Đại Học chăn Trâu




Saturday, 27 February 2016

Chệt: Biển đông là của chúng tôi

 
 Chệt: Biển đông là của chúng tôi


 
=
Vịnh Mexico không phải của Mexico.  Biển Nam China không phải của China
=
------ Forwarded Message ------
=
Miệng lưỡi của cộng phỉ: tráo trở, lật lọng, bịp bợm, lưu manh

01: Đừng nghe những gì cộng phỉ nói, hãy nhìn kỹ những gì cộng phỉ làm
02: Hồ tặc xuống tầu làm bồi cho Tây, cộng phỉ gọi là “tìm đường cứu nước”
03: Giật mìn, pháo kích, khủng bố, cộng phỉ gọi là “hoạt động cách mạng”
04: Dùng vũ lực súng đạn giết dân, cộng phỉ gọi là “giải phóng nhân dân”
05: Cướp đất của các điền chủ, cộng phỉ gọi là “cải cách ruộng đất”
06: Cướp đất toàn dân, cộng phỉ gọi là “khu quy hoạch”
07: Đập phá nhà dân oan, cộng phỉ gọi là “giải phóng mặt bằng”
08: Cướp tài sản của các thương gia, cộng phỉ gọi là “đánh tư sản”
09: Cấm người dân buôn bán, cộng phỉ gọi là “cải tạo thương nghiệp”
10: Bỏ tù quân nhân, công chức của VNCH, cộng phỉ gọi là “học tập cải tạo”
11: Vượt biên bị bắt, cộng phỉ gọi là “thằng phạm, con phạm”
12: Vượt biên thành công, cộng phỉ bợ đở gọi họ là “khúc ruột ngàn dặm”
13: Để sống sót cộng phỉ trở lại với nền kinh tế tư bản, cộng phỉ gọi là “đổi mới”
14: Độc tài, bóc lột, cộng phỉ gọi là “kinh tế thị trường theo định hướng XHCN”
15: Bỏ tù người tranh đấu cho tự do, dân chủ, cộng phỉ gọi họ là “phản động”
16: Sách báo Dân chủ, cộng phỉ gọi là “tài liệu phản động, công cụ khủng bố”
17: Chống Chệt, cộng phỉ nói: “có sai phạm về tư tưởng và nhận thức chính trị”
18: Biểu lộ lòng yêu nước, cộng phỉ nói: “gây hận thù các dân tộc anh em’’
19: Ra trát đòi người nào đó để điều tra, giam cầm, cộng phỉ gọi là “giấy mời”
20: Quốc-Hội cộng phỉ: là lũ hèn hạ, chỉ biết gật gù, cúi đầu, dạ-dạ, vâng-vâng.
21: Cộng phỉ gọi "quần chúng tự phát" là các hoạt động trong bóng tối như:
 . . . Ném chất dơ vào nhà dân, khiêu khích gây chuyện tại nhà thờ, chùa chiền.
 . . . Phương tiện thủ tiêu bằng nạn lưu thông, ngộ độc, thuốc quá liều, tự sát.
22: Công-An cộng phỉ: là bầy chó trung thành, dùng để cướp bóc, khủng bố
23: Đánh nguời, khổ hình, cộng phỉ gọi là “điều tra”
24: Hối lộ, cộng phỉ gọi là “trao, nhận quà trên mức tình cảm”
25: Kinh tế thê thảm, cộng phỉ gọi là “quá độ lên XHCN”
26: Thời chiến, các bà đần độn nuôi phiến loạn, cộng phỉ tâng bốc là “mẹ chiến sĩ”
 . . . Bây giờ, cộng phỉ cướp ruộng của mẹ chiến sĩ, mẹ chiến sĩ sáng mắt chưa?
27: Cộng phỉ Trường Chinh đấu tố mẹ
 . . . “Tao với mi không mẹ không con mà chỉ là kẻ thù giai cấp của nhau"
 . . . Tổng-bí-thư Trường Chinh tên thật là Đặng Xuân Khu sinh 9/2/1907 tại
 . . . làng Hành Thiện, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, chết 1988 tại Hà Nội
28: Xâm lăng Kampuchea cộng phỉ gọi là “nghĩa vụ quốc tế”
=
------ Forwarded Message ------
=
Thắng là vua, thua là giặc?  Thua là tội phạm, thua là phản quốc? - Không đúng.
Luật pháp do người làm ra.  Trộm, cướp, hiếp dâm, ở đâu cũng là tội phạm
“Bất đồng chính kiến” không phải tội phạm.  Âu, Mỹ, Úc không có tù chính trị.
Các nước độc tài, đần độn, có tù chính tri.
Nước Đức chia đôi.  Nước Đức thống nhất.  Không ai phản quốc.
Nam Bắc Mỹ đánh nhau.  Nam Mỹ thua.  Nam Bắc Mỹ vẫn là Liên Bang USA.

2 miền nam bắc Việt Nam, chỉ là con cờ trong âm mưu của các cường quốc.
2 miền nam bắc Việt Nam, không làm được 1 cây súng, không làm 1 viên đạn.
Họ đánh nhau bằng phản lực, hoả tiễn, đại pháo, đại liên, và tank của ngoại bang.
VNCH nhận tiền, vũ khí của Mỹ.  Cộng phỉ nhận tiền, vũ khí của Liên Xô, và Chệt.

Cộng phỉ chống Mỹ cứu nước?  Lê Duẫn nói: ta đánh Mỹ, là đánh cho Liên Xô, Chệt.
Sau 40 năm, khắp thế giới, cờ cộng phỉ chỉ treo trong các Lãnh Sự, Đại Sứ quán
Cộng phỉ chiếm miền nam.  Cộng phỉ bị văn hoá miền nam đồng hóa.
CS gọi nhạc VNCH là Sến.  Ca sĩ hải ngoại về VN hát nhạc Sến cho cộng phỉ nghe

VNCH thua? - Mỹ bại trận? - Mỹ bỏ VNCH, thì VNCH ngưng chiến đấu
VNCH là phản quốc, bán nước?  VNCH không bán đất, bán biển cho Chệt.
Bây giờ, Cộng phỉ chiến thắng van lạy Mỹ bại trận giúp cộng phỉ chống lại Chệt.

Cộng phỉ lừa bịp, ngụy trang các nhà tù chung-thân-khổ-sai là “học tập cải tạo”
Bị VC cầm tù, được Mỹ cho sống nhân đạo: bọn dại dột nói đi “học tập”
Kẽ đần độn, u mê, gọi thằng chó đẻ Hồ chí Minh là “bác Hồ”.
NKỳ, TKhiêm, VÁnh, VThúc, LKhoa, TTrường, NLập, NHùng, PVịnh, bợ đở VC
=
------ Forwarded Message ------
=
=

__._,_.___

Posted by: HungViet Bui 

QUANG TRUNG HOÀNG ĐẾ: NHÂN VẬT LỊCH SỬ HIẾM CÓ



 
QUANG TRUNG HOÀNG ĐẾ:  NHÂN VẬT LỊCH SỬ HIẾM CÓ

PHẠM ĐÌNH LÂN, F.A.B.I.



V
iệt Nam là một quốc gia có quá khứ thuộc địa lâu dài: 11 thế kỷ Bắc thuộc và 01 thế kỷ Tây thuộc.

Năm 1527 Mạc Đăng Dung soán ngôi nhà Hậu Lê, lập ra nhà Mạc. Mầm mống nội chiến giữa nhà Mạc và những người ủng hộ nhà Hậu Lê nhen nhúm. Cuộc nội chiến đầu tiên bắt đầu giữa hai họ Lê- Mạc. Nhà Hậu Lê được sự phò trợ của Nguyễn Kim rồi Trịnh Kiểm, rễ của Nguyễn Kim. Vào thập niên 1590 nhà Mạc bị quân Lê- Trịnh đánh đuổi ra khỏi Đông Đô (Hà Nội bây giờ). 

Theo lời chỉ dẫn của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm họ Mạc chạy lên Cao Bằng và được sự che chở của nhà Minh. Từ đó đến cuối thế kỷ XVIII Việt Nam trải qua những cuộc nội chiến giữa:
- Lê- Trịnh và họ Mạc ở Cao Bằng
- Lê- Trịnh và họ Nguyễn ở phía nam vĩ tuyến 18.
- Họ Nguyễn ở Phú Xuân và quân Tây Sơn.

Việt Nam bị phân chia ra làm ba tiểu quốc thống trị bởi các họ Mạc, Lê- Trịnh và Nguyễn.
Họ Mạc hùng cứ ở Cao Bằng.
Họ Lê và chúa Trịnh kiểm soát châu thổ sông Hồng đến vĩ tuyến 18 tức Đàng Ngoài hay Bắc Hà sau năm 1672.
Họ Nguyễn kiểm soát vùng đất ở phía nam vĩ tuyến 18. Đó là Đàng Trong tức Nam Hà.
Trong bóng tối lịch sử và trước sự hỗn loạn chánh trị và xã hội, trong nước xuất hiện một Thiên tướng: Nguyễn Huệ (1753 - 1792) tức Quang Trung Hoàng Đế sau này. Đây là một nhân vật lịch sử hiếm có chẳng những trong lịch sử Việt Nam mà trong lịch sử nhân loại nữa..

QUANG TRUNG NGUYỄN HUỆ: MỘT THIÊN TƯỚNG
Chúng tôi suy nghĩ rất nhiều khi dùng chữ Thiên Tướng đầy vẻ siêu hình và huyễn hoặc không phải để tâng bốc người anh hùng đất Tây Sơn hay để khêu gợi tự ái dân tộc và nhồi nhét óc mê tín dị đoan trong cộng đồng dân tộc mà để làm nêu bật tính phi phàm của nhân vật lịch sử này. Đó là một người xuất thân trong một gia đình tầm thường, sống trong ấp Tây Sơn hẻo lánh trong tỉnh Qui Nhơn. Trình độ học vấn rất khiêm tốn. Kiến thức quân sự hoàn toàn vắng bóng.
Gọi Nguyễn Huệ là một Thiên Tướng vì tính phi phàm của ông. Năm 1771 ông mới 18 tuổi nhưng đã chỉ huy một toán quân ô hợp, võ khí thô sơ và đã biến toán quân ô hợp đó thành một đạo quân thiện chiến và bất bại suốt đời binh nghiệp của ông. Một thanh niên 18 tuổi, nếu không có khả năng và thuật chỉ huy hay lãnh đạo thực sự, thì không thể nào điều khiển đám người ô hợp như vậy dễ dàng để có những thành tích vẻ vang được.
Dựa vào lời nói của các nhà nho tiền bối:
Học mà không biết là ngu.
Học mà biết là Hiền.
Không học mà biết là Thánh.


Chúng tôi không so sánh Quang Trung Nguyễn Huệ với hoàng đế Napoléon I của Pháp vì:
- Napoléon Bonaparte xuất thân từ một gia đình quí tộc Ý trên đảo Corse.
- Napoléon Bonaparte có học trường võ bị Brienne và nổi tiếng là một sĩ quan pháo binh từng dùng đại bác để giải tán những cuộc biểu tình của nhóm bảo hoàng trong thời cách mạng Pháp.

Chúng tôi đi xa hơn trong việc đi tìm những tương đồng giữa David thời Cựu Ước Kinh với Quang Trung Nguyễn Huệ.
1. David là một người chăn trừu ở Bethlehem. Ông được mô tả như một người đẹp trai mắt sáng, can đảm và có sức mạnh khác thường. Nguyễn Huệ là một nông dân gan dạ, mưu lược, võ nghệ cao cường, mắt sáng như điện, tiếng nói lanh lảnh như đồng.
2. Khi chăn trừu ngoài đồng thỉnh thoảng David phải đánh và giết sư tử và gấu đe doạ trừu của ông. Tương truyền rằng Nguyễn Huệ là người khoẻ mạnh và võ thuật cao cường. Ông đã đánh chết một con cọp. Có thể do thành tích này mà ông chỉ huy đạo quân ô hợp vào tuổi 18 dễ dàng và biến họ trở thành những chiến sĩ thiện chiến và bất bại.
3. David được xem như người tí hon đã giết chết người khổng lồ Goliath, người gây khiếp đảm cho quân Do Thái lúc bấy giờ, bằng một hòn đá bắn ra từ một cái giàn thun. Năm 1775 thanh niên Nguyễn Huệ, một nhà quân sự vô danh, đã đánh bại danh tướng của họ Nguyễn là Tống Phước Hiệp ở Phú Yên.
4. David là người chăn trừu, đẹp trai và chơi đàn thụ cầm rất giỏi được vua Saul yêu mến cho vào cung để đàn cho vua giải khuây khi tinh thần căng thẳng. Người chăn trừu ấy trở thành người anh hùng sau khi giết chết Goliath. Vua Saul gả công chúa Michal cho ông với điều kiện ông phải ra trận và giết hai trăm quân Philistines. 

Đó là cách vua Saul muốn hãm hại David vì lo sợ David chiếm lấy ngai vàng của ông vì sau khi giết chết Goliath, tên tuổi David được truyền tụng khắp cả nước. Năm 1786 Nguyễn Huệ đưa quân Tây Sơn Bắc tiến diệt họ Trịnh. Nhà Lê Trung Hưng vô quyền từ năm 1590 đến 1786 trước các chúa Trịnh. 

Để tưởng thưởng công lao của Nguyễn Huệ, người đánh dẹp chúa Trịnh, vua Lê Hiển Tôn gả công chúa Ngọc Hân cho Nguyễn Huệ. Nguyễn Huệ yêu Ngọc Hân công chúa nhưng David không yêu công chúa Michal đậm đà vì ý thâm độc của vua Saul mặc dù công chúa Michal rất yêu David. Saul gả Michal cho David trong tư thế một quân vương ban ân huệ cho một thần dân hữu công. Vua Lê Hiển Tốn gả công chúa Ngọc Hân cho Nguyễn Huệ như đền ơn vị tướng trẻ đã cứu nhà Lê Trung Hưng ra khỏi sự lộng quyền của các chúa Trịnh.

5. David tha chết cho vua Saul hai lần vì nghĩ đến tình quân- thần. Nguyễn Huệ cởi áo nhung bào đắp mặt chúa Trịnh Khải cắn lưỡi tự sát khi bị Nguyễn Văn Tráng bắt để lãnh tiền thưởng và ra lịnh cử hành đám tang của vị chúa này long trọng theo nghi lễ của nhà lãnh đạo. Ông cũng tha chết cho tiến sĩ Phan Huy Ôn theo sự khẩn cầu của tiến sĩ Phan Huy Ích. Sau việc Bắc tiến thành công, có sự bất hoà nhau giữa Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ. Nguyễn Huệ đem quân vây thành Qui Nhơn (Hoàng Đế Thành). 

Nguyễn Nhạc biết không thể đương cự lại Nguyễn Huệ nên đứng trên thành mà khóc. Nguyễn Huệ ra lịnh rút quân để tránh cảnh anh em nồi da xáo thịt. Điều này cho thấy Nguyễn Huệ là người rất tình cảm. Nếu xét theo hiệu năng chánh trị theo lý thuyết gia chánh trị Machiavel (1469 - 1527) thì tình cảm là một nhược điểm có thể dẫn đến thất bại chua cay trong đời sống chánh trị. Tình huynh đệ, sự bao dung và lòng nhân ái cho thấy Nguyễn Huệ là người có dũng tâm và tự tin vào khả năng của mình. Ông là một tướng lãnh nhưng không có óc hiếu chiến và hiếu thắng.
6. David và Nguyễn Huệ được xem là hai vị tướng bất bại xây dựng vương nghiệp bằng những chiến thắng quân sự. Lúc sinh thời Nguyễn Huệ đánh bại họ Nguyễn, họ Trịnh, quân ngoại viện Xiêm giúp cho họ Nguyễn và quân Mãn Thanh xâm lăng dưới chiêu bài giúp vua Lê Chiêu Thống phục hồi vương quyền.
7. Quang Trung Nguyễn Huệ đánh đuổi quân xâm lăng phương Bắc trong 06 ngày năm 1789. Một chiến thắng tương tự cùng thời gian 06 ngày được tìm thấy ở Do Thái năm 1967 trước liên minh Ai Cập- Jordan- Syria.

MỘT VỊ TƯỚNG CẨN TRỌNG VÀ MƯU LƯỢC
Quang Trung Nguyễn Huệ là một danh tướng trên chiến trường. Ông là người can đảm, tự tin, biết đánh giá TA và ĐỊCH một cách trung thực, khách quan và chính xác. 

Tự tin nhưng không khinh địch, không chủ quan và không kiêu ngạo. Ông biết khai thác óc mê tín dị đoan của tướng Phạm Ngô Cầu, người trấn giữ Thuận Hoá, dùng kế ly gián giữa Phạm Ngô Cầu và Hoàng Đình Thể trước khi mở cuộc tấn công vào Thuận Hoá năm 1786. Khi Thuận Hoá thất thủ ông ra lịnh xử tử Phạm Ngô Cầu để làm gương cho các tướng lãnh Tây Sơn: làm tướng mà mê tín dị đoan và đầy đoạ quân sĩ phục dịch cực khổ. Khi quân sĩ trong thành mệt nhoài Nguyễn Huệ ra lịnh tấn công.

Cử nhân Nguyễn Hữu Chỉnh, một nhân sĩ Bắc Hà, liên lạc với quân Tây Sơn khi quân chúa Trịnh chiếm Thuận Hoá năm 1774, giúp cho Nguyễn Huệ biết về các tướng lãnh ở Bắc Hà cũng như tình hình Bắc Hà dưới sự cai trị của vua Lê, chúa Trịnh. Sau khi chiếm Thuận Hoá trong tay quân Bắc Hà, Nguyễn Hữu Chỉnh yêu cầu Nguyễn Huệ Bắc tiến. Có thể Nguyễn Huệ cũng có ý này nhưng giả vờ nhún nhường cho rằng Bắc Hà có nhiều nhân tài và binh hùng tướng mạnh nên ông chưa dám nghĩ đến việc Bắc tiến. Khi Nguyễn Hữu Chỉnh khoác lác nói rằng đất Bắc Hà không còn nhân tài nào ngoài Chỉnh mà Chỉnh đã theo Tây Sơn rồi. Lúc ấy Nguyễn Huệ nghiêm sắc mặt và cho Chỉnh biết người mà ông sợ là Nguyễn Hữu Chỉnh. Nguyễn Hữu Chỉnh hoảng hốt. Nguyễn Huệ tìm cách trấn an Chỉnh nhưng vẫn thử Chỉnh thêm một lần nữa bằng cách viện lẽ rằng ông không dám Bắc tiến vì không có lịnh của Nguyễn Nhạc. Lúc ấy Chỉnh càng lộ óc bất phục tùng cấp trên của mình khi cho rằng cứ hành động rồi trình báo sau. Nguyễn Huệ tiến quân ra Bắc Hà. Nguyễn Hữu Chỉnh là người tiền đạo. Nguyễn Huệ loan truyền khẩu hiệu Phù Lê Diệt Trịnh. Mặt khác ông làm cho tướng Định Tích Nhưỡng và quân sĩ Bắc Hà mất ngủ vì suốt nhiều ngày liên tiếp họ được tin quân Tây Sơn đến nhưng vẫn không thấy gì cả. 

Đến khi thấy thuyền xuất hiện thì quân sĩ của chúa Trịnh dùng tên bắn xối xả vào các chiếc thuyền không người chèo và không có quân sĩ mà chỉ có những tượng gỗ. Khi quân Tây Sơn xuất hiện thực sự thì quân của Đinh Tích Nhưỡng đã mệt mỏi, tên bắn gần hết nên họ chỉ biết tháo chạy mà thôi.

Quân Mãn Thanh vào Thăng Long khi dân chúng miền Bắc chuẩn bị đón Tết năm Kỷ Dậu. Được tin này Nguyễn Huệ làm lễ đăng quang, cho quân sĩ ăn Tết và bí mật chuyển quân ra Bắc bằng một phần đường phía bắc của đường mòn Hồ Chí Minh sau này. Việc chuyển quân vừa nhanh vừa bí mật đến nỗi Sun She-yi ( Tôn Sĩ Nghị), tổng đốc Lưỡng Quảng (Quảng Đông & Quảng Tây- Kwang tung & Kwang si) đóng quân ở Thăng Long và vùng phụ cận không hay biết gì cả. 

Để gia tăng sự kiêu ngạo và thiếu cảnh giác của Tôn Sĩ Nghị, hoàng đế Quang Trung gởi cho Tôn Sĩ Nghị một bức thơ với lời lẽ sợ sệt và khuất phục. Quả nhiên Tôn Sĩ Nghị tỏ ra đắc chí và có cảm giác đang thụ hưởng cảnh bất chiến tự nhiên thành đến nỗi Hà Hồi, Ngọc Hồi thất thủ mà ông ta không hay biết gì cả.

MỘT TƯỚNG LÃNH KHÔNG CÓ TINH THẦN QUÂN PHIỆT
Vị cố vấn thân tín của Quang Trung Nguyễn Huệ là Trần Văn Kỷ. Qua Trần Văn Kỷ hai nhân sĩ Bắc Hà là tiến sĩ Ngô Thời Nhiệm và Phan Huy Ích theo người anh hùng trẻ tuổi (33 tuổi) về Phú Xuân để góp phần vào việc xây dựng quê hương. 

Quang Trung hoàng đế gởi thơ mời La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp vào Phú Xuân hợp tác với nhà Tây Sơn. Lúc bấy giờ trên thực tế có ba chánh quyền:
a. Từ Bến Ván, Quảng Nam, ra Bắc là lãnh thổ của Tây Sơn Quang Trung (Tây Sơn Phú Xuân)
b. Từ phía nam Bến Ván đến Bình Thuận là lãnh thổ của Tây Sơn Nguyễn Nhạc (Tây Sơn Qui Nhơn)
c. Từ Bình Thuận vào Nam là địa bàn hoạt động của Nguyễn Ánh với sự giúp đỡ tích cực của giám mục Pigneau de Béhaine ( Bá Đa Lộc)

La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp tu Tiên ở Hà Tĩnh. Ông khéo léo khước từ lời mời của hoàng đế Quang Trung. Vị hoàng đế trẻ không dùng quyền uy sẵn có để đe doạ người dám từ chối sự mời mọc của mình. Trái lại ông kiên nhẫn gởi thơ mời nhà nho tu Tiên nhập thế để cùng chung lo việc nước. Cảm kích vì nhiệt huyết muốn phát triển quê hương của vị hoàng đế trẻ cũng như thái độ trọng hiền của ông, La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp vào Phú Xuân để góp phần vào việc phát triển giáo dục quốc gia.

Ở điểm này chúng ta thấy Quang Trung Nguyễn Huệ hơn hẳn những tướng lãnh như Napoléon Bonaparte hay các chúa Trịnh xây dựng quyền hành tột đỉnh bằng võ nghiệp.

CÓ VIỄN KIẾN PHÁT TRIỂN QUÊ HƯƠNG
Hoàng đế Quang Trung thực sự nắm quyền vỏn vẹn có 03 năm (1789 - 1792). Chúng ta không có tài liệu nào nói rõ vì sao hoàng đế Quang Trung mất ở tuổi 39 tính ra tuổi ta là 40. Nói theo các thầy bói toán Đông Phương thì hoàng đế Quang Trung mất khi gặp sao Thái Bạch. Trên thế giới có nhiều vị vua chết trẻ vì say đắm tửu sắc bởi có nhiều cung phi mỹ nữ. Trường hợp này không đúng với hoàng đế Quang Trung. Không một tài liệu khá tín nào cho thấy ông là một người sa đoạ, lắm vợ, nhiều con. Không tài liệu khả tín nào cho thấy ông là một hôn quân, bạo chúa, hại dân, hại nước, tham nhũng, thối nát. Một danh tướng trên ngôi Thiên tử mà chết ở tuổi 39 chứng tỏ người ấy suy nghĩ rất nhiều đến đất nước:
- Làm sao độc lập với cường lân phương Bắc?
- Làm sao đủ mạnh để giữ được độc lập và không phải triều cống cường lân phương Bắc?
- Phải làm gì để tách rời khỏi Hán tự?
- Phải làm gì để phát triển một nền giáo dục độc lập? phát triển kinh tế?

- Phải làm gì cho dân chúng an cư lạc nghiệp? v. v.

Với 03 năm trên ngai vàng hoàng đế Quang Trung cố mang lại cho đất nước một khí thế mới so với 16 năm dưới triều hoàng đế Thái Đức tức Nguyễn Nhạc hay 09 năm dưới triều vua Cảnh Thịnh, con của Quang Trung hoàng đế.
Trần Văn Kỷ là cố vấn của hoàng đế.

Trần Quang Diệu là viên tướng tài và tận tuỵ. Ông là người xứng đáng trông coi việc binh bị trong nước.
Ngô Thời Nhiệm và Phan Huy Ích lo việc ngoại giao với Trung Hoa để đất nước được thái bình, dân chúng được an cư lạc nghiệp.

La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp đặc trách về thư viện, giáo dục. Quang Trung hoàng đế muốn dùng chữ Nôm thay thế chữ Hán. Các công văn được viết bằng chữ Nôm. Cuộc cải cách này bị các nhà nho bảo thủ kịch liệt phản đối. Nên có câu:
Nôm na là cha mách qué.
Ước mong xây dựng và phát triển quê hương của Quang Trung Nguyễn Huệ không gặp điều kiện thuận lợi vì:
- thời gian ngự trị của Quang Trung quá ngắn ngủi
- dân Bắc Hà còn hoài Lê và chúa Trịnh. Các nhà nho đều muốn bảo trì chữ Hán.

- dân chúng trên đồng bằng sông Cửu Long ủng hộ họ Nguyễn dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Ánh tức vua Gia Long sau này. Một số dân trên đồng bằng Đồng Nai- Cửu Long là người Minh Hương phò giúp cho họ Nguyễn rất đắc lực về mặt tài chánh. Dĩ nhiên họ muốn duy trì chữ Hán thay vì chữ Nôm. Họ Nguyễn chuộng Khổng Giáo và sẵn sàng phục tùng và triều cống Trung Hoa để vương quyền được Bắc quốc công nhận. Bắc triều là ngọn hải đăng của các vua nhà Nguyễn vào thế kỷ XIX. Trung Hoa bế quan toả cảng. Việt Nam cũng bế quan toả cảng. Trung Hoa bị các nước Âu Châu xâu xé. Việt Nam bị Pháp xâm chiếm. 

Trong chừng mực nào đó các nhà lãnh đạo ở Việt Nam quá nặng đến quyền hành mà quên hẳn số phận và tương lai của đất nước và dân tộc. Cuộc nội chiến giữa các họ Lê, Mạc, Trịnh, Nguyễn, Tây Sơn đều là những cuộc tranh giành quyền hành.

Muốn giữ quyền hành sau cuộc đảo chánh đẫm máu năm 1527 Mạc Đăng Dung phải tự hạ nhục mình, dâng sổ đinh, sổ điền cho nhà Minh và cắt các động ngoài biên giới dâng cho nhà Minh. Sau khi họ Mạc bị đánh đuổi ra khỏi châu thổ sông Hồng họ chạy lên Cao Bằng và nhờ sự che chở của nhà Minh để có chánh quyền trên một vùng đất nhỏ hẹp đến năm 1677. Họ Mạc bị nhà Thanh bỏ rơi khi bị họ Trịnh tấn công vì chọn lộn chủ!

Nguyễn Ánh không ngần ngại cầu viện Xiêm La (1784) rồi Pháp theo sự cố vấn của giám mục Pigneau de Béhaine. Chính vị giám mục này ký hiệp ước Versailles năm 1787 nhân danh Nguyễn Ánh trước sự hiện diện của hoàng tử Cảnh. Nói rõ hơn đó là hiệp ước do hai người Pháp ký: Thượng thơ Ngoại Giao De Montmorin và Pigneau de Béhaine. Nếu Pháp giúp Nguyễn Ánh khôi phục quyền hành thì Việt Nam nhường đảo Côn Nôn và Sơn Trà cho Pháp v. v. Việc này may mắn không xảy ra vì cách mạng bùng nổ ở Pháp nên vua Louis XVI không giúp đỡ cho Nguyễn Ánh và hiệp ước không được thi hành.
Vua Lê Chiêu Thông cầu viện nhà Thanh đánh đuổi quân Tây Sơn để phục hồi ngai vàng (1789).
Những chuyện trên không khác gì chuyện Hoàng Sa, Trường Sa và các hiệp ước ký kết giữa Trung Quốc và Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam về biên giới và biển đảo năm 1999 và 2000 bao nhiêu. Vì quyền hành các nhà lãnh đạo xem đất nước như vật trong túi muốn trao đổi, buôn, cho, dâng hiến như thế nào cũng được.
- dân Bắc Hà hay Nam Hà đều chịu ảnh hưởng của Khổng Giáo sâu đậm nên có cái nhìn bất lợi cho nhà Tây Sơn. Họ xem nhà Tây Sơn là ngụy triều thiếu chính danh. Vì không xuất thân từ những gia đình trâm anh thế phiệt? Vì không được Bắc triều công nhận? hay vì dám đương đầu lại với Bắc triều?

MỘT VỊ ANH HÙNG ĐƯỢC MỌI NGƯỜI KÍNH NỂ
Nhà Tây Sơn đi vào lịch sử từ năm 1771 đến 1801. Suốt 30 năm ấy người ta ít biết đến hoàng đế Thái Đức ( Nguyễn Nhạc), Nguyễn Lữ hay vua Cảnh Thịnh mà chỉ biết đến Quang Trung Nguyễn Huệ mà thôi. Nguyễn Huệ đã giựt sập chế độ phong kiến ở Nam Hà và Bắc Hà, đánh tan quân Xiêm La và quân Mãn Thanh trong chiến dịch 06 ngày.

 Họ Nguyễn, Lê và Trịnh rất oán ghét ông nhưng luôn luôn mô tả ông là một người không thể xem thường với lý lịch nông dân, sinh quán hẻo lánh, học vấn khiêm tốn v. v. Nguyễn Hữu Chỉnh xây mộng mưu bá đồ vương bằng đạo quân Tây Sơn đã phải thất vọng vì Nguyễn Huệ đã đọc được ý đồ của ông.

Nếu công chúa Michal, ái nữ của vua Saul, yêu David thi công chúa Ngọc Hân của vua Lê Hiển Tôn cũng thực lòng yêu Quang Trung Nguyễn Huệ. Điều này không đúng với công chúa nước Áo là Marie Louise với hoàng đế Pháp Napoléon I. Vua Saul ganh tỵ với David và tìm cách hãm hại David. Vua Lê Hiển Tôn xem Nguyễn Huệ là người ơn. Vua Lê Chiêu Thống oán ghét Quang Trung Nguyễn Huệ nhưng kính nể ông.

Quang Trung Nguyễn Huệ lưu lại cho người biết ông nhiều ấn tượng đặc biệt đến nỗi sau khi ông mất người ta vẫn trung thành với ông và sẵn sàng chấp nhận chết vì lưỡi gươm của kẻ thù của ông.

Napoléon I có nhà ngoại giao Talleyrand và thống chế Ney. Năm 1814 trước sức ép của liên minh các nước quân chủ Âu Châu vây hãm Paris, Napoléon I phải thoái vị và bị đầy ra đảo Elba ở Ý. Talleyrand và thống chế Ney ngả theo chế độ mới do vua Louis XVIII đại diện và được sự tiếp sức và hỗ trợ của liên minh Anh- Áo- Phổ- Nga. Chính thống chế Ney chỉ huy quân sĩ đón bắt hoàng đế Napoléon I khi trốn khỏi đảo Elba trở về Pháp. Trong đêm tối dày đặc và giữa đám quân súng lên nòng và sẵn sàng nã đạn, Napoléon I dõng dạc hô to: Ta là hoàng đế Napoléon. Kẻ nào muốn giết hoàng đế mình cứ nổ súng! Tất cả quân sĩ đều hô to: Hoàng đế vạn tuế! Vạn tuế! Thống chế Ney đành phải theo quân sĩ cùng hoàng đế Napoléon tiến về Paris.

Tiến sĩ Ngô Thời Nhiệm và Phan Huy Ích không giống Talleyrand.

Tướng Trần Quang Diệu và vợ, nữ tướng Bùi Thị Xuân, không giống thống chế Ney. Vua Gia Long thuyết phục Trần Quang Diệu theo nhà Nguyễn để được hưởng phú quí thay vì bị hành hình. Trần Quang Diệu xin được về quê làm ruộng để đóng thuế cho triều đình. Vua Gia Long từ chối đề nghị này. Trần Quang Diệu chấp nhận bị xử lột da! 

Trước khi chết ông chỉ xin vua Gia Long một ân huệ duy nhất: tha chết cho mẹ ông. Vua Gia Long chấp nhận đề nghị này. Vợ tướng Trần Quang Diệu, nữ tướng Bùi Thị Xuân, và con gái bị voi giày.

Với trình độ học vấn của Quang Trung hoàng đế, nếu ông không có nét phi phàm, lòng nhiệt huyết, sự tận tuỵ và thuật xử thế hơn người thì không sao ông chinh phục sự mến phục và trung thành của các nhà nho như Trần Văn Kỷ, Ngô Thời Nhiệm, Phan Huy Ích, La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, tướng Trần Quang Diệu và vợ là nữ tướng Bùi Thị Xuân. Nên nhớ các vị này trung thành với Quang Trung Nguyễn Huệ sau khi người anh hùng dân tộc đã mất 09 năm rồi.
Chấp nhận sống ẩn dật trong cảnh thiếu thốn nghèo khổ và chấp nhận những cái chết ghê rợn để bày tỏ lòng trung thành đối với một người đã mất nghe có vẻ đơn giản nhưng không phải là việc dễ làm và thường thấy trong kiếp nhân sinh.

Một nén hương lòng cho người anh hùng dân tộc và những tâm hồn cao thượng của những người nuôi ước vọng xây dựng một đất nước độc lập và giàu mạnh bằng công sức, tài năng và trí tuệ của mình.

PHẠM ĐÌNH LÂN, F.A.B.I.
_

__._,_.___


Posted by: truc nguyen <nguyentruc_us@yahoo.com> 

Văn hóa Việt Nam xuống cấp trầm trọng: Nguyên nhân và giải pháp....Cái gọi là “nền giáo dục” của Cộng sản Việt Nam



---------- Forwarded message ----------
From: Toma Thien <>
Date: 2016-02-22 19:36 GMT-08:00
Subject: Re: 1 DĐKTTG Văn hóa Việt Nam xuống cấp trầm trọng: Nguyên nhân và giải pháp
To: usaelection+owners>


Cái gọi là “nền giáo dục” của Cộng sản Việt Nam
Linh mục Phê-rô Phan Văn Lợi, 18-09-2015
Bài này cũng có trên Youtube dưới dạng trả lời phỏng vấn
của nhà báo Trần Quang Thành ngày 18-09-2015 (thêm các câu hỏi)

            Mở

            Mới đây, dư luận xôn xao về một vụ việc liên quan tới giáo dục. 

Đó là trong buổi ra mắt sách của nhóm Cánh Buồm về đường lối giáo dục tại Việt Nam hôm 12-08-2015 em Vũ Thạch Tường Minh học sinh Trường Amsterdam tại Hà Nội, 14 tuổi, đã phát biểu: “Theo con… bây giờ giáo dục Việt Nam con thấy là -con không có tính từ nào khác nên phải dùng tính từ này- là giáo dục Việt Nam bây giờ con thấy quá ‘thối nát’ rồi. Mà suốt bao nhiêu năm qua các vị cải đi, cải lại, cải tiến, cải lui mà nó không thay đổi được kết quả gì cả. Nên bây giờ con muốn các vị bộ trưởng, thứ trưởng hãy thay đổi đường lối giáo dục của Việt Nam… Các vị có thể nói là mất thời gian, nhưng con thấy thời gian các vị cải tiến, cải lùi còn mất thời gian hơn. Giáo dục Việt Nam không cần cải cách gì nữa mà cần được cách mạng. Đó mới là điều quý vị trong bộ giáo dục nên làm”.

            Sau đó, ngày 19-08, đài RFA có thực hiện một cuộc phỏng vấn vài em học sinh khác. Tất cả đều đồng ý với em Tường Minh và còn thêm (1) Nền giáo dục Việt Nam hiện nay khó có thể cải cách, vì đã nhiều năm bị kiềm chế làm cho tha hóa. (2) Nền giáo dục VN không thúc đẩy sự phản biện, không cổ súy quyền tự do ngôn luận, trái lại buộc phải tuyệt đối nghe lời thầy, cô giáo. (3) Nền giáo dục Việt Nam cần có một định hướng khác chứ không thể là định hướng xã hội chủ nghĩa, vì nó không phù hợp. Cần một định hướng mà mỗi cá nhân có được sự phát triển. (4) Sinh viên, học sinh cần có tiếng nói, nhưng điều này rất khó trong một đất nước không có tự do ngôn luận và rất dễ bị ở tù. (5) Khi tư duy được tự do phát triển, khả năng ngôn luận được tự do, những tư tưởng sẽ được phát sinh rất nhiều. Đây cũng là nhận xét chung của hầu hết mọi người VN ở trong lẫn ngoài. Trước tình trạng thê thảm đó, Giáo sư Nguyễn Khắc Mai, Giám đốc Trung tâm Minh triết Việt Nam ở Hà Nội, trong cuộc phỏng vấn của đài BBC tháng 6-2015 đã có lý giải: “Tư duy và tư tưởng của những người lãnh đạo Việt Nam hiện nay rất nông cạn, vì thế họ suy nghĩ hời hợt, bề ngoài. Họ rất thích áp đặt, không thích cãi lại, để cho mỗi học sinh được tự do, để trưởng thành một con người. Cái lò đào tạo ra người quản lý giáo dục lại là trường Nguyễn ái Quốc, trường đảng, là những nơi xơ cứng nhất, kiến thức hẹp nhất.” Giáo sư Mai cũng có nói thêm: “Do triết lý giáo dục của Việt Nam hiện nay không được xác định tốt nên người học, người dậy và cả người quản lý đều lúng túng. Vì thế không thúc đẩy được sự hình thành những tài năng giáo dục cho thời kỳ mới, không giúp nẩy nở những những nhân tố tích cực cho dân tộc, kể cả tâm thức của người học cũng như tâm thế của người dạy”. Nhưng Giáo sư lại không xác định triết lý giáo dục chưa tốt đó như thế nào.

            Thành ra, bàn về hiện trạng giáo dục thối nát của VN, thiết tưởng chúng ta cần nói tới: nguồn gốc (hay triết lý giáo dục), sách lược (hay đường lối giáo dục) và hậu quả trên chính nền giáo dục và trên toàn xã hội.

            1- Nguồn gốc (triết lý giáo dục)
            Nguồn gốc của tất cả sự băng hoại của “nền giáo dục” tại nước CHXHCNVN lúc này phải nói chính là ý thức hệ Mác-Lê vô thần duy vật và chế độ độc tài toàn trị Cộng sản vốn đang được đảng cầm quyền ra sức thực hiện.

            Giáo dục là dạy dỗ, đào tạo con người sống theo một thứ đạo đức nào đó và nhắm tới một mục tiêu nào đó. Thế mà ý thức hệ Mác-Lê và chế độ Cộng sản chủ trương “đạo đức cách mạng” với 2 nguyên tắc chính: (1) mọi cái có lợi cho Cách mạng (tức cho đảng) đều là chân thiện mỹ, dù đó là gian dối hay bạo lực, xấu xa hay đê hèn; (2) cứu cánh biện minh cho phương tiện, cứu cánh đây là sự tồn tại của chế độ CS, nên nếu phương tiện có đi ngược lại tiếng nói của lương tâm, lời dạy của tôn giáo thì cũng bất chấp, bất cần. Còn mục tiêu giáo dục hiện nay tại VN chính là đào tạo người dân, nhất là giới trẻ, thành thần dân trung thành với đảng, công cụ mù quáng của chế độ hơn là công dân tự do cho đất nước, con người nhân bản cho xã hội. Có như thế đảng mới muôn năm trường trị để giữ mọi quyền lực và hưởng mọi quyền lợi.

            2- Sách lược (hay đường lối)
            Từ đó phát sinh ra sách lược (hay đường lối) là đảng CS phải quản lý, khống chế toàn diện nền giáo dục quốc dân từ mẫu giáo đến đại học. Cứ đọc Luật Giáo dục và nhìn Nền Giáo dục là thấy rõ điều này.
           
      Trước hết, hãy điểm qua vài điều trong Luật giáo dục do đảng chỉ đạo quốc hội soạn mà đã ban hành ngày 14-06-2005. “Điều 2: Mục tiêu giáo dục: Đào tạo con người VN phát triển toàn diện, có đạo đức… trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội….”. “Điều 3: Tính chất, nguyên lý giáo dục: 1. Nền giáo dục VN là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng”. “Điều 27: Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất… hình thành nhân cách con người VN xã hội chủ nghĩa…”. “Điều 40: Nội dung giáo dục đại học phải có tính hiện đại và phát triển, bảo đảm cơ cấu hợp lý giữa kiến thức khoa học cơ bản… và các bộ môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh…” Đề cương ‘Chiến lược Phát triển giáo dục 2011–2020’, đảng cũng đưa ra 4 ‘Quan điểm chỉ đạo’ ngành giáo dục tương tự: 
“Một. 
Phát triển giáo dục phải thực sự là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. 
Hai. 
Xây dựng nền giáo dục có tính nhân dân, dân tộc, tiên tiến, hiện đại, xã hội chủ nghĩa, lấy chủ nghĩa Mác–Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng. 
Ba. 
Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa, hội nhập quốc tế, thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. 
Bốn. Hội nhập quốc tế sâu, rộng về giáo dục trên cơ sở bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc, giữ vững độc lập, tự chủ, định hướng xã hội chủ nghĩa.”
Bốn quan điểm chỉ đạo này hiển nhiên đều dính đến đường lối chính trị của Đảng CS.

            Do đó đảng tiêu diệt các trường tư của mọi tôn giáo (vốn đã có từ tiểu học tới đại học trước năm 1975 tại miền Nam) và khống chế các trường tư của mọi công dân . Hiện các tôn giáo chỉ được mở trường mẫu giáo mà thôi. Mới đây, ngày 03-08-2015, ban tôn giáo chính phủ có cho phép thành lập Học viện Công giáo nhưng buộc phải “hoạt động theo quy định của pháp luật VN và theo nội dung đề án được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận” (Điều 2 của Quyết định 289). Giáo hội Phật giáo VN thì từ lâu đã có một học viện tại Sài Gòn. Học viện Phật giáo này từng nổi tiếng vì năm 2001 có chấp thuận một luận văn chụp mũ, mạt sát, mạ lỵ Đức Huỳnh Giáo Chủ và đả kích giáo lý PGHH. Mới đây, hôm 01-09, thầy chủ nhiệm khoa của anh sinh viên Phạm Lê Vương Các tại Đại học (dân lập) Kinh doanh Thương mại Hà Nội có nói với anh: “Trường này do những người CS lập ra, và sẽ đào tạo ra những con người thuộc về chế độ chính trị CS.”, do đó khuyên anh nên rút hồ sơ và xin nghỉ học ở trường vì anh có tinh thần dân chủ. (Xem bài “Em hãy rút hồ sơ và nghỉ học ở trường này đi”).

            Thứ hai, Đảng đặt các hiệu trưởng cho mọi trường công lập từ tiểu học trở lên: hiệu trưởng phải là thành viên của đảng; ngoài ra còn có bí thư đảng, đảng đoàn trong trường học để kiểm soát mọi giáo viên và học sinh, mọi chương trình và hoạt động của trường. Mỗi cậu đoàn viên đoàn Thanh niên Cộng sản có bổn phận đóng vai công an theo dõi thầy và bạn của mình, nhất là trong lập trường chính trị. Nhiều em thuộc Đội thiếu nhi Tiền Phong trong các trường cấp 1 cũng lãnh nhiệm vụ báo cáo về cô giáo của mình.

            Thứ ba, Đảng độc quyền biên soạn sách giáo khoa và coi giáo khoa là pháp lệnh, không được giảng dạy ra ngoài, nhất là các môn khoa học nhân văn. Chính vì thế mà vào năm 1960, một thày giáo bạn của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện bị đau, đã nhờ ông dạy giúp hai giờ môn sử. Bài học hôm ấy nói về Thế chiến thứ hai kết thúc với sự đầu hàng vô điều kiện của Nhật Bản. Bất bình trước hành vi trắng trợn xuyên tạc lịch sử của sách giáo khoa viết rằng Thế chiến này kết thúc là nhờ Hồng quân Liên Xô đánh bại quân đội Nhật, nhà thơ đã thẳng thắn giảng cho học sinh biết sự thật là quân Nhật thua quân Đồng minh vì hai quả bom nguyên tử của Mỹ. 

       Cái giá của viêc “coi thường” giáo khoa này là hai tháng sau ông đã bị nhà cầm quyền kết án và đẩy vào lao ngục, khởi đầu cho cuộc đời vào tù ra khám 27 năm dưới bàn tay sắt máu của chế độ. Tháng 6-2009, cô giáo Nguyễn Thị Bích Hạnh, 28 tuổi, đang dạy ở trường Nguyễn Bỉnh Khiêm, Quảng Nam, bị buộc thôi việc vì "đã vi phạm nghiêm trọng trong việc xuyên tạc đạo đức nhà giáo; sử dụng bục giảng làm nơi tuyên truyền những nội dung trái với quan điểm của chính sách Nhà nước; xuyên tạc đường lối của Đảng, chủ trương pháp luật của Nhà nước, vi phạm quan điểm nội dung giáo dục trong việc cập nhật khai thác, truyền bá trang web phản động, phản giáo dục”. Việc “truyền bá” này chính là cô đã đề cập với các em học sinh một số bài viết trên các trang mạng hải ngoại như Talawas và Tienve.org với mục tiêu “hướng dẫn các em biết cách tự học, tự đọc, tự tìm tòi phân tích thông tin”.

            Thứ tư, Đảng đặt ra hệ thống quản lý giáo dục (bộ, ty, sở, phòng) từ trung ương tới địa phương: tỉnh, thành, quận, huyện. (VN Cộng Hòa chỉ có ở cấp miền và tỉnh). Tổ chức đảng điều khiển hệ thống này. Mục tiêu của nó là kiểm soát từ học đường đến gia đình, từ thầy đến trò để theo dõi chính kiến của tất cả ngõ hầu mọi sự đều luôn nằm trong bàn tay của đảng. Toàn bộ nhân sự quản lý giáo dục đó đều xuất thân từ hệ thống các trường đảng vốn có khắp mọi tỉnh mang tên là trường Nguyễn Ái Quốc. Nơi đây cũng đào tạo nhân sự quản lý hành chánh của chế độ.
            Thứ năm, Đảng buộc môn chính trị trong các trường là môn chính khóa với rất nhiều tiết học. Thậm chí còn buộc như thế đối với các trường đào tạo tôn giáo, theo điều 24 Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo và điều 14 Nghị định về tín ngưỡng tôn giáo. Tại các trường đào tạo tôn giáo này, nó mang mỹ từ là “môn học về lịch sử và pháp luật Việt Nam”, nhưng thật ra là chính trị.

            Thứ sáu, Đảng còn đoàn ngũ hóa học sinh sinh viên qua tổ chức Đội Thiếu nhi Tiền phong và Đoàn Thanh niên CS mà hầu như có tính cách bắt buộc, nhằm tẩy não và nhồi sọ thế hệ trẻ về lòng kính yêu “bác” và việc bước theo “đảng”.
            Ngoài ra, còn phải kể đến việc quân đội và công an cũng là nơi đảng nặn nên những kẻ “chỉ biết còn đảng còn mình”, “trung với đảng” (trước), “hiếu với dân” (sau) qua một hệ thống không hề có trong các chế độ dân chủ và cả các chế độ độc tài phi cộng sản. Đó là hệ thống chính ủy.

            Đối với đông đảo quần chúng nhân dân, Đảng cũng không quên giáo dục họ bằng một nền thông tin tuyên truyền nhồi sọ liên tục ngày đêm, đôi khi bằng những chiến dịch rộng rãi. Có những chiến dịch đã vang rền lịch sử như cuộc Cải cách Ruộng đất và vụ án Nhân văn Giai phẩm. Ngoài mục tiêu thu tóm đất đai và các phương tiện sản xuất nông nghiệp vào tay đảng, cuộc Cải cách ruộng đất –qua biện pháp tố khổ: con tố cha, vợ tố chồng, hàng xóm tố nhau- còn nhằm phá hoại toàn bộ nền đạo đức cổ truyền của dân tộc là tình làng nghĩa xóm, là nếp sống chân thành, nhân ái giữa mọi người Việt, là tôn ti trật tự trong gia đình, trong dòng họ, trong cộng đồng, để thay bằng đạo đức cách mạng của đảng và quyền uy thống trị độc tôn của đảng. 

                   Vụ án Nhân văn Giai phẩm thì nhắm cưỡng buộc giới trí thức, văn nhân nghệ sĩ đem tài năng không phải để phục vụ chân thiện mỹ, cho các giá trị nhân văn, mà là phục vụ cho sự thống trị của đảng. Đảng giáo dục quần chúng bằng cách làm cho mọi người dân nghi ngờ nhau, dò xét nhau, báo cáo nhau và nhất là xa lánh, căm ghét tất cả những ai bị đảng cho là kẻ thù nhân dân, của nhà nước, của chế độ. Số phận thê thảm của các nhà trí thức nổi tiếng như luật sư Nguyễn Mạnh Tường, triết gia Trần Đức Thảo, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện sau khi họ lên tiếng cho sự thật và lẽ phải, dân chủ và tự do là những bằng chứng. “Nghe theo đảng, nói theo đài” là châm ngôn sống mà đảng đã luôn nhồi vào đầu óc quần chúng bằng cả một nền báo chí công cụ đồ sộ mà Nguyễn Phú Trọng vừa khoe nhân kỷ niệm 90 năm “Ngày Báo chí Cách mạng VN” (21/06/1925-2015): 849 cơ quan báo in, 67 đài phát thanh - truyền hình, 98 báo, tạp chí điện tử, một hãng Thông tấn quốc gia, 35.000 người làm việc trong lĩnh vực báo chí trong đó có gần 18.000 là nhà báo chuyên nghiệp”. Rồi đảng còn giáo dục quần chúng bằng một hệ thống loa phường đinh tai điếc óc mà gần đây lại tiếp tục gây tranh cãi trên báo chí.

            3- Thành quả (hay đúng hơn là hậu quả)
            Thành quả của “nền giáo dục” bị đảng hóa, độc quyền hóa, chính trị hóa như thế thì vô số và chỉ có thể là thê thảm, tai hại, nên phải gọi là hậu quả.
            a- Ngay trên lãnh vực giáo dục, đó là ông thầy cần “hồng” hơn “chuyên”. Từ đó sinh ra nạn hiệu trưởng, giáo sư và giáo viên sẵn sàng cấm sinh viên học sinh xuống đường biểu tình chống Tàu cộng xâm lược, như đã thấy trong các cuộc biểu tình từ năm 2007 đến nay, nạn nhà trường đuổi học những sinh viên yêu tự do, dân chủ (như Nguyễn Phương Uyên, Phạm Lê Vương Các) hay hăm dọa bạn học bênh vực các sinh viên này, nạn thầy giáo để cho công an vào trường bắt học trò của họ. Rồi nạn “nhà giáo ưu tú” làm dư luận viên bênh vực đảng và chế độ như Trần Đăng Thanh, Hoàng Chí Bảo… Ngày 18-04-2015, theo BBC, phó giáo sư đại học quốc gia Hà Nội Vũ Quang Hiển thản nhiên phát biểu cách dối trá: “Tôi nghĩ rằng sau chiến tranh, VN không có ngược đãi đối với mọi người.... Còn việc tập trung học tập hay cải tạo, tôi nghĩ đấy là để học cho rõ chính sách của nhà nước VN thời bấy giờ... chứ không có nghĩa là một chế độ tù đầy. Nếu nói là tù đầy, thì tôi nghĩ đó là một sự xuyên tạc”.

            Rồi nạn giáo viên thiếu kiến thức (“đứng nhầm bục”) và vô tư cách. Vô tư cách như đổi tình lấy điểm, buộc học sinh phục vụ sinh lý cho mình và cho các quan chức (ví dụ tại trường thị trấn Việt Lâm, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang), như tung hình khêu gợi lên mạng (nữ giáo sinh nhiều trường sư phạm, theo báo Nghệ An online ngày 02-07-2014), như nâng điểm, cho lên lớp những học sinh kém, như dạy học sinh gian lận, để mình có thành tích, đến nỗi ông nguyên bộ trưởng giáo dục Nguyễn Thiện Nhân phải la hoảng. Chẳng hạn ngày 14-05-2015, trên Tuổi Trẻ Online có một bài báo với tựa đề “Chúng ta đang dạy con trẻ dối trá”, bài viết nói về ‘Cuộc thi sáng tạo trẻ thơ’ ở trường tiểu học nọ. 

              Trong cuộc thi, người ta tập hợp các sáng chế của chính các em học sinh lớp 4-5. Nhưng sự thật, các dụng cụ sáng tạo đó đều hoặc do thày cô hoặc do phụ huynh thiết kế rồi đăng ký tên cho các em, phần diễn giải cũng được viết sẵn cho các em học thuộc. Ngày thi, từng tốp các em lên thao thao thuyết minh cho sáng tạo nhận vơ của mình, rất chuyên nghiệp & trôi chảy. Phía dưới sân khấu là hàng trăm học sinh khác làm khán giả, chúng cũng râm ran bàn tán theo từng sáng tạo. Điều đáng buồn, chúng xôn xao không phải vì thích thú với những sản phẩm độc lạ, mà vì khó chịu với những người bạn ra oai mô tả sản phẩm sáng tạo chẳng phải của mình và với những thầy cô xúi học sinh làm điều bất lương thiện.  
            Ngoài ra có nạn giáo viên coi học sinh và gia đình là nơi để làm tiền bằng cách dạy thêm (một quốc nạn đau đầu đã mấy chục năm nay mà vẫn không giải quyết được), thu đủ kiểu chi phí ngoài học phí, và mỗi năm đến ngày Nhà giáo VN thì vòi tiền vòi quà cách trắng trợn.

            Về học sinh thì cũng có nạn hồng hơn chuyên: đó là không ý thức về hoàn cảnh đất nước (để đảng lo), không băn khoăn về bộ mặt chế độ (để đảng làm), không tham gia các cuộc biểu tình yêu nước (thậm chí làm rào chặn đoàn biểu tình, phá đám việc tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ), sẵn sàng làm dư luận viên bênh vực chế độ và tấn công phong trào dân chủ (tự hào đó là bản lĩnh chính trị, kênh truyền hình VietVision là một thí dụ). Về đức dục thì có nạn gian dối: quay cóp khi làm bài, đồng lõa với thầy cô để tập trước những cuộc thi điển hình, kiểu mẫu hoặc để nhận biểu diễn các tác phẩm do thầy cô sáng tạo như ví dụ nói trên kia. Đáng nói nhất và nhức nhối nhất là nạn bạo hành (học sinh đánh bạn, đánh thầy, ngay cả học sinh nữ, trước sự chứng kiến vô cảm hay thái độ hùa theo của bạn bè), nạn vâng lời tối mặt, thiếu tinh thần độc lập (đôi khi bắt buộc phải vậy). Về trí dục thì có nạn học đối phó, học để thi, để lên lớp, không phải để hiểu biết; học kiểu từ chương, không có tinh thần tự tìm, tự hiểu; làm bài theo văn mẫu, ít óc sáng tạo.

            Về giáo khoa, thì giáo khoa của các môn nhân văn như công dân, văn, sử, địa, đầy rẫy những xuyên tạc lịch sử (“30% sự thật, 70% gian dối theo giáo sư Hà Văn Thịnh), đề cao đảng và chế độ, lâu lâu lại đề cao Tàu cộng hay che giấu những hành động xâm lăng của Bắc phương (khiến thui chột lòng yêu nước), dạy lòng căm thù, nhất là căm thù những ai bị đảng coi là địch (khiến tiêu biến lòng nhân ái vị tha). Ngay các bài toán cộng trừ cũng nhiều khi là việc tính xác chết của quân đội Mỹ ngụy. Mới đây có loại sách dạy kỹ năng sống bằng cách ăn phân gà, đi trên miểng chai, cưa bom đạn. Giáo khoa các môn khoa học kỹ thuật thì biên soạn ẩu tả, sai lạc. Nhà văn Trần Khải Thanh Thủy từng tiết lộ là một người bạn cùng lớp với bà, học rất dốt, sau khi ra trường lại trở thành người biên soạn giáo khoa. Ngoài ra, có nạn sách học đổi từng năm, khiến em không thể dùng sách của anh được.

            Về cơ sở: đa phần xuống cấp, xập xệ, nhất là những vùng sâu vùng xa, thiếu những học cụ hiện đại. Chưa kể đến việc học sinh phải đu dây vượt sông, chui vào túi ny-lon qua suối để đến trường. Lại có nạn tham nhũng trong việc cung cấp các phương tiện như máy vi tính, bảng tương tác điện tử, việc cung cấp đồng phục, việc xây dựng nhà vệ sinh. Báo VietnamExpress ngày 8-6-2013 có bài: “Gần 6 tỷ đồng xây dựng 13 nhà vệ sinh” tại trường học. Rồi ngoài học phí (tiểu học và trung học công lập, một kiểu bóc lột về mặt vật chất sau kiểu bóc lột tinh thần là tẩy não, nhồi sọ, diệt ý chí, trấn áp tự do), còn đủ trăm thứ phí học đường, khiến gia đình càng thêm khánh kiệt.

            b- Hậu quả của nền giáo dục CS trên toàn xã hội là trình độ văn hóa chung của xã hội và đất nước xuống cấp trầm trọng: bằng giả tràn lan, đủ thứ tiến sĩ giấy, giáo sư dổm. VN không có những tác phẩm văn hóa, phát minh khoa học, sáng chế kỹ thuật mang tầm mức quốc tế, hoàn vũ. Theo thống kê gần đây của Bộ Khoa học-Công nghệ Việt Nam, cả nước có 24.300 Tiến sĩ và hơn 100.000 Thạc sĩ.  Số Giáo sư, Tiến sĩ của Việt Nam đạt mức nhiều nhất Đông Nam Á.  

         Nhưng khi so sánh với các nước trong khu vực về số bằng sáng chế riêng cho năm 2011, Việt Nam đứng ở vị trí thấp nhất. Singapore với 4.8 triệu người, có 647 bằng sáng chế; Malaysia với 27.9 triệu người, có 161 bằng sáng chế; Thái Lan với 68.1 triệu người, có 53 bằng sáng chế; Philippine với 95.8 triệu người, có 27 bằng sáng chế; Việt Nam với dân số 90 triệu người, không có bằng sáng chế. Bảng xếp hạng (QS) về học vấn năm 2015 của các trường đại học danh tiếng (World University Ranking) tại Á Châu, trường đại học số 1 của Việt Nam (Đại học Quốc gia Hà Nội) được xếp hạng 191/200. Nhưng theo bảng xếp hạng về số bài báo khoa học công bố (Scimago), đại học Việt Nam đứng vị trí 1.895 trong số các trường đại học trên thế giới.

            Tình trạng đạo đức thì ngày càng băng hoại: chẳng còn tình làng nghĩa xóm, nghĩa đồng bào tình đồng loại. Xã hội đầy ứng xử vô văn hóa, gian dối và bạo lực. Ứng xử vô văn hóa như xả rác bừa bãi, không tôn trọng luật đi đường, phá hoại công trình công cộng. Ngay cả quan chức cao cấp cũng làm gương trong chuyện này, như bí thư Hà Nội Phạm Quang Nghị từng dám đem tặng thượng nghị sĩ Hoa Kỳ John McCain hình tấm bia ghi lại việc ông ta bị bắn rơi tại Hà Nội thời chiến tranh, mà nên nhớ Phạm Quang Nghị từng là bộ trưởng bộ văn hóa. Gian dối trong giao tế, làm ăn, tạo sản phẩm. Ra nước ngoài thì ăn cắp, buôn lậu. Chuyện này đặc biệt xảy ra tại nhiều tòa đại sứ, lãnh sự VN và hãng Hàng không VN. Bạo lực xảy ra liên tục trên đường, giữa phố, do học từ nhà trường và từ việc nhà nước dùng bạo lực với dân.

            Nền giáo dục đó cũng tạo ra những công an  tàn ác với dân, mù quáng tuân lệnh, làm luật kiếm tiền, sẵn sàng tra tấn đến chết những ai mới bị bắt vào đồn; những viên chức tham nhũng bóc lột, dối gian lừa đảo, hứa hẹn hão huyền và không nguôi lòng thù hận (như nhà cầm quyền tại SG vẫn tiếp tục để nguyên tấm bia nói về tội ác của Mỹ ngay trước tòa lãnh sự Hoa Kỳ); những nhà báo dối trá, ngày đêm sơn phết, tụng ca chế độ bất chấp lương tâm và lòng xấu hổ; những trí thức mũ ni che tai, trùm chăn với thời cuộc, tự cho mình khôn ngoan, hoặc còn mải mê kiếm tìm danh lợi; những bác sĩ y tá vô lương tâm, chỉ biết khai thác khổ đau bệnh tật của đồng loại.
            Kết luận
            Bản tính con người vốn dị ứng với gian dối và bạo lực và luôn luôn khao khát tự do, chẳng ai muốn bị lừa gạt, hành hạ và trở thành nô lệ, trừ những kẻ mang ý đồ xấu, sử dụng 3 thứ đó với người khác. Thế mà nền giáo dục CS lại xây trên gian dối, bạo lực và nô dịch, nhằm duy trì chế độ, giữ ngai vàng cho đảng CS, thành ra nó hoàn toàn và vĩnh viễn không có khả năng giáo dục con người, đã không giáo dục được và sẽ không giáo dục được ai cả. Nền giáo dục VN hiện tại –mà phải nói cho đúng là nền phản giáo dục- đang phản ảnh bản chất chế độ đồng thời là hậu quả của chế độ. Thành ra, muốn canh tân giáo dục, việc đầu tiên và quan trọng nhất là phải thay đổi chế độ chính trị tại VN. 

          Bao lâu còn chế độ CS duy vật, vô thần độc tài toàn trị, bao lâu còn đảng CS vốn chỉ biết một điều là giữ quyền lực và thâu tóm mọi quyền lợi vào tay mình thì không bao giờ có thể “trồng người” dù là trăm năm, dù là cả ngàn năm chăng nữa. Cho nên điều quan trọng là mọi người dân, những ai ý thức, những ai đang đau đớn về tình hình giáo dục VN, phải cùng nhau làm cho chế độ CS biến mất trên quê hương của chúng ta. Lúc đó thì con người, nhất là giới trẻ, mới tiếp tục được giáo dục trong một nền giáo dục chính danh và đúng nghĩa.   


From: Quyet Nong
Sent: Monday, February 22, 2016 9:26 PM
Subject: 1 DĐKTTG Văn hóa Việt Nam xuống cấp trầm trọng: Nguyên nhân và giải pháp

Văn hóa Việt Nam xuống cấp trầm trọng: Nguyên nhân và giải pháp

·         In
·         Ý kiến (16)
·         Chia sẻ:
Ảnh minh hoạ.
Ảnh minh hoạ.  Trà Mi-VOA
21.02.2016
Tết là dịp diễn ra nhiều lễ hội văn hóa và các sinh hoạt cộng đồng, cũng là lúc trỗi dậy những điệp khúc buồn quen thuộc về sự xuống cấp của văn hóa Việt Nam, với các lễ hội tranh giành hỗn loạn, tình trạng ẩu đả, cướp giựt gia tăng. 
Văn hóa Việt Nam bị cho là đã xuống cấp trầm trọng, nhưng xuống cấp từ khi nào và làm cách nào để thay đổi?
Có người nhận xét rằng dường như cách hành xử cướp đoạt và tư duy chụp giựt đang ăn sâu vào thói quen, tiềm thức của mọi người, bất kể giàu-nghèo, và đang diễn ra trong mọi góc cạnh đời sống người Việt ngày nay, từ bệnh viện, trường học, chùa chiền, đến những nơi vui chơi ăn uống sang trọng.
Đạo đức, văn hóa ứng xử ngày càng tuột dốc tệ hại vì dân trí thấp, vì thiếu giáo dục văn hóa, hay vì môi trường sống xô đẩy?
Mời các bạn cùng Tạp chí Thanh Niên hôm nay tìm hiểu qua cuộc trao đổi với Tiến sĩ Nguyễn Nhã, nhà sử học, nhà sư phạm, và cũng là một nhà nghiên cứu văn hóa-truyền thống Việt Nam, sáng lập viên Qũy Văn hóa Giáo dục Hãn nguyên Nguyễn Nhã.
TS Nhã: Hiện giờ văn hóa đang xuống cấp do nhiều nguyên nhân. Một trong những nguyên nhân quan trọng nhất chính là giáo dục làm người không được tôn trọng, không được quan tâm. Giáo dục bây giờ chỉ lấy bằng thôi.
Trà Mi: Nhiều người cho rằng dân trí thấp và môi trường sống cũng là nguyên nhân của nền văn hóa tuột dốc. Ý kiến của ông thế nào?
TS Nhã: Nếu do dân trí, phải nói nông thôn của mình hồi xưa trước 1945 dân trí đâu có cao, hầu hết là mù chữ. Nhưng người nông dân Việt Nam thời đó rất đàng hoàng. Ví như mẹ tôi dù mù chữ nhưng đã dạy cho tôi rất nhiều điều, khác với bây giờ. Đấy cũng cho thấy văn hóa sống trong gia đình, làng xóm, xã hội đã thay đổi. Sự thay đổi đó cho thấy cái hay mình lại bỏ đi, mất đi rất nhiều trong khi cái dở lại sinh ra nhiều.
Trà Mi: Một sự thay đổi dẫn tới cái hay bị mất đi nhiều và cái dở lại sinh ra nhiều, phải chăng đây là một sự thay đổi tiêu cực?
TS Nhã: Vâng, đúng như vậy. Lối sống mới, giới trẻ vọng ngoại, ít theo và coi thường những cái gì truyền thống. Đó là cái dở nhất. Những người sống trong thời chiến hồi xưa, kể cả ở miền Bắc, dù nghèo khó lắm nhưng tinh thần không như bây giờ. Hiện giờ bị mất phương hướng từ trên xuống dưới, mọi sự bắt đầu từ văn hóa giáo dục.
Trà Mi: Về yếu tố môi trường sống, ông nghĩ sao? Có người cho rằng nâng cao giáo dục văn hóa mà môi trường sống xung quanh không được cải thiện cũng thế thôi. Sống giữa những bon chen, chà đạp, chụp giựt, mình có giáo dục văn hóa tới đâu cũng khó có thể giữ mình. Phải chăng yếu tố môi trường sống cũng có ảnh hưởng rất mạnh đối với văn hóa? 
TS Nhã: Vâng, đa số thiếu giáo dục mà tăng nhiều thì làm ảnh hưởng tới môi trường sống. Đạo đức đang xuống cấp, nhưng tôi tin rồi sẽ có lúc phục dựng hoặc phát triển lại vì đó là quy luật của lịch sử.
Trà Mi: Tiến sĩ nhìn thấy sự phục hưng sớm muộn ra sao?
TS Nhã: Khó có thể nói được tương lai ra sao. Nếu những nhà giáo dục họ bình tĩnh, không bó tay như hiện nay thì mọi chuyện sẽ khác.
Trà Mi: Một nền văn hóa và một xã hội ‘mất phương hướng’ trở nên hỗn độn và thui chột. Lỗi này do đâu?
TS Nhã: Có người nói đây là ‘lỗi của hệ thống.’ Dĩ nhiên, bất cứ thời kỳ nào trong lịch sử Việt Nam thì chính quyền cũng có vai trò quan trọng. Nhưng, theo tôi, mỗi người dân đều có trách nhiệm. Từ già tới trẻ đều có trách nhiệm thì mọi chuyện sẽ khác đi, nhưng bây giờ người ta không quan tâm điều đó.
Trà Mi: Có thắc mắc rằng những thời trước không thấy tệ như vậy, phải chăng thời đại xã hội chủ nghĩa đã tạo ra những đặc điểm như thế cho người Việt ngày nay?
TS Nhã: Không thể nói chủ nghĩa nọ chủ nghĩa kia có trách nhiệm. Nhà cầm quyền phải có trách nhiệm, tất cả các giới phải có trách nhiệm, mà giờ thì cảm thấy người ta không có trách nhiệm. Đó, căn gốc nằm ở ‘hệ thống’. Từ cá nhân cho tới cộng đồng, mọi người đều cảm thấy không phải trách nhiệm của mình.
Trà Mi: Người ta lập luận rằng trong một xã hội mà sự cướp đoạt lên ngôi cộng với sự mất niềm tin vào luật pháp thì mọi người phải tranh giành chụp giựt, đạp lên nhau để tồn tại, nếu không, sẽ bị thua thiệt. Nếu xã hội không tạo ra hoàn cảnh như thế, nếu thời đại không đưa ra những khốn khó như thế thì chắc con người sẽ tốt đẹp hơn, cư xử tử tế hơn?
TS Nhã: Tôi nghĩ vậy. Mỗi thời một khác, nhưng những căn bản để mà giữ thì hiện nay mình đã mất cả, mất căn bản của truyền thống.
Trà Mi: Điều này xuất phát điểm từ đâu, từ bao giờ trong xã hội Việt Nam?
TS Nhã: Thời đổi mới, thời chiến tranh và thời nay hoàn toàn khác. Thời chiến tranh người ta tập trung vào vấn đề đấu tranh, hy sinh. Còn bây giờ người ta lo hưởng thụ thôi mà. Về mặt đạo đức, con người thời chiến tranh và thời nay khác nhau nhiều lắm, cả miền Nam lẫn miền Bắc.
Trà Mi: Giải pháp nào cho thực trạng văn hóa  hiện nay?
TS Nhã: Chính quyền, người có chức có quyền, những người có trách nhiệm phải làm gương trước tiên. Theo tôi, khi mọi việc đến tận cùng thì phải biến chuyển thôi.
Trà Mi: Nhưng liệu có nên chờ mọi việc tự biến chuyển khi đến tận cùng hay không?
TS Nhã: Vấn đề hiện nay là giáo dục. Nếu nhà nước và tất cả các giới quan tâm đến giáo dục thì sẽ khác.
Trà Mi: Những người quản lý đổ lỗi rằng đây là hệ quả của kinh tế thị trường…
TS Nhã: Hiện nay hầu hết các nước đều kinh tế thị trường nhưng họ như thế nào thì mọi người biết rồi.
Trà Mi: Theo ông, giáo dục phải cải thiện, nhưng cụ thể phải cải thiện thế nào? Môi trường sư phạm Việt Nam hiện có giáo dục ý thức công dân từ cấp tiểu học lên tới đại học, theo ông, vì sao không hiệu quả?
TS Nhã: Tôi từng lo giáo dục nhiều thời, tôi biết mà. Hiện nay người ta quan tâm đến điểm số, thành tích thi đua, không thực chất. Bây giờ chỉ cần 2 điều. Một là không được nói dối, bởi vì gian dối thì chất lượng không cao. Bây giờ giáo dục phải làm sao không được nói dối nữa. Thứ hai, phải cư xử với nhau cho tử tế. Chỉ cần thay đổi hai điều đó thôi, mà tôi đã nói với rất nhiều người, ai cũng bảo là khó quá. Bây giờ nếu mình có một hệ thống chính trị rất minh bạch, trung thực thì chất lượng sẽ cao thôi. Lỗi hệ thống!
Trà Mi: Xin chân thành cảm ơn tiến sĩ Nguyễn Nhã đã dành cho Tạp chí Thanh niên VOA cuộc trao đổi hôm nay.








To post to this group, send email to usaelection@googlegroups.com.
Visit this group at https://groups.google.com/group/usaelection.
For more options, visit https://groups.google.com/d/optout.

__._,_.___

Posted by: 8406news <

Popular Posts

Popular Posts