Đại Học chăn Trâu




Wednesday, 16 December 2015

Khôi Phục Niềm Tin Khôi Phục Đạo Làm Người


---------- Thư đã chuyển tiếp ----------
Từ: Vt Tran <
Ngày: 16:39 Ngày 05 tháng 12 năm 2015
Chủ đề: Khôi Phục Niềm Tin Khôi Phục Đạo Làm Người
Đến: Vt Tran <

Khôi Phục Niềm Tin Khôi Phục Đạo Làm Người

Posted By: LS. Nguyễn Hữu Thốngon: December 04, 2015

VTT ZMAR18 Mandala 10
Song song với việc phát huy 10 tình cảm tự nhiên trong Đạo Làm Người như tình gia đình, tình thầy trò, tình bạn bè, tình lối xóm, tình yêu quê hương, yêu đất nước, yêu dân tộc, yêu nhân loại, yêu thiên nhiên và yêu chim muông súc vật, chúng ta phát huy 5 lý tưởng truyền thống của dân tộc như tinh thần đại đồng, tinh thần nhân bản, tinh thần dân chủ, tinh thần hiếu hòa và tinh thần bao dung. Mục đích để khôi phục Niềm Tin và khôi phục Đạo Làm Người.

A. PHÁT HUY NHỮNG LÝ TƯỞNG TRUYỀN THỒNG CỦA DÂN TỘC
Đạo ở gần sao tìm nơi xa? (Đạo tại nhĩ, nhi cầu chư viễn)
Việc giản dị, sao tìm chỗ khó? (Sự tại dị nhi cầu chư nan)
Chỉ những kẻ đau khổ hoạn nạn, những cô thần nghiệt tử lúc nào cũng lao tâm khổ trí mới thấu tình đạt lý (Độc cô thân nghiệt tử cố đạt)
Năm 1905, sau khi Nhật thắng Nga tại Lữ Thuận, cụ Sào Nam Phan Bội Châu phát động phong trào Đông Du để cầu ngoại viện và học hỏi tại chỗ sự phú cường của Nhât Bản, một quốc gia đồng văn với Việt Nam. Lấy tri hành hợp nhất của nho gia Vương Dương Minh làm chủ thuyết, từ thế kỷ trước, Minh Trị Thiên Hoàng đã canh tân Nhật Bản theo biểu hiệu “nhật nhật tân, hựu nhật tân” (ngày ngày đổi mới, càng ngày càng thêm mới).

Trong 20 năm hoạt động tại hải ngoại cụ Phan kết giao với một số nhân sĩ và nho sĩ như Lương Khải Siêu và Tôn Trung Sơn. Năm 1925 cụ bị Pháp bắt giam tại Thượng Hải rồi bị an trí hành chánh tại Huế. Trong thời gian quản thúc cụ biên soạn cuốn Khổng Học Đăng, kêu gọi quốc dân noi gương người Nhật đổi mới xứ sở bằng tân học (khoa học kỹ thuật) đồng thời bảo tồn các giá trị tinh thần trong đạo học cổ truyền.

Theo Phan Sào Nam cựu học không phải là hủ lậu mà tân học cũng không phải là phù hoa. Xây dựng một quốc gia cũng giống như xây dựng một căn nhà. Phải lấy đạo học làm nền móng và khoa học kỹ thuật làm kiến trúc. Không có nền móng không xây được nhà. Không có kiến trúc không cất được nhà. Đạo học và khoa học chẳng những không tương phản mà tương thành.
Phan tiên sinh nhắn nhủ các sinh viên hậu bối: “Học cũ là nền tảng mà học mới là tài liệu, hai bên vẫn có thể giúp nhau làm nên một tòa nhà hoa mỹ. Tác giả viết sách này là muốn điều hòa học cũ và học mới. Những ai chưa đọc sách này mà đã có thành kiến, hoặc bài bác học cũ hoặc công kích học mới thì xin chớ đọc. Ai đọc sách này phải lập chí và tự nhủ rằng: “Thánh hiền là ta, ta là thánh hiền, ta chỉ là hậu tiến của cổ nhân mà thôi”.

Mới đây Thủ Tướng Lý Quang Diệu cũng chủ trương phục hồi nho học. Trước khi là chủ tịch Hội Nho Học Thế Giới, ông đã từng hành nghề luật sư tại Luân Đôn, gia nhập Đảng Lao Động Anh từ hồi còn đi học, tổ chức Đảng Nhân Dân Hành Động Tân Gia Ba để giành độc lập cho đất nước và lãnh đạo quốc gia trong ba thập niên. Về mặt chính trị ông theo chủ nghĩa dân chủ xã hội (democratic socialism), tôn trọng tự do, công lý và công bằng bác ái. Trong đời sống tinh thần ông xuất sử như một nho gia giữ lễ nghĩa trung tín trong đời sống cá nhân, gia đình và xã hội. Tân Gia Ba ngày nay là một con rồng kinh tế tại Đông Nam Á. Lợi tức bình quân mỗi đầu người cao thứ nhì chỉ sau Nhật Bản. (Ba con rồng khác tại Thái Bình Dương là Đài Loan, Đại Hàn và Hồng Kông đều theo tinh thần Nho Giáo).

Từ một hòn đảo nhỏ bé với trên 2 triệu dân, Tân Gia Ba đã trở thành một quốc gia tân tiến với dân giàu, nước thịnh và xã hội văn minh. Văn hóa giáo dục phát triển, kỷ cương luật pháp nghiêm minh. Với giới lãnh đạo liêm khiết, nạn tham nhũng không thể lộng hành. Tàng trữ và phổ biến ma túy có thể bị phạt tử hình. Thiếu niên du đãng có thể bị phạt giam và đánh bằng roi. Khi từ nhiệm Lý Quang Diệu nhường quyền lãnh đạo cho một người hiền năng mà không trao cho con trai quyền thừa kế chính trị. Ông đã áp dụng quan niệm Thiên Hạ Vi Công.
Việt Nam ngày nay đang qua cơn sốt phát triển. Với nền kinh tế thị trường giả mạo mặt trái của nó đã phát hiện những tệ đoan trầm trọng như tham lam ích kỷ, xa hoa phóng đãng của những kẻ bất tài vô hạnh nắm giữ chính quyền. Muốn đem lại quân bình cho xã hội, hạnh phúc cho con người, hơn bao giờ hết Việt Nam phải biết phục hồi những giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc như tinh thần đại đồng, tinh thần nhân bản, tinh thần dân chủ, tinh thần hiếu hòa và tinh thần bao dung.

Đó là những nền móng tinh thần để dựng nước.

I. TINH THẦN ĐẠI ĐỒNG (Thiên Hạ là của chung)
Muốn thi hành Đại Đạo phải coi thiên hạ là của chung, tuyển chọn người hiền năng, giảng điều tín nghĩa, dạy điều hòa thuận. Cho nên người dân không chỉ thân riêng cha mẹ mình, không chỉ thương riêng con mình. Cho người già có chỗ nương thân trọn đời, người trai tráng có việc làm và trẻ thơ được dưỡng dục đến trưởng thành. Chăm sóc người góa phụ, trẻ mồ côi, kẻ tàn phế. Thanh niên có chức phận, phụ nữ có gia đình. Tài sản không hoang phí ngoài ruộng đất mà hà tất phải tàng trữ làm của riêng tư? Tài lực do thân mình làm ra mà hà tất chỉ để phục vụ quyền lợi riêng mình? Vì vậy mưu mô quỷ quyệt không thi thố được, trộm cướp phi pháp không lộng hành được. Từ đó cửa ngõ không cần đóng kín. Đó là đời Đại Đồng.
Các quốc gia dân chủ Tây Phương đã thiết lập chế độ an sinh xã hội để nuôi dưỡng người già, trẻ thơ, người tàn phế, người thất nghiệp. Tại Hoa Kỳ ngày nay người già có chỗ nương thân trọn đời, trẻ thơ được dưỡng dục đến trưởng thành, kẻ tàn phế, người thất nghiệp được hưởng trợ cấp. Vậy mà nạn trôm cướp, bạo hành, sát nhân, ma túy, du đãng vẫn lộng hành. Con người có cơm ăn áo mặc nhưng vẫn thiếu an vui lạc phúc. Lý do là vì nhà nước quá chú trọng về kinh tế mà xao lãng Đạo Lý, đặt quyền lợi trước Lễ Nghĩa.
Các nhà thức giả kỳ vọng rằng qua thiên niên kỷ tới đây, nhân loại sẽ bước vào kỷ nguyên Đại Đồng khi Khoa Học Tây Phương phối hợp với Đạo Học Đông Phương. Khu vực Á Châu Thái Bình Dương sẽ là nơi thực thi nền tổng hợp Đông Tây đem lại Thái Hòa cho nhân loại.

II. TINH THẦN NHÂN BẢN (Giá trị con người trong vũ trụ)
“Lửa và nước có khí mà không có sinh. Cây cỏ có sinh mà không có biết. Chim muông có biết mà không có nghĩa. Con người có khí, có sinh, có biết lại có nghĩa nên được coi là quý nhất trong thiên hạ” (Tuân Tử)
“Người là cái đức của trời đất, sự giao hợp của âm dương, sự tụ hội của thần linh, là cái khí tinh túy của ngũ hành” (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ).
Nhờ có tinh thần linh diệu và khí chất tinh túy, con người có giá trị tôn quý trong vũ trụ, được sánh ngang với trời đất, trong ba ngôi tam tài Thiên, Địa, Nhân.
Trời sinh ra người, phú cho người tính sáng suốt, thì đạo làm người phải cố gắng theo Đạo Trời mà tiến đến chí thiện, chí mỹ. Tính sáng suốt ấy được gọi là minh đức hay lương tri, tức là khiếu tri giác, mẫn tiệp giúp con người hiểu được tinh thần và chân lý của vạn vật.
Trong hàng ngàn năm chung sống trong xã hội con ngưới ý thức được sự cần thiết của đạo hợp quần:
“Người ta sức không bằng con trâu, chạy không bằng con ngựa, thế mà con trâu con ngựa phải phục vụ con người là vì sao? Là vì con người biết hợp quần.
Lấy gì mà hợp quần? – Lấy định phận.
Định phận thì làm thế nào mà có nhân? – Lấy nghĩa để giữ nhân.
Lấy nghĩa mà định trên dưới thì hòa, hòa thì hợp, hợp thì tăng sức mạnh, tăng sức mạnh thì thắng muôn vật (Tuân Tử)
Nhờ có hợp quần và lương tri con người được làm chủ thiên nhiên.

III. TINH THẦN DÂN CHỦ (Dân vi quý, Quân vi khinh)
Người ta sinh hoạt ở đời không thể không quần tụ. Quần tụ mà không định phận trên dưới thì tranh đoạt nhau. Tranh đoạt nhau thì loạn, loạn thì khốn cùng.
Cho nên định phận là cái lợi lớn của thiên hạ mà đấng nhân quân (cầm quyền) là cái then chốt để cai quản phận trên dưới. Đã có nhân quần, phải có nhân quân để giữ trật tự xã hội. Quân giả là cái nguồn của dân, nguồn trong thì nước trong, nguồn đục thì nước đục. Thi nhân với thiên hạ thì ai cũng thương. Thi nghĩa với thiên hạ thì ai cũng quý. Thiên hạ trọng kẻ nhân quân thì bậc nhân quân cũng phải coi thiên hạ là của chung. Nếu chỉ biết thủ lợi riêng mà làm điều bạo ngược thì trái với thiên đạo. Trời sinh ra dân không phải vì vua. Trời lập ra vua là bởi vì dân. Khi vua tàn bạo người dân có quyền phế bỏ. Giết vua tàn bạo cũng như giết kẻ độc phu (tru bạo quốc chi quân, nhược tru độc phu). Lấy nhân nghĩa mà trị thì thiên hạ yên, lấy tàn bạo mà trị thì thiên hạ nguy. Quân là thuyền, dân là Nước, Nước chở thuyền nhưng nước lại đánh đắm thuyền (Tuân Tử). Trong Đức lý Dân Chủ Đông Phương có câu “Nếu Dân không tín nhiệm chính quyền thì chính quyền phải sụp đổ (Dân vô tín bất lập).

Ngòai ra còn có câu “Vua coi Dân như tay chân thì Dân coi Vua như long dạ. Vua coi Dân như trâu ngựa thì Dân coi Vua như người dưng. Vua coi Dân nhu cỏ rác thì Dân coi Vua như giặc thù. Người làm hại nhân là tặc. Người làm hại nghĩa là tàn. Tàn tặc là kẻ không ra gì! Ta chỉ nghe nói giết tên Trụ, chứ không nghe nói giết vua vậy” (Mạnh Tử).
Một số tôn giáo chủ trương vua là con trời (thiên tử) thay Trời trị Dân, vua muốn làm điều gì là Trời muốn điều ấy. Nho giáo trái lại quan niệm Trời với Người đồng một thể, hễ Dân muốn điều gì thì Trời muốn điều đó. Muốn biết Thiên Ý cứ xem ở Dân Tâm:

“Trời bao giờ cũng thương dân, dân muốn điều gì trời cũng chiều theo (dân chi sở dục, thiên tất tòng chi. Trời trông thấy cũng vì dân trông thấy, Trời nghe thấy cũng vì dân nghe thấy. Trời sáng suốt là vì dân sáng suốt.Trời minh định thiện ác là vì dân minh định thiện ác. Trên Trời dưới Dân thông đạt với nhau… Trời không thân riêng với ai, chỉ giúp người có đức. Mệnh Trời không trao mãi cho ai, thiện thì được, bất thiện thì mất. Thuận đạo Trời thì còn, Trái đạo Trời thì mất” (thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong) (Mạnh Tử)
Trời với Dân tương quan mật thiết với nhau, do đó trong thiên hạ dân quý hơn cả, vì có dân mới có nước, có nước mới có vua. Dân là gốc nên phải lấy Dân làm quý, Vua làm khinh: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, Quân vi khinh” (Mạnh Tử) Lấy dân làm trọng, Nhà Nước là thứ yếu và coi nhẹ chính quyền.
Đó là đức lý dân chủ truyền thống đông phương

Dân vi quý đưa ra những chủ trương đường lối thực tiễn để mưu cầu hạnh phúc cho dân, tạo bình đẳng cơ hội cho dân trau giồi giáo dục kỹ thuật để tự lực mưu sinh, phát huy văn hóa đạo đức để nâng cao nhân phẩm, gây cho dân ý thức về nghĩa vụ và quyền lợi để tự làm chủ lấy mình (tự do) và làm chủ xã hội (dân chủ).
Theo quan niệm Xã Tắc Thứ Chi, nhà nước là công cụ để điều hòa quyền lợi và nghĩa vụ của các tầng lớp dân chúng. Do đó không thiết lập chế độ tư bản nhà nước, đế quốc nhà nước để tước đoạt tự do tài sản nhân quyền của dân. Không tổ chức công an mật vụ để trấn áp dân. Không xây dựng quân đội hùng mạnh để đi gây hấn và xâm lấn các quốc gia hiếu hòa lân bang.
Do quan niệm Quân Vi Khinh nhân dân có quyền truất phế các chính quyền chuyên chế bất lực hay tham nhũng. Nếu gặp phải hôn quân bạo chúa, nhân dân có quyền đứng lên dùng võ trang tiêu diệt kẻ tham quyền cố vị đàn áp dân lành.

Trong chế độ Dân Chủ Pháp Trị, nhân dân có quyền thay đổi chính quyền trong vòng ôn hòa hợp pháp bằng cách xử dụng lá phiếu trong các cuộc tổng tuyển cử tự do và công bằng.
Nhắc lại chủ trương Dân Vi Quý của Nho Giáo chúng ta mới ý thức câu “Đạo ở gần sao tìm nơi xa? Việc giản dị, sao tìm chỗ khó?” (Đạo tại nhĩ, nhi cầu chư viễn. Sự tại dị, nhi cầu chư nan).
Chỉ những kẻ đau khổ hoạn nạn, những cô thần nghiệt tử lúc nào cũng lao tâm khổ trí mới thấu tình đạt lý. (Độc cô thần nghiệt tử cố đạt) (Mạnh Tử)

IV. TINH THẦN HIẾU HÒA (Thiện chiến giả phục thượng hình)
Thời Chiến Quốc các nước chủ trương kinh doanh thủ lợi, bắt dân đi lao động khổ sai để khai phá rừng hoang làm giàu cho vua chúa.Có phương tiện trong tay vua chúa tuyển mộ quân lính, mua sắm võ khí để tranh quyền cướp nước gây nên chinh chiến tàn sát dân lành.
“Đời nay người thờ vua nói rằng: Ta vì vua mà khai phá ruộng đất, làm đầy kho tàng, họ tự nhận là lương thần, đời xưa coi họ là dân tặc. Vua không theo đạo nhân mà giúp cho giàu có là giúp cho tên Kiệt vậy. Đời xưa làm cửa ải để chống tàn bạo (ngoại xâm). Đời nay làm cửa ải để đàn áp bóc lột dân làm điều tàn bạo.
“Có người nói: Ta giỏi bầy trận, Ta giỏi chinh chiến, như thế là đại tội. Đi giúp vua không làm điều nhân chính mà làm điều cường chiến. Chiến tranh giành đất xác người đầy đồng; tấn công vây thành xác người đầy thành, thế là đem đất ăn thịt người, tội ấy đem xử tử còn chưa hết tội! Kẻ thiện chiến phải tội đại hình! (Thiện chiến giả phục thượng hình). Kẻ bắt dân đi lao công khai phá rừng hoang làm giàu cho vua chúa phải chịu tội thứ” (Mạnh Tử)
Ngày nay những kẻ cầm quân coi binh sĩ như cỏ rác, đẩy một lúc hàng vạn người vào chỗ chết trong chiến thuật biển người (Thảo thảo chi binh của Mao Trạch Đông) không biết phải phạt vào tội gì.
Đó là gây đại tội “giải thây trăm họ làm công một người” (Nguyễn Du)

V. TINH THẦN BAO DUNG (Thiên hạ Đồng Quy Nhi Thù Đồ)
Khác với miền Tây Á nơi những cuộc chiến tranh tôn giáo vẫn diễn ra từ ngàn năm nay, tại miền Đông Á, với truyền thống bao dung về tín ngưỡng, các đạo Công Giáo, Phât, Khổng, Lão đã đồng thời phát triển trong hàng chục thế kỷ. Đó là tinh thần tứ giáo đồng tôn.
Theo các nho sĩ thiên lý tuy biến hóa trên trăm đường ngàn lối nhưng rút cục chỉ thuộc về một lối mà thôi. “Thiên hạ lo gì, nghĩ gì? Thiên hạ rồi đây sẽ quy về một mối dầu theo những con đường khác nhau”. (Thiên hạ đồng quy nhi thù đồ). Vì trăm lo chẳng qua chỉ hướng về một mục đích đem lại tự do, thanh bình, an vui và hạnh phúc cho toàn thể loài người (nhất trí nhi bách lự).
Đạo theo nho học rộng như trời đất, che chở muôn loài, chuyển vần bốn mùa, sáng rõ như mặt trời, mặt trăng. Vạn vật cùng hóa dục mà không tương khắc, các tôn giáo cùng hành đạo mà không tương phản. (Trung Dung)
Không chủ trương độc tôn, các nho gia không bài bác các tín ngưỡng khác. Vì công kích các tôn giáo khác chỉ có hại cho đạo mà thôi (Luận Ngữ)

B. TÍN NGHĨA VÀ QUYỀN MƯU
Trong việc lập quốc nho gia dựa vào trào lưu đương thời mà chia thành 3 lối: “Lấy nghĩa mà lập là theo vương đạo; lấy tín mà lập là theo bá đạo; lấy mưu mô quỷ quyệt mà lập là vong quốc.” (nghĩa lập nhi vương, tín lập nhi bá, quyền mưu lập nhi vong)
“Hô hào cả nước làm giàu mà không vụ nghĩa, thủ tín, chỉ cốt vụ lợi. Trong thì gạt dân để cầu lợi nhỏ, ngoài thì dối các nước bạn để tìm lợi lớn. Trong thì không lo phẩm chất tài hóa của mình mà chỉ muốn tài hóa của người. Người trên gạt người dưới, người dưới dối người trên gây nên chia rẽ. Các địch quốc sẽ khinh thường mình, và các nước bạn sẽ nghi ngờ mình. Dùng mãi mưu mô quỷ quyệt sẽ đưa đất nước tới nguy biến. Đó là con đường vong quốc. Lý do là vì không dùng tín nghĩa mà chỉ dùng quyền mưu vậy.” (Tuân Tử)
Dùng quyền mưu có thể cướp được chính quyền nhưng không thể xây dựng được một quốc gia tiên tiến với dân giàu nước mạnh và xã hội văn minh.

(Trên Đây Là Bẩy Điều Bình Giải Với Ông Tập Cận Bình Theo Đạo Lý Truyền Thống Dân Chủ Đông Phương Nhằm Xây Dựng Chế Độ Dân Chủ Pháp Trị Trong Kỷ Nguyên Hậu Cộng Sản).
Luật Sư Nguyễn Hữu Thống
ỦY BAN LUẬT GIA VIỆT NAM BẢO VỆ DÂN QUYỀN

--
You received this message because you are subscribed to the Google Groups "Đài Đáp Lời Sông Núi" group.

For more options, visit https://groups.google.com/d/optout.


__._,_.___

Posted by: Phu Van 

Sunday, 13 December 2015

Bị đánh bom nguyên tử, vì sao người Nhật lại cúi đầu kính trọng tướng Mỹ?




---------- Forwarded message ----------
From: Huy <jdo

Bị đánh bom nguyên tử, vì sao người Nhật lại cúi đầu kính trọng tướng Mỹ?

MacArthur, vị danh tướng của Mỹ, là người chỉ huy quân đội tiến đánh Nhật Bản trong thế chiến thứ II. 

Tuy nhiên, khi ông rời khỏi đất nước này, người dân không hề căm ghét mà ngược lại đều tỏ lòng biết ơn bởi những việc làm của ông.

kính trọng, dan chu, chiến tranh,
Chân dung Thống tướng Douglas MacArthur. Ảnh: Internet
Năm 1942 tướng MacArthur dẫn đại quân tấn công Nhật Bản, từ Melbourne xa xôi đánh thẳng đến Tokyo, hai tay nhuộm máu người Nhật Bản. Vì thế vô số người Nhật đều hận ông thấu xương.Chiều ngày 30/8/1945, tướng quân MacArthur ra khỏi máy bay và đặt chân lên đất Nhật, cho dù ông không mặc quân phục và không mang theo vũ khí gì, cũng không có người tổ chức duyệt binh, nhưng thời khắc đó với 70 triệu người Nhật Bản là thời khắc kinh hoàng mà họ không thể quên, trong tâm trí mọi người chỉ còn nghĩ được hai chữ “mất nước”.
Nhưng tướng MacArthur mang quân đến hòa bình, chính nghĩa, khoan dung và dân chủ
Nền kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh rơi vào suy sụp, đến bữa trưa của Nghị viên Quốc hội cũng phải ăn cơm trộn khoai lang, cái đói bao phủ khắp nơi. Lúc này tướng MacArthur gây áp lực khiến chính phủ Mỹ phải hỗ trợ Nhật Bản, thế là 3,5 triệu tấn lương thực và 2 tỷ Mỹ kim tức tốc được gửi đến Nhật. Ông không chỉ giữ lại chính quyền Nhật Bản mà còn đặc xá cho Thiên hoàng, thậm chí còn quan tâm đến số phận của từng người lính bình thường của Nhật Bản, giúp họ tìm con đường sống.
kính trọng, dan chu, chiến tranh,
Tướng MacArthur tiếp nhận quân Nhật đầu hàng (Ảnh: Internet)
Theo sau ông, 400 nghìn lính Mỹ đã dùng thiện ý và tinh thần hy sinh để chinh phục người Nhật Bản. Khi đó các con hẻm trong thành phố của Nhật rất chật hẹp, một người Nhật bình thường và một người lính Mỹ to lớn nếu gặp nhau cũng khó để đi qua, vì thế thường thì người lính Mỹ sẽ nép vào một bên cho người Nhật đi trước. Người Nhật không thể không băn khoăn tự hỏi, nếu mình là kẻ chiến thắng thì có làm được như thế không?
Sau khi tướng MacArthur đến Nhật Bản, ông lập tức ra lệnh thả tội phạm chính trị, trong đó có rất nhiều Đảng viên Cộng sản, bị chính phủ Nhật bắt giam trong thời gian dài.
Ngày 25/8/1945, quân chiếm đóng của Mỹ cho phép phụ nữ Nhật thiết lập tổ chức của mình; tháng 9 cho công bố Dự luật về vai trò trong bầu cử của phụ nữ Nhật Bản; đây là lần đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản, phụ nữ được quyền bầu cử và ứng cử.
Lúc này tại Tokyo có cô kỹ nữ được chọn làm Nghị viên thành phố, nhiều thị dân cảm thấy khó chấp nhận. Nhưng tướng MacArthur nói, mọi người chọn cô ấy để cô ấy phục vụ mọi người, đừng vì cô ấy là kỹ nữ mà kỳ thị bỏ qua. Khi đó mọi người chợt hiểu người được chọn trong bầu cử dân chủ phải là người thay mặt để vì mình làm việc, thế là sau khi hiểu ý nghĩa vấn đề họ đã quyết định chọn bầu cô kỹ nữ kia. Kết quả sau khi trở thành Nghị viên, cô đã không phụ lòng mọi người, làm được rất nhiều việc có ý nghĩa.
kính trọng, dan chu, chiến tranh,  
Cột khói hình nấm khổng lồ bốc lên khi Mỹ thả bom nguyên tử xuống Nhật Bản. Ảnh: Askman.com
Vào ngày 11/10/1945, tướng MacArthur tuyên bố bỏ lệnh cấm báo chí, Nhật Bản được tự do thông tin và tự do ngôn luận. Ngày 22/12/1945, ban hành “Luật Công hội”, giai cấp công nhân thực sự có tổ chức của mình. Ngày 1/9/1947, ban hành “Luật lao động”, quy định tiêu chuẩn tiền lương thấp nhất và thời gian làm việc nhiều nhất.
Ngày 3/2/1946, tướng MacArthur chỉ thị cho Tổng bộ Liên minh khởi thảo Hiến pháp Nhật Bản. Chính phủ Mỹ truyền đạt nguyên tắc chế định Hiến pháp cho tướng MacArthur là: Chính phủ Nhật Bản phải do toàn thể cử tri trao quyền và phải chịu trách nhiệm trước toàn thể cử tri. Ngày 3/5, quân liên minh giao ra Bản dự thảo Hiến pháp. Ngày 7/10, Quốc hội Nhật Bản thông qua Hiến pháp. Ngày 3/11, Thiên hoàng cho ban hành Tân Hiến pháp.
Đây là Hiến pháp do kẻ chiếm lĩnh chiếu theo giá trị quan phương Tây áp đặt cho kẻ bị chiếm lĩnh, nhưng lại là bản Hiến pháp đem lại phúc lợi cho nhân dân quốc gia bị chiếm lĩnh. Bản Hiến pháp nhấn mạnh quyền lợi công dân cơ bản của người Nhật Bản, xem những quyền lợi này là “quyền lợi trời cho mà không ai có quyền tước đoạt”. Những quyền này bao gồm: quyền bầu cử, lập hội và tự do xuất bản; không có sự tham gia của luật sư thì không được định tội; bảo đảm quyền cư trú an toàn cho dân, cấm kiểm tra và tước đoạt vô cớ.
Ngày 21/10/1946, Quốc hội đã thông qua “Luật Cải cách ruộng đất”. Chính phủ Nhật Bản mua lại đất đai dư thừa của giới địa chủ, sau đó bán đất lại cho nông dân không có ruộng. Với những nông dân không có tiền mua đất, chính phủ cho vay thế chấp. Tất cả diễn ra không đổ một giọt máu, một mạng người, những người nông dân ai nấy đều có được một phần đất cho mình.
Ngày 31/3/1947, ban hành “Luật Giáo dục”. Theo đó mục tiêu hàng đầu của giáo dục là “tôn trọng sự tôn nghiêm của cá nhân, bồi dưỡng cho mọi người có lòng nhiệt huyết vì chân lý và hòa bình”. Trường học của Nhật Bản không còn nằm trong kiểm soát của chính phủ mà là do Ủy ban Giáo dục do dân chúng bầu ra quản lý. Việc chọn lựa nhà giáo, sách học và bố trí chương trình hoàn toàn do người dân tự chủ quyết định.
Năm 1952, quân chiếm đóng Mỹ trả chính quyền về cho chính phủ Nhật Bản. Sau 7 năm chiếm đóng, người Mỹ cải cách triệt để con đường phát triển của Nhật Bản, chủ quyền quốc gia từ trong tay kẻ chuyên chế trao lại cho người dân Nhật Bản, những tiền đề tiến bộ đầu tiên này giúp người Nhật bước vào con đường thênh thang.
kính trọng, dan chu, chiến tranh,  
Quang cảnh sau khi xảy ra vụ ném bom nguyên tử, hầu như mọi thứ đều bị thổi bay. Ước tính 90% nhà cửa ở Hiroshima bị hủy diệt hoặc hư hại. (Ảnh: Internet)
Hơn 10 năm sau, Nhật Bản trở thành cường quốc kinh tế thứ hai thế giới, quốc gia phồn vinh, nhân dân giàu có, xã hội ổn định. Có thể nói thêm một câu, quân chiếm đóng của Mỹ không chi một đồng tiền thuế nào của người dân Nhật Bản, chi phí của họ là lấy từ tiền thuế của người Mỹ.
Người Nhật tổ chức buổi lễ long trọng đưa tiễn tướng quân MacArthur
Trong thời gian chiếm đóng Nhật Bản, rất nhiều người Nhật đã viết thư gửi cho tướng MacArthur yêu cầu biếu tặng đất đai của họ. Nhiều phụ nữ can đảm viết thư đề nghị được hiến thân cho tướng MacArthur, nhiều người còn viết “xin hãy cho tôi được sinh con cho ngài.”
Sáng ngày 16/4/1951, Tổng thống Harry Truman phế bỏ chức Tư lệnh quân chiếm đóng và buộc tướng MacArthur phải về nước, sự kiện này chỉ thông báo cho một số quan chức cấp cao người Nhật biết. Nhưng khi ông ngồi lên ô tô thì mới phát hiện, từ nơi dinh phủ ông ở đến Sân bay Atsugi có hàng triệu người Nhật Bản đứng hai bên đường đưa tiễn. Đoàn xe hộ tống đi qua những hàng nước mắt cùng tiếng hô vang dậy của người dân Nhật Bản: Đại nguyên soái!
Người dân Tokyo đứng chật kín hai bên đường, ai nấy rơi nước mắt, họ như hoàn toàn quên chuyện tướng MacArthur là kẻ chiếm đóng đã đánh bại quân đội quốc gia mình. Thiên hoàng đích thân đến sứ quán đưa tiễn MacArthur, tướng MacArthur cũng xúc động rơi nước mắt, nắm chặt hai tay của Thiên hoàng Hirohito.
Khi đưa tiễn, Thủ tướng Yoshida của Nhật nói: “Tướng quân MacArthur đã cứu chúng tôi ra khỏi nỗi sợ hãi, lo lắng và hỗn loạn của thất bại để đưa chúng tôi vào con đường mới do ông xây dựng, chính Ngài đã gieo trồng hạt giống dân chủ trên đất nước chúng tôi để chúng tôi bước trên con đường hòa bình, tình cảm ly biệt mà nhân dân chúng tôi dành cho Ngài không lời nào có thể diễn tả được.”
Uy lực quả bom nguyên tử của Mỹ tàn phá thành phố và nền kinh tế của Nhật Bản, nhưng về phương diện tinh thần, nước Mỹ đã hoàn toàn chinh phục được người Nhật Bản.



__._,_.___

Posted by: truc nguyen 

BỎ ĐẢNG ĐI THÔI!

       Hân hạnh Fw ACE, các nhà cách mạng laõ thành, tri thức và không ít các đảng viên chán lắm rồi, bỏ đảng dễ thôi, nhưng ngặt nỗi lòng người mấy ai dám bỏ cái sổ đỏ nhà đảng ban, sổ hưu và quyền lợi cháu con ??? Phú Vân.

----- Forwarded Message -----
From: Uyen Vu <
To: Uyen Vu <
Sent: Friday, December 11, 2015 12:51 PM
Subject: Fwd: Thơ Thiên Kim: BỎ ĐẢNG ĐI THÔI!

Kính chuyển tiếp đến Quý Vị yêu thơ và yêu nước hai bài thơ BỎ ĐẢNG ĐI THÔI và HÃY CHẾT ĐI ĐẢNG CSVN của Nữ Sĩ Thiên Kim.
Rất mong được Quý Vị đón nhận.
UV


---------- Forwarded message ----------
From: Pham  Kim Thanh <r>
Date: 2015-12-11 11:20 GMT-08:00
Subject: Thơ Thiên Kim: BỎ ĐẢNG ĐI THÔI!
To: yahoogroups <

Kính gửi Quý vị và Quý Thân Hữu bài thơ Thiên Kim:
"BỎ ĐẢNG ĐI THÔI".
Kính xin được chuyển tiếp.
Thân kính,
TKim

BỎ ĐẢNG ĐI THÔI!
Thiên Kim
Bỏ đảng đi thôi còn đợi gì ?
Bẩy mươi năm đã rõ từng ly
Đảng Cộng làm khổ dân tộc Việt
Tạo cảnh điêu tàn và hiểm nguy

Hồ xin đi học trường bảo hộ
Tây không cho,  bám chặt Tầu, Nga
Kết thân Cộng sản rất đậm đà
Nhuộm thế giới tự do trong lửa đỏ

Để quê hương máu tuôn, lệ nhỏ
Thân chất chồng người chết đau thương
Đủ cách giết người, đấu tố, bất lương
Hại cả người dâng tiền giúp chúng

Xua thanh niên vào nam tay súng
Phá xóm làng, khủng bố đồng bào
Đặt đạn mìn, pháo kích tan hao
Hại miền Nam tự do, sung túc

Chúng tự thú đánh cho Nga, Tẫu
Giết người cùng máu mủ đồng bào
Nhẫn tâm đem biển đảo dâng trao
Công hàm ký Hoàng -Trường của Hán!

Ôi! Đau thương quê hương ly loạn
Hồ bạo tàn, gian trá rập toa
Đậy che bằng màn sắt điêu ngoa
Nhưng ngày nay đâu còn bịp được!

Nói thật nhé, đảng viên biết hết
Tội đảng rành ra đó ai ngu
Nhưng miệng câm để hốt tiền vô
Đầy túi tham, miệng hô đảng "tốt"

Gian, tham lắm, bất trung, bất chánh
Ôm đảng hoài, dân khổ mặc bay
Hồi tâm đi! Lúc chết có ngày
Tiền đầy túi, ra đi xác nhộng!

Sám hối đi! Bỏ cờ, bỏ cộng
Đừng tin rằng "Còn đảng còn mình"
Dân điêu linh, đói khổ: Bất bình!
Nổi lửa chiến đốt tàn đảng Cộng

Bỏ đảng để quay về Dân tộc
Để quê hương thịnh vượng an hòa
Đời Tự do- Dân chủ thăng hoa
Bỏ đảng đi thôi! Cái đảng "TỒI"!
Thiên Kim

HÃY CHẾT ĐI ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM!
Thiên Kim.

Ai cũng rơi hàng lệ thấy đồng bào cô thế
Dáng khổ gầy đen đủi, sống ê chề!
Cầm biểu ngữ chống Tàu ô xâm lược
Đả đảo phường bán nước, đảng Cộng nô
Hồ lãnh đạo rước voi Hán dầy mồ
Trên Quê hương mình Tổ tiên  bao đời vun lộc
Mà giờ đây Nguyễn Sinh Cung một tội đồ dân tộc
H
ậu duệ Lê chiêu Thống lấy họ Tầu
H
ồ biến thành quỷ đỏ đem đất biển dâng chầu
Cho Hán t
ặc bọn quân thù truyền kiếp!
Ôi đ
ất Tổ, quê hương mất dần... mất tiếp
Ải Nam quan giờ xa tắp đau thương!
Đ
ất - Biển- Đảo tiền nhân đổ bao máu xương
Xây d
ựng, giữ gìn,  đầy mồ hôi và nước mắt
Th
ế mà trong thoáng chốc!
Đ
ảng Cộng bất lương bất trung ngu ngốc
Đã tình nguy
ện  dâng hiến biển đảo, đất liền
Ph
ủ phục trước ngai Hán vương
Gi
ặc Hồ thề tuyệt đối trung kiên
Đem máu x
ương dân tộc ra lót đường trải lối
Cho Liên xô, giúp Tàu c
ộng nhuộm đỏ ối giải sơn hà
Nhu
ộm cho da vàng hoá đỏ Hồ vẫn chưa tha!
Nghe lệnh Hán truyền quyết đem  nồi da sáo thịt
Ni
ềm đau là đảng Cộng nô quyết nghe theo lệnh
Đánh người anh em dù chỉ còn sót lại ... một người
Ôi dã man, hèn h
ạ, vô dụng bọn đười ươi
T
ổ quốc đau thương sinh lũ con tai ương tật nguyền nơi trí tuệ!
B
ất tài, bất lực  làm bước tiến nước nhà đình trệ
Ch
ỉ hữu tài liếm gót Cộng sản ngoại lai
Đ
ảng Cộng bóc lột trần truồng người dân chỉ còn trắng đôi tay
Quan ch
ức thì bạc tiền chất cao che lấp cả lương tri và đạo lý
M
ặc cho dân kêu gào trong vô vọng, phẫn nộ, ai bi
Đ
ồng bào tôi còn có gì để sợ?
Nhà không còn cảnh màn trời tạm bợ
C
ơm chẳng đủ ngô khoai hai bữa để cầm hơi
Nhân công bị đảng bóc lột tơi bời
Ng
ư nhân đảng để Tàu phù tha hồ đánh đập!
Còn gì? Còn gì cho dân tôi ? H
ỡi loài man rợ
Ch
ết đi thôi! Cái đảng Hồ ly đã qúa trơ lì
Ch
ết đi, chết mau đi lời nguyền rủa đã thấu tới đấng uy nghi
Đ
ảng Việt Cộng phải chết vì Việt Nam đã chịu bao tang tóc
Ngày đ
ảng chết: Dân Việt Nam không còn than khóc
Nụ cười xưa sẽ tìm thấy lại trên môi
Ngày Quê h
ương sẽ bừng lên ánh tuyệt vời
Ngày t
ượng Hồ sẽ bị sấp mặt vụn tan từng mảnh vỡ
Ngày v
ẻ vang Tổ quốc cờ Vàng bay rực rỡ
Ôi ,
ước mơ ngày đó sẽ đến không xa
Ngày N. s
ẽ huy hoàng bất tận bao la
Tình t
ự Dân tộc, tình huynh đệ hoan ca
Đoàn con yêu T
ổ quốc thiết tha đầy cung kính
Ngày hy vọng, ngày Quê hương nở hoa hồi sinh!
Chúng ta s
ẽ có...

Thiên Kim. 








__._,_.___

Posted by: Phu Van 

Popular Posts

Popular Posts