Đại úy, là có quyền, còn bày đặt khoe khoang.”
Nói xong, ông ta lấy viết gạch bỏ chữ “Quyền” trước ba chữ “Tiểu Đoàn Trưởng”.
Một tù binh khác khai: “Cấp bậc: Đại úy. Binh chủng: Biệt Cách Nhảy Dù” bị “ông Răng Vàng” chỉnh:
“Mẹ bố, ngụy các anh là ưa khoe khoang: ai chẳng biết các anh “biết cách” nhảy dù.
Nói xong, “ông Răng Vàng” lấy viết sổ toẹt hai chữ “Biệt Cách”.
Một tù binh khác khai địa chỉ: “… đường Huỳnh Tịnh Của – Đa Kao”, đã phải dở khóc, dở cười khi bị một ông sĩ quan bộ đội người miền Trung “dạy dỗ” như sau:
“Ngụy các anh là ưa rắc rối: “Huỳnh Tịnh – Đa Kao” là người ta hiểu rồi. Còn bày đặt là “Huỳnh Tịnh của Đa Kao” làm gì cho rắc rối.”
Nói xong, ông ta bèn gạch bỏ chữ “Của” một cách ngon ơ!
[hết trích]
Người phủ nhận sự thật
Câu nói của ông sử gia, phó giáo sư Vũ Quang Hiển làm tôi nhớ đến một sử gia người Anh tên là David Irving. Tôi nhớ đến ông này vì vào đầu thập niên 1990s báo chí Úc làm ồn ào khi Chính phủ Úc không cho ông nhập cảnh Úc. Rất rất hiếm khi nào Úc không cho người Anh nhập cảnh, nhưng họ cấm cảng ông Irving thì đủ biết sự việc nghiêm trọng như thế nào. Ông Irving nhiều lần kiện Chính phủ Úc về việc cấm cảng, nhưng ông không thành công. Ông Irving nổi tiếng là một người mà tiếng Anh gọi là “Holocaust Denier”, tức là không chịu tin rằng cuộc tàn sát Holocaust đã xảy ra. Ông viết nhiều sách để lí giải rằng không có những cái gọi là hầm ga mà Hitler dùng để giết người Do Thái. Sau này, ông bị toà án Áo phạt tù 3 năm vì hành vi phủ nhận cuộc tàn sát Holocaust, và xuyên tạc lịch sử.
Tôi chỉ kể chuyện xưa để biết rằng ở nước ngoài sử gia mà phát ngôn theo kiểu phủ nhận sự thật lịch sử được xem là một trọng tội và có thể đi tù. Dĩ nhiên, luật ở nước ngoài không giống như luật ở Việt Nam, và đó là một điều may mắn của ngài phó giáo sư vậy. Nhưng nhìn một cách tích cực, tôi vẫn tin vào lòng tốt của ông, và hi vọng rằng một ngày nào đó ông sẽ tịnh tâm và nhìn nhận sự thật.
Tuy số người bị giam giữ và chết trong tù cải tạo sau 1975 không bằng số người Do Thái bị chết trong vụ Holocaust, nhưng vẫn là hàng vạn người chết thì không thể nào bỏ qua được. Nếu người Đức đủ can đảm để nhìn nhận sự thật, thì Việt Nam cũng nên tỏ ra can đảm nhìn nhận rằng tù cải tạo là một thực tế đã xảy ra. Chứ như hiện nay thì sự phủ nhận sự thật của ông rất bất lợi cho chính sách hoà hợp – hoà giải dân tộc của Nhà nước.
N. V. T.
(6) Hà Thúc Sinh, Đại Học Máu trang 100.
(7) Tạ Tỵ, Đáy Địa Ngục, trang 152.


Thư gửi ông giáo Vũ Quang Hiển

Đại Nghĩa (Danlambao) - Nhân đọc bài của Phó giáo sư sử học Vũ Quang Hiển trên đài BBC (*) ngày 18-4-2015 tôi bỗng thấy mình có thắc mắc, không biết ông Phó giáo sư này có như giáo sư sử học Hà Văn Thịnh trước đây không?

Tôi còn nhớ khi trả lời phóng viên Mạc Việt Hồng trên báo mạng Đàn Chim Việt ngày 19-5-2010, giáo sư Thịnh đã có can đảm nói ra một sự thật phũ phàng mà ngày nay tôi thấy ông giáo Hiển cũng lại phải bệnh nói dối, nói “dối lem lẻm”, nói dối không biết ngượng, Giáo sư Thịnh đã thú nhận rằng:

“Tôi nói thật với chị, lịch sử Việt Nam hiện đại, chỉ có 30% sự thật, 70% giả dối. Đó là điều rất đau lòng. Ví dụ đánh nhau 30 năm, với Pháp và Mỹ mà Việt Nam không thua trận nào là không thể chấp nhận được…

Sự dối trá làm cho sinh viên không thích sử nữa. Thấy sử là bịp bợm, chán quá! Tôi đã viết trên báo Lao Động năm 2005, ‘Lịch sử theo trang sách học trò’, tôi vạch rõ, dậy sử mà suốt ngày phải nói dối, điều đó đau lòng lắm. Ở Việt Nam hiện nay, rất nhiều trí thức ở vào hoàn cảnh nan giải, giữa nói thật và không nói thật”. (ĐanChimViet online ngày 19-5-2010)

Chính vì những vị giáo sư dậy sử nói dối, trong đó có cả Phó giáo sư Vũ Quang Hiển cho nên học sinh ngày nay không thích học môn sử nữa, để chứng minh điều này, “Học sinh xé giấy mừng không thi tốt nghiệp môn sử”, bài được báo mạng nhà nước VNExpress đăng ngày chúa nhật 7-4-2013) 

“Rất đông học sinh tập trung ra hành lang, hò hét và đồng loạt xé giấy thả xuống rơi trắng cả sân trường”. 

Qua sự việc kể trên, tôi thấy khi trả lời Đài BBC, ông giáo Hiển thứ nhứt đã không nắm bắt được tình hình thực tế đã xảy ra trước mắt suốt 40 năm qua, thứ hai giáo sư Hiển chỉ là một con vẹt lập lại những điều tuyên truyền láo khoét của đảng CSVN cho nên ông đã nói:

1- “Tôi nghĩ rằng sau chiến tranh, Việt Nam không có ngược đãi đối với mọi người. Bởi vì chính sách lúc ấy của nhà nước Việt Nam là chính sách hòa hợp dân tộc”.

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, là con của một vị khai quốc công thần của chế độ, người nầy chắc chắn có đầy đủ tư cách và uy tín hơn ông giáo Hiển nhiều đã vạch rõ cái điều mà ông giáo Hiển đã bố láo.

“Cái chuyện bắt và đưa đi cải tạo hay là giam một cách trá hình như thế rất nhiều quân nhân và viên chức của chính quyền Sài Gòn thì tôi cho đấy là hành vi phản bội dân tộc. Bởi vì dân tộc Việt Nam chúng ta vẫn nói là anh em, đồng bào, tức cùng một mẹ đẻ ra, cùng là người Việt, cùng một nguồn gốc. Đánh thắng rồi lại muốn tiếp tục tiêu diệt người ta sau khi chiến thắng thì tôi cho đấy là một tội ác”.(RFA online ngày 31-8-2013)

Ông giáo Hiển đã nói:

2- “Chính sách này đã công bố công khai ngay từ thời chiến tranh, chứ không phải sau hậu chiến mới có chính sách đó”.

Ông giáo Hiển bảo đây là chính sách công khai ấy thế mà phải dùng biện pháp đánh lừa thiên hạ. Nhà báo cộng sản Huy Đức đã vạch trần cái mưu mẹo nầy trong tác phẩm “Bên thắng cuộc” như sau:

“Theo ông Võ Văn Kiệt, đảng ủy Quân quản và Trung ương Cục cũng đã bàn luận rất nhiều, không chỉ là tính những thủ thuật để hàng trăm nghìn sĩ quan quân đội Miền Nam tự khăn gói vào tù mà còn đề ra mục tiêu chính trị cho việc tập trung cải tạo”. (Bên thắng cuộc. I – trang 65)

Ngoài ra Việt cộng còn xấc xược tuyên bố rằng:

“Đế quốc Mỹ và tay sai đã biến chúng từ con người thành ra dã thú. Cách mạng phải cải tạo chúng từ thú trở lại thành người. Phải giam chúng lại để chúng không làm hại nhân dân được nữa. Đồng thời phải cải tạo chúng để chúng cải tà quy chính”. (Bên thắng cuộc.I – trang 66)

Ông giáo Hiển lại bố láo thêm:

3- “Thế còn việc tập trung học tập cải tạo, tôi nghĩ đấy là để học cho nó rõ chính sách của nhà nước Việt Nam thời bấy giờ. Chứ không có nghĩa là một chế độ tù đày. Nếu nói là tù đày, thì tôi nghĩ đó là sự xuyên tạc”.

Giáo sư tiến sĩ Địa chất Nguyễn Thanh Giang, người đảng viên cộng sản từ những năm chống Pháp hiện ở Hà Nội trả lời cho ông Hiển như sau:

“Hàng loạt nhà tù trắng trợn, nhà tù trá hình được dựng lên để cùm kẹp, để cải tạo, để giáo dục, để chỉnh huấn…với đằng đẵng thời gian và muôn vàn phương thức đày ải. Cho đến con cháu, họ hàng của những người tù, những ‘cải tạo viên’ cũng bị phân biệt đối xử, bị tước bỏ bớt nhân quyền so với cái nhân quyền chung của dân tộc Việt Nam vốn đã như ‘miếng da lừa’. Đến nỗi hàng vạn, hàng triệu người phải cắn môi, gạt nước mắt giã từ bè bạn, chia tay họ hàng, từ bỏ tài sản, rời bỏ quê hương đi biệt xứ”. (Thông Luận online ngày 14-11-2007)

Với những chứng minh kể trên thiển nghĩ đã đủ để cho một “sử gia từ Hà Nội” bớt khua môi múa mỏ.




__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh 



 Matthew Trần:

Chắc tên Vũ-Quang-Hiền trước đây bị mù & điếc sao??? 

MT       

  
From: Anh Kim Phan Dinh <
To: MATTHEW TRAN <
Sent: Monday, April 20, 2015 8:52 AM
Subject: SU GIA,PHO GIAO SU CSVN NOI:KHONG CO NGUOC DAI SAU 30/04/75 !!!


"Không có ngược đãi sau 30/4" 
ĐÚNG LÀ CHẾ ĐỘ: XẠO HẾT CHỖ NÓI !!! 
By on April 19, 2015
V U /




Sau chiến tranh chấm dứt ngày 30/4/1975, ở Việt Nam không có ngược đãi đối với mọi người, trong đó với các lực lượng cựu quân, cán, chính của chính quyền Sài Gòn, theo ý kiến một sử gia từ Hà Nội.
 
Trao đổi với BBC về 30/4 và hậu cuộc chiến Việt Nam trong một tư liệu từ trước, Phó Giáo sư Vũ Quang Hiển từ Đại học Quốc gia Hà Nội nói:

“Tôi nghĩ rằng sau chiến tranh, Việt Nam không có ngược đãi đối với mọi người. Bởi vì chính sách lúc ấy của nhà nước Việt Nam là chính sách hòa hợp dân tộc.

“Chính sách này đã công bố công khai ngay từ thời chiến tranh, chứ không phải sau hậu chiến mới có chính sách đó.
Your browser does not support the audio element.

“Thế còn việc tập trung học tập hay cải tạo, tôi nghĩ đấy là để học cho nó rõ chính sách của nhà nước Việt Nam thời bấy giờ.

“Chứ không có nghĩa là một chế độ tù đầy.”

Sử gia này nói tiếp về các trại cải tạo sau 1975.

“Nếu nói là tù đầy, thì tôi nghĩ đó là một sự xuyên tạc.

“Hơn nữa cũng cần lưu ý là có thể là ở những lớp học như vậy, đời sống không được tốt, tức về mặt đời sống kinh tế không được tốt.

“Và có thể có một số anh em nào đó hiểu nhầm là mình bị khổ sở này khác.

“Nhưng tôi xin nói là tất cả những điều mà ở Sài Gòn tuyên truyền trước ngày 30/4/1975 là cộng sản Việt Nam vào Sài Gòn sẽ diễn ra một cuộc tắm máu. Điều đó rõ ràng đã không xảy ra.

“Hai là đã không có nhà tù nào để giam cầm tất cả anh em sỹ quan binh sỹ quân đội Sài Gòn, cũng như (nhân viên) chính quyền Sài Gòn trước đây, trong nhà tù để mà đánh đập, để mà tra tấn, thì hoàn toàn không có.

“Tức là những tuyên truyền vu cáo về miền Bắc xâm lược miền Nam và dẫn đến những sự tàn sát đẫm máu, thì rõ ràng điều đó không có ở Việt Nam,” Phó Giáo sư Vũ Quang Hiển nói với BBC

Nguon: Theo BBC Tieng Viet

Không có ngược đãi phân biệt ? một tên phó giáo sư của đại học Hà Nội mà có thể mở miệng tuôn ra những lời tráo trở điêu ngoa như vậy ? một đài phát thanh tầm quốc tế mà có thể phỏng vấn một tên vô loài vô liêm sỉ như thế chứng tỏ những kẻ bìên tập không hiểu biết gì về lịch sử ,không tìm hiểu những tài liệu lịch sử trước khi phỏng vấn và loan tải cho đúng đắn ,hay nói cách khác những kẻ biên tập phát thanh tin này cũng chỉ là những tên cộng sản trà trộn đuợc vào các đài truyền thông hải ngoại có dịp là bào chữa ,chạy tội cho đảng cs ,cho cha ông của họ .
Tin dưới ,40 năm đã qua mà đảng cs còn cấm không cho khám bênh cho những thương phế binh VNCH thì 40 năm trước vừa mới hung hăng "chiến thắng " chúng còn đối xử tàn nhẫn như thế nào .Tại Bệnh Viện Cộng Hòa ở Gò Vấp chúng nhẫn tâm xua đuổi tất cả mọi thương binh QLVNCH ra khỏi bệnh viện bất kể nhiều thương binh còn chưa kịp mổ ,chưa kịp băng bó ,máu chẩy lênh láng ,mọi người dắt díu ,lê lết ra ngoài đuờng phố ...chúng bắt giữ tất cả các sĩ quan QLVNCH vào các trại tù khổ sai để chuẩn bị giết chết tập thể như Nga đã giết sĩ quan Ba Lan trong thế chiến thứ hai ,chúng lùa tất cả gia đình quân nhân cán bộ VNCH lên những miền rừng hoang không đuờng xá chợ búa bệnh viện trường học ,để mượn tay thiên nhiên giết chết họ ,cho chúng chiếm nhà chiếm đất đưa dân miền Bắc vào Nam sinh sống huênh hoang là đảng đã khai phá mở mang bờ cõi xuống phía Nam .Xong Trời không cho chúng toại nguyện ,Trời đã cứu dân chúng Miền Nam ,đảng cs Liên Sô xụp đổ mất nơi nương tựa mọi ý đồ gian ác tiêu diệt người Miền Nam phải dừng lại .Dù đã 40 năm qua ,hàng triệu nhân chứng ,nạn nhân vẫn còn sống, đảng cs không thể chối bỏ phủ nhận hay lấp liếm tráo trở bằng những thủ đoạn như việc phỏng vấn tên phó giáo sư của đại học Hà Nội và loan tải tin này trên đài truyền thanh tầm cỡ quốc tế như BBC chỉ càng nuôi dưỡng thêm hận thù .


 
__._,_.___

Posted by: <vneagle_1

Popular Posts

Popular Posts