Đại Học chăn Trâu




Sunday, 1 March 2015

HỒ NÀO THÌ CŨNG THẾ THÔI CŨNG PHƯỜNG BÁN NƯỚC, CŨNG NÒI BUÔN DÂN!


From: Nghiem Nguyen <
Date: Fri, 27 Feb 2015 07:18:31 -0800
Subject: HỒ NÀO THÌ CŨNG THẾ THÔI... LÃO MÓC

HỒ NÀO THÌ CŨNG THẾ THÔI
CŨNG PHƯỜNG BÁN NƯỚC, CŨNG NÒI BUÔN DÂN!

LÃO MÓC

Mới đây, tác giả Bùi Anh Trinh có đưa lên một trang báo điện tử bài viết “Hồ Chí Minh (HCM) là người Tàu thì đảng CSVN vô tội?” với câu kết: “Nếu đúng HCM là tên Ba Tàu gian ác thì liệu cái người mạo danh Nguyễn Ái Quốc (Nguyễn Tất Thành) có phải là anh hung cách mạng hay không? Hay cũng hiện nguyên hình là tay lưu manh? Vậy thì cố gắng tách HCM ra khỏi Nguyễn Tất Thành để làm gì?”

 Còn nhớ cách đây khoảng 2 năm, Vũ Thư Hiên (VTH), tác giả hồi ký “Đêm Giữa Ban Ngày” từng gây sôi nổi tại hải ngoại một dạo, đã lên tiếngvề chuyện ông Phạm Quế Dương, “nhà bất đồng chính kiến”  ở  trong nước (chữ dùng của VTH) đã đưa lên “net”: “Đề nghị làm sáng tỏ vụ việc Hồ Chí Minh (HCM) là người Việt Nam hay người Đài Loan?” và chuyện “bình luận gia” Trần Bình Nam (TBN), cố vấn của Tổ chức Phục Hưng, với bài viết “Một nghi án lịch sử Nguyễn Ái Quốc hay Hồ Chí Minh?”  đã ca ngợi quyển sách “Hồ Chí Minh sinh bình khảo” của học giả Đài Loan Hồ Tuấn Hùng lên tiếng tố cáo HCM là Hồ Tập Chương, một người Hẹ.

Theo “nhà phản kháng có lai-sân” VTH (cỡ Đại Tá Quân Đội Nhân Dân Bùi Tín hiện đang ở Pháp, Nguyễn Minh Cần, cựu Phó Bí thư Hà Nội, hiện đang ở Nga) thì, “chuyện HCM là người Tàu tên Hồ Tập Chương của học giả Hồ Tuấn Hùng là một tác phẩm giả tưởng tồi, không đáng để đọc, so với chuyện giả tưởng của văn học Trung Quốc hiện đại như Ma Thổi Đèn, Mật Mã Tây Tạng”.

Trước đây, ai mà dám “xúc phạm” tới “Bác Hồ kính yêu” là “nhà phản đảng có lai-sân” Bùi Tín lập tức “ăn miếng trả miếng” - như trường hợp luật sư Nguyễn Văn Chức gọi HCM là “tên chó đẻ” thì ông “Tạ… đái Quân Hại Nhân Dân” Bùi “Pín” bèn tố cáo là bố vợ của luật sư Nguyễn Văn Chức là phu kéo xe của bố ông ta là Thượng Thư Bùi Bằng Đoàn, người đã xấc xược hỏi nhà ái quốc Phan Bội Châu: “Mày là ai?”, khi ông ta làm thông dịch viên trong một phiên toà  mà bọn thực dân Pháp xử cụ Phan. Chuyện lạ là trong vụ Hồ Chí Minh là Hồ Tập Chương thì ông Bùi… Tạ Đái lại lên tiếng ủng hộ “nhà biên khảo” Hồ Tuấn Hùng, người tự xưng là cháu Hồ Tập Chương, tức Hồ Chí Minh (theo sách biên khảo của ông này). 

Vì vốn là người Việt Quốc Gia tỵ nạn  cộng sản và đã bị bọn cộng sản dở dói nhiều lần nên Lão Móc cũng như những người Việt Quốc Gia tỵ nạn khác chẳng bao giờ tin bọn VC, ngay cả “những kẻ “phản kháng thật, phản kháng giả” như các ông Bùi Tín, Vũ Thư Hiên, Nguyễn Minh Cần… và “các nhà bất đồng chính kiến” như Phạm Quế Dương, Hà Sĩ Phu, Nguyễn Thanh Giang, v.v…  Nhất là lại càng không tin “những nhà tranh đấu dân chủ” cỡ như ông Nguyễn Chính Kết, người vượt biên đường bộ qua Campuchia, mua vé máy bay qua Hoa Kỳ, tự xưng đại diện Khối 8406 tại hải ngoại, được tên Việt gian Hoàng Duy Hùng và đảng viên Việt Tân Nguyễn Quang Duy lên tiếng bênh vực khi có người lên tiếng tố cáo về những việc làm không minh bạch của ông này.

Do bị VC nhiều phen dở dói nên tôi không bao giờ tin những tên “ăn cơm Quốc Gia thờ ma Việt Cộng” như Lê Hiếu Đằng, Hồ Ngọc Nhuận lại có thể làm chuyện “lập Đảng mới để phá xiềng” mà bọn này chỉ làm chuyện lập đảng để dụ những người nhẹ dạ vào xiếc để cho chủ của chúng nó là bọn VC bắt giam. Như trước đây, các đảng Nhân Dân  Hành Động, đảng Việt Tân đã gài bẫy để công an VC bắt giam tù những Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long, Nguyễn Tiến Trung… Đến nay, rõ ràng chuyện “Lập đảng mới để phá xiềng” rõ ràng là một màn giễu dở, chưa hát mà đã vãn tuồng. Do đó, theo Lão Móc, chuyện “ông phản kháng có lai-sân” VTH lên tiếng về chuyện “Hồ thật, Hồ giả” thì cũng chỉ là chuyện gây tranh cãi vô bổ để những người tranh đấu ở hải ngoại mất thì giờ tranh cãi vô ích về những chuyện không đâu.

Điều quan trọng mà ai cũng phải công nhận là Hồ Chí Minh là một tội đồ của dân tộc Việt Nam! Chính ông ta, chứ không phải ai khác, đã vâng lệnh Cộng sản Quốc tế du nhập cái chủ nghĩa cộng sản vào đất nuớc  VN, đã gây ra những cái chết oan khuất trong Cải cách Ruộng Đất, trong Vụ án Nhân Văn Giai Phẩm ở miền Bắc. Và sau đó là sát hại hàng trăm ngàn Quân, Dân, Cán, Chính trong cái gọi là Tập Trung Cải Tạo, Vùng Kinh Tế Mới, đánh tư sản mại bản, giết hại hàng trăm ngàn người trong Chiến dịch Bán bãi vượt biên v.v… Và kết quả là hiện nay VN là một trong những nước nghèo đói trên thế giới!

Vạch rõ huyền thoại Hồ Chí Minh (HCM), tố cáo những tội ác của HCM và đảng CSVN là việc làm thiên kinh, địa nghĩa của tất cả mọi người dân VN. Dĩ nhiên việc tố cáo HCM là kẻ “dối thiên, dối địa, dối từ Sịa dối tới Đông Hà, dối qua Bến Hải, dối ra hải ngoại” sẽ bị CSVN và những đảng đàn em của chúng nó tại hải ngoại tìm mọi cách đánh phá bằng nhiều thủ đoạn bẩn thỉu.

Những ai viết bài vạch rõ bộ mặt dâm dục, đểu cán của “Bác Hồ của chúng nó” thì bị chúng nó gán ghép là bọn “chống Cộng quá khích, chống Cộng cực đoan, hành nghề chống Cộng v.v…”

Thủ đoạn này cũng được một đảng phái nhiều tai tiếng tại hải ngoại áp dụng khi bị dư luận phê phán những việc làm gây chia rẽ cộng đồng, làm lợi cho VC thì đảng này sẽ cho những đảng viên của họ núp dưới dạng “âm binh” và “bọn ma tru” này  phóng lên diễn đàn điện tử những lời mạ lỵ, vu cáo cho qua lề để “kềm chế tác hại”. Lúc đầu, có kết quả; nhưng lâu dần, dư luận đều thấy rõ đây chỉ là việc làm “lấy vải thưa che mắt thánh”.

Từ khi internet phát triển mạnh với những trang báo điện tử, các blogs thì VC cũng đã tăng cuờng hệ thống Công An Mạng (viết tắt CAM) vào các diễn đàn góp ý để “kềm chế tác hại” do những bài viết chống Cộng của người Việt hải ngoại gây ra.

Trong bài “Những Phạm Xuân Ẩn trên mạng” và một số bài viết khác, chúng tôi đã vạch rõ mặt thật một số CAM cũng như bọn viết thuê, chửi mướn của VC như nick Kami Ajinomoto, như Nguyễn Giang của đài BBC (theo dư luận, Nguyễn Giang do VTH giới thiệu vào đài BBC phụ trách phần Việt ngữ).

Nếu bọn CAM và bọn tay sai phải dùng mưu ma, chước quỷ để “kềm chế tác hại” cho chủ của bọn chúng nó; thì người Việt Quốc Gia tỵ nạn Cộng sản cũng đã tỏ ra rất cao cường khi nói lên chính nghĩa của người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản.

Nói về chuyện vạch mặt “tên tội đồ dân  tộc” HCM và đảng CSVN, nick “Dân Việt cùng khổ” đã góp ý như sau:
“Không có thời nào mà người dân chửi nhà cầm quyền một cách ‘tàn canh gió lộng’ như thời đại HCM. Đúng như vậy! Đi đâu cũng nghe chửi, chửi công khai, chửi lén lút, chửi lớn tiếng, chửi thầm thì, chửi văn chương, chửi thô tục. Nói chung, không có CON VẬT nào mà bị CON NGƯỜI chửi mắng thậm tệ tới như vậy”.

Người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản lại công khai nói rõ “Vì sao tôi chửi CSVN” trên  diễn đàn Yahoo, như sau:
“… Ngày nào chế độ CS còn đàn áp người dân, còn băng đảng củng cố quyền lực, tôi còn chửi, bạn nên chửi, bởi vì đó là vũ khí duy nhất mà tôi có, mà tôi muốn dùng…

Các bạn có thể hỏi nếu chửi CS không thôi thì sẽ được gì, ngứa ngáy gì chúng hay chăng? Tôi tin sẽ có hiệu quả khi nào mình chửi đúng và chửi có sách, mách có chứng. Chứng cớ thối tha của chế độ CS hiện nay không khó tìm ra để chửi. Nếu vạch ra được cái tồi tệ, gian ác của kẻ cầm quyền, với phương tiện truyền thông hiện nay; người dân sẽ thấy, sẽ biết và tất nhiên sẽ ảnh hưởng đến vị thế cầm quyền.

Tóm lại, khi chế độ còn đáng nguyền rủa, nếu tôi không chửi, mà còn lên tiếng bênh vực, bao che thì vô hình chung tôi chửi lại chính tôi. Cuối cùng, tôi không mong gì hơn có một ngày trên xứ người tôi vui mừng, hãnh diện chào đón các vị nguyên thủ, viên chức của nước tôi mà lòng không hổ thẹn. Còn bây giờ thì chưa, còn chửi tiếp.”

Chuyện trước mắt ai cũng thấy rõ là phải tiếp tục chửi “Bác Hồ chó đẻ” và cái “đảng CSVN chó chết” của “Bác”; chứ cần quái gì chuyện “Bác Hồ của mấy ông Vũ Thư Hiên, Bùi Tín, Trần Bình Nam” là Hồ Tập Chương hay Nguyễn Sinh Cung.

“Hồ giả, Hồ thật cũng thế thôi
Cũng thằng đại ác hại dân tôi
Đang nằm xú uế trong nhà xác
Vết nhục ngàn năm khó rửa bôi.
*
Hồ trẻ, Hồ già cũng thế thôi
Cũng đều dâm đảng nhất trên đời
Cháu ngoan, cháu dại đều chơi tuốt
Con rớt, con rơi bốn góc trời.
*
Hồ Nghệ, Hồ Hẹ cũng thế thôi
Cũng là gốc gác ở xa xôi
Đến từ Tàu Chệt hay Xô Viết
Qua đây cướp nước dẫn bầy voi.
*
Hồ Chí, Hồ Chương cũng thế thôi
Đều là đầu sỏ đảng bôi vôi
Là thần hộ mạng bầy lang sói
Hay bùa hãm hại dân nước tôi.
*
Hồ Việt, Hồ Tàu cũng thế thôi
Phen này ta dứt điểm cho rồi
Cái thây thúi hoắc quăng vào cống
Cái đảng bạo tàn diệt sạch thôi.”
(thơ Phan Huy)
*
Quả thật là như thế:
“Hồ nào thì cũng thế thôi
Cũng phường bán nước, cũng nòi buôn dân!”
LÃO MÓC


 



,___

__._,_.___

Posted by: =?UTF-8?B?TkdVWeG7hE4gVsOCTiBUw5lORw

NHỮNG BÀI LUẬN VĂN HAY KHỦNG KHIẾP THỜI XHCN !



From: keith.nguyen
Subject: Nguyễn Sinh Hùng . . . / Tâm lý mặc cảm . . . / VN trong mắt Lý Quang Diệu /

 NHỮNG BÀI LUẬN VĂN HAY KHỦNG KHIẾP THỜI XHCN !
Date: Fri, 27 Feb 2015 15:11:46 +0000

Nguyễn Sinh Hùng và quyền... súc vật!
https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhZ12Kvn_VEiqyQjqMalrXtFtVB9gqdzKzY9J_3c5ffMvrm1WBPr-pVTy92cwrbpaZZNTiJuXE4v2-A4HlbPcTjCjr5xzs_QdqJaG5IH5mQX4WkYMDPKDq18pYIfozHf-sR648559YHcNk/s1600/tmp-danlambao.jpg
CTV Danlambao - Trong phiên họp chiều 25/2 của Ủy ban Thường vụ Đảng hội có đưa ra quy định tại dự thảo Luật Trưng cầu dân ý. Dự thảo đã đề ra phương án: những vấn đề cần trưng cầu ý dân gồm: sửa đổi, bổ sung Hiến pháp; những chính sách về chủ quyền, an ninh quốc gia, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; việc gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế... Tuy nhiên, Chủ tịch đảng hội Nguyễn Sinh Hùng đã phản biện rằng: “Quyền con người và quyền công dân không thể đưa ra trưng cầu ý dân được”!!!

Theo ông chủ tịch đảng hội này thì "quyền con người, quyền công dân thì có quyền đương nhiên và quyền do luật định. Quyền đương nhiên thì mọi người phải thi hành ngay từ khi Hiến pháp có hiệu lực, còn cái gì hạn chế quyền con người và quyền công dân thì phải do luật định chứ có phải do trưng cầu ý dân đâu". (1)
Thử mổ xẻ câu nói này của ông ta:
Khi nói "quyền con người, quyền công dân là đương nhiên" thì người ta xem đó là một quyền tự nhiên có được từ khi một người mới sinh ra. Dưới ánh sáng văn minh và các quan điểm về nhân quyền thì đó là quyền phổ quát, không bị giới hạn và bất khả xâm phạm.
Tuy nhiên, trước hết ông Hùng gắn quyền của 90 triệu người vào Hiến pháp do đảng của ông tự viết, tự phê chuẩn, tự thi hành và tự vi phạm. Do đó, quyền con người và quyền công dân không còn là quyền đương nhiên mà trước hết là quyền do Hiến pháp cộng sản quy định.
Nhưng chưa đủ! Sau đó, cái đương nhiên còn sót lại sau khi được Hiến pháp của đảng độc tài quy định cũng xem như là bỏ vào sọt rác luôn với câu thòng: còn cái gì hạn chế quyền con người và quyền công dân thì phải do luật định chứ có phải do trưng cầu ý dân đâu. Do đó, quyền con người và quyền công dân không còn là quyền đương nhiên mà là quyền do đảng cộng sản ban bố theo luật do họ đặt ra.
Tóm lại, tập thể 90 triệu người dân không có "quyền" gì cả. Ngay cả chuyện có quyền trong việc cùng nhau xác định quyền con người và quyền công dân của mình bao gồm những gì, phạm vi rộng hẹp ra sao, có hay không có những giới hạn cũng không luôn. Ngược lại cái quyền (không còn) đương nhiên ấy nằm trong tay của những tên làm luật - là những đảng viên đang nhất quyết nắm quyền cai trị muôn năm với điều 4 Hiến pháp.
Chẳng có tập đoàn muốn độc quyền cai trị muôn năm nào lại muốn giao, muốn trưng cầu dân ý về quyền công dân cả. Do đó, dưới chế độ độc tài cộng sản, khi quyền con người hoàn toàn nằm trong luật định của đảng thì phải nói rằng quyền con người chỉ ngang hay thấp hơn quyền chó ngựa.
Với cái quyền chó ngựa ấy thì đương nhiên không có chuyện cá nhân người dân nào có quyền đề nghị trưng cầu dân ý. Theo phương án của đảng hội thì chỉ có Ủy ban Thường vụ, Chủ tịch nước, Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu đảng hội mới có quyền đề nghị trưng cầu dân ý. Kế đến là cánh tay nối dài của đảng: Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Phùng Quốc Hiển, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính - Ngân sách còn muốn cho chắc ăn, hiểu cho rõ đã tuyên bố: "Dứt khoát phải là và chỉ có tập thể đề nghị chứ không thể là cá nhân đề nghị trưng cầu ý dân".
Và nên nhớ rằng cái gọi là tập thể đây là những tập thể của đảng hay cách tay nối dài của đảng. Không có chuyện một tập thể mấy ngàn công dân độc lập lại có tư cách đề nghị trưng cầu dân ý cho quyền con người!
Chỉ cần quan sát những thảo luận, tuyên bố của các quan đỏ, người dân biết ngay số phận của mình: Ở Việt Nam chỉ có một quyền đương nhiên, đó là quyền súc vật.


(1) vneconomy.vn/thoi-su/chu-the-nao-co-quyen-de-nghi-trung-cau-y-dan-20150225091546913.htm

__________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________

Tâm lý mặc cảm về nguồn gốc xuất thân và sự thiếu hụt nhân tài lãnh đạo đất nước trong thời bình của người Việt
https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjeeRFCxNjj98NabUSAG4uOUI1qdTUQFH9FutQ8IG8vYYipSfnL5qLxNWGjdJTkOlg5ePgaklQkt2WRbngb7KSwIR-aV5665OuiSoe_V8mmC1llij1lbsNxKyjrMIYtKSyddFBoueRrxk4/s1600/16vang4tot099-danlambao2.jpg
Nguyễn Trọng Bình (Viet-studies . . . Việt Nam từ khi đất nước hòa bình thống nhất đến nay ít có hoặc không có nhân tài thật sự ngoài đời mà chỉ có nhân tài tồn tại trong trí tưởng tượng của những người dân vì quá yêu, quá hâm mộ, quá “thần tượng” đồng đội, đồng chí trong tổ chức, cơ quan, làng xã của mình thôi? Cho nên, mỗi khi “thần tượng” của mình qua đời thì vì “nghĩa tử là nghĩa tận” nên mạnh ai nấy thần thánh hóa “thần tượng” lên như những anh hùng xuất chúng của dân tộc? Phải chăng vì vậy mà đi suốt chiều dài nước Việt đến đâu người ta cũng thấy tượng đồng bia đá, nhà mồ, nhà tưởng niệm, đền đài, lăng tẩm rất nguy nga tráng lệ dành cho những “nhân tài kiệt xuất” ấy?...

1. Vài năm trở lại đây, cứ như một thông lệ trong mỗi dịp xuân về, không ít thì nhiều dân chúng cả nước lại được nghe những người đã hoặc đang giữ cương vị lãnh đạo nước nhà bàn về hai đề tài cũ mèm. Một là chuyện hòa hợp, hòa giải dân tộc, hai là chính sách tìm kiếm và đãi ngộ nhân tài nhằm xây dựng và phát triển đất nước trong thời bình. Thật lòng, không hiểu sao mỗi khi nghe các vị “đức cao vọng trọng” nước nhà phát biểu về hai vấn đề cũ mèm này bản thân tôi vừa “dị ứng” vừa thấy lòng buồn vô hạn. Vì lẽ, nghe các vị phát biểu tôi buộc phải nghĩ đến vận mệnh và tương lai của nước nhà sao cứ mãi quẩn quanh, năm này qua tháng nọ đi trên con đường không có lối ra.
Thử hỏi đất nước đã thống nhất, giang sơn đã thu về một mối kể ra có hơn nửa đời người rồi vậy mà năm này qua tháng nọ hai chuyện trên vẫn - cứ - phải - mang ra nhắc đi nhắc lại là sao? Điều này, theo tôi ít nhiều cũng đã nói lên một sự thật: nội lực quốc gia hiện nay vẫn đang bị phân tán rất nhiều và không biết đến khi nào mới thật sự hòa hợp, thống nhất. Thứ nữa, thiển nghĩ những người đã và đang nắm quyền cai quản nước nhà có thực sự muốn hòa hợp dân tộc và tìm kiếm nhân tài thật sự để xây dựng đất nước phồn thịnh hay không? Bởi nếu muốn thì theo tôi đây là chỗ không nên nói nhiều và nói trùng lắp mãi mà phải nhanh chóng bắt tay vào làm ngay thôi. Vì đất nước, quốc gia đến nay theo tôi, cái “nguyên khí” đã và đang vơi đi nhiều lắm rồi; nguồn tài nguyên “rừng vàng biển bạc” mà tạo hóa ban tặng cũng đang dần bị thu hẹp và việc khai thác gần như muốn cạn kiệt rồi... Vậy nên, thời điểm này mà vẫn ngồi “run đùi” bàn chuyện hòa hợp dân tộc và tìm kiếm nhân tài thì có phải là quá muộn màng và kỳ cục lắm không? Có thể có ai đó cho rằng mới nửa đời người mà làm được bao nhiêu chuyện là giỏi lắm rồi nhưng thử hỏi nửa đời của hơn 90 triệu dân cộng lại thì sao, có chua xót và cay đắng không?
Thôi thì ở đây, vấn đề hòa hợp dân tộc xin tạm thời gác lại, sẽ bàn vào một dịp khác. Bài viết này chỉ xin góp vài ý kiến xung quanh chuyện tìm kiếm nhân tài.

2. Có một thực tế mà ai cũng thấy ở nước ta thời gian qua là, mỗi khi có một người “nổi tiếng” (nhất là những người từng giữ cương vị lãnh đạo cấp cao trong bộ máy chính quyền) nào đó mất đi thì qua các phương tiện truyền thông công chúng sẽ biết được trong các bài điếu văn, trong các sổ tang gia đình tràn ngập những lời ca tụng, biểu dương công đức người vừa nằm xuống như những “nhân tài kiệt xuất” của đất nước. Nào là “vĩnh biệt đồng chí kiên trung”, “vĩnh biệt người con ưu tú của...”, “vĩnh biệt nhà lãnh đạo tài ba”; nào là “đồng chí là tấm gương sáng ngời, suốt đời tận tụy vì dân, vì nước...” v.v...
Vẫn biết “nghĩa tử là nghĩa tận”, vẫn biết “uống nước nhớ nguồn” là đạo lý và truyền thống cao quý của dân tộc cần phải gìn giữ, với lại, cũng không ai có quyền ngăn cấm việc thể hiện tình cảm yêu thương, sự mến mộ của ai đó đối với người đã khuất. Tuy vậy, ở một góc nhìn khác, tôi tin là bất cứ một người Việt Nam nào thật lòng quan tâm, trăn trở với hiện tình đất nước cũng ít nhất một lần tự đặt câu hỏi tại sao Việt Nam có rất nhiều “nhân tài kiệt xuất” như vậy nhưng đến nay nước nhà vẫn lẹt đẹt và không thể hóa rồng? Lẽ ra, với truyền thống dài dặc nhân tài như vậy thì Việt Nam phải bay cao, bay xa từ lâu rồi chứ không thể ì ạch mãi thế này?
Chưa hết, như mọi người đã biết, Đảng là tổ chức nắm quyền lãnh, chỉ đạo trong mọi đường hướng phát triển đất nước và dân tộc suốt mấy mươi năm qua. Và lâu nay việc kết nạp người vào hàng ngũ của Đảng đều phải tuân theo một quy trình rất chặt chẽ và ngặt nghèo, chỉ có những người thật sự có Đức, có Tài và lý lịch “ba đời trong sáng như gương” thì mới được xét cho vào. Theo cái logic thông thường mà suy thì những người đã và đang nắm quyền lãnh đạo trong bộ máy nhà nước và chính quyền hẳn nhiên phải là những cá nhân ưu tú và xuất sắc nhất (theo nghĩa những nhân tài của đất nước). Thế thì tại sao mấy mươi năm qua những “nhân tài” này vẫn không thể đưa đất nước “sánh vai cùng các cường quốc năm châu” như mong mỏi của chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời?
Từ hai nghịch lý trên, người viết bài này “trộm” nghĩ hay là Việt Nam từ khi đất nước hòa bình thống nhất đến nay ít có hoặc không có nhân tài thật sự ngoài đời mà chỉ có nhân tài tồn tại trong trí tưởng tượng của những người dân vì quá yêu, quá hâm mộ, quá “thần tượng” đồng đội, đồng chí trong tổ chức, cơ quan, làng xã của mình thôi? Cho nên, mỗi khi “thần tượng” của mình qua đời thì vì “nghĩa tử là nghĩa tận” nên mạnh ai nấy thần thánh hóa “thần tượng” lên như những anh hùng xuất chúng của dân tộc? Phải chăng vì vậy mà đi suốt chiều dài nước Việt đến đâu người ta cũng thấy tượng đồng bia đá, nhà mồ, nhà tưởng niệm, đền đài, lăng tẩm rất nguy nga tráng lệ dành cho những “nhân tài kiệt xuất” ấy?
Công bằng mà nói, nếu căn cứ vào sự đánh giá của nhân dân dành cho những lãnh đạo sau khi họ mất đi thì gần đây nổi bật lên là hai nhân vật có thể xem là nhân tài của đất nước trong thời bình. Một là cố thủ tướng Võ Văn Kiệt và hai là ông Nguyễn Bá Thanh - nguyên Bí thư Đà Nẵng và Trưởng ban Nội chính Trung ương. Tuy vậy, nếu so sánh hai nhân vật này với Lý Quang Diệu và Lý Hiển Long ở Singapore thì theo tôi hai người tài của Việt Nam vẫn chưa đủ “tầm phủ sóng” để có thể hiệu triệu toàn dân, từ đó tạo ra động lực thật sự để xoay chuyển vận mệnh của đất nước. Dĩ nhiên, so sánh như thế là khập khiểng, tuy nhiên, qua so sánh này tôi muốn lưu ý rằng, trong nhiều trường hợp người Việt cần phải hết sức cẩn trọng trong việc phong “nhân tài” cho các lãnh đạo trong nước. Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, nếu chúng ta vẫn cứ “đóng cửa” và tự phong “nhân tài” cho nhau thì có khác gì đang một mình... “tự sướng” trong đêm đen?
Nói cách khác, qua đây cho thấy thời gian qua người Việt dường như đang có sự nhầm lẫn trong quan niệm và quá dễ dãi khi phong danh hiệu “nhân tài” cho một lãnh đạo hay một cá nhân nào đó.
Tuy chưa có một công trình nghiên cứu nào nhằm so sánh mật độ nhân tài giữa các nước trên thế giới nhưng tôi tin rằng nếu có một công trình như thế thì Việt Nam chí ít cũng sẽ có thêm một kỷ lục thế giới về mật độ “nhân tài” trong dân chúng. Bởi không biết tự lúc nào hễ nghe tin một anh nào đó được bổ nhiệm vào một vị trí lãnh đạo cao hơn trong bộ máy nhà nước; hay anh nào đó vừa “lấy xong cái Tiến sĩ”, vừa mới được phong GS hay PGS... thì cả làng, cả xóm, cả tỉnh, cả nước gọi đó là “nhân tài” và “phong Thánh” mà chẳng thèm xem xét anh ta đã có đóng góp gì thiết thực cho dân cho nước hay chưa; chẳng thèm tìm hiểu việc thăng quan tiến chức của anh ta có minh bạch, có đường hoàng hay vì phe phái và lợi ích nhóm nên được nâng đỡ và tâng bốc lên?
Chính sự nhầm lẫn và dễ dãi này, theo tôi đã dẫn đến một hệ lụy là lâu dần cả một dân tộc quay cuồng trong căn bệnh háo danh, khoe mẽ và nhất là “thùng rỗng kêu to” lúc nào không hay. Từ đó làm cho việc phát hiện và bồi dưỡng nhân tài nhất là nhân tài trong hàng ngũ lãnh đạo và quản lý đất nước rơi vào cảnh “vàng thau lẫn lộn”, người thực tài và có tâm với đất nước thì bị vứt ra bên lề xã hội và ngược lại.
Không những vậy, nhìn ở góc độ văn hóa, sự nhầm lẫn và dễ dãi trong quan niệm về “nhân tài” của người dân thời gian qua cũng ít nhiều nói lên cái tâm lý mặc cảm về nguồn gốc xuất thân và sự thiếu hụt nhân tài thật sự của cả dân tộc. Người ta đua nhau để được lên quan, để được gọi là GS, TS, để trở thành người nổi tiếng, để rạng danh dòng tộc bằng con đường bất lương và thiếu minh bạch là một trong những biểu hiện rõ nhất cho cái tâm lý mặc cảm này. Điều này vô tình đã tạo ra cái hệ lụy rất nguy hiểm là có không ít người thay vì dũng cảm nhìn vào sự thật về hiện tình của đất nước trong thời điểm hiện tại để mà thay đổi thì lại bấu víu vào những ánh hào quang xưa cũ của các vị tiền nhân, xem đó như là cứu cánh, là phép mầu rồi biện hộ, lấp liếm cho những sai lầm trong quá trình lãnh đạo của mình.

3. Đất nước muốn ổn định và phát triển thì nhất định phải có sự hòa hợp của cả dân tộc. Nhưng muốn có sự hòa hợp của cả dân tộc thì xã hội cần có một hành lang, một không khí “đối thoại” chân thành và dân chủ giữa lãnh đạo, chính quyền với mọi tầng lớp nhân dân hay giữa các tầng lớp nhân dân với nhau. Nói cách khác, nếu không có không khí “đối thoại” chân thành và dân chủ này (mà chỉ là sự “độc thoại”, muốn nói gì thì nói từ một phía nào đó) thì mọi chính sách dù đúng đắn đến mấy cũng rất khó đi vào đời sống, rất khó trở thành hiện thực.
Bởi lẽ, trong cuộc sống những suy nghĩ và lời nói chân thành là rất cần thiết nhưng vẫn chưa đủ vì nó không quan trọng bằng những hành động và việc làm cụ thể nhằm hiện thực hóa suy nghĩ và lời nói ấy. Cho nên, nói cho cùng một đất nước muốn phát triển và thịnh vượng thì những lời nói cùng những việc làm chân thành từ phía người lãnh đạo là một trong những nhân tố quan trọng nhất. Có được điều này rồi thì chắc chắn nhân tài của đất nước sẽ xuất hiện và tự nguyện chung tay góp sức xây dựng quê hương thôi. Khi ấy, “nguyên khí quốc gia” chắc chắn cũng sẽ theo đó mà sung mãn, tràn trề mà không cần đến những phong trào “trải thảm đỏ” để thu hút, tìm kiếm nhân tài mang nặng tính hình thức như hiện nay.

Cần Thơ, 26/2/2015

Nguồn tham khảo:
1. Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan nói về giải pháp để thu hút nhân tài.
vov.vn/chinh-tri/nguyen-pho-thu-tuong-vu-khoan-noi-ve-giai-phap-de-thu-hut-nhan-tai-383588.vov
___________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________

Việt Nam trong mắt Lý Quang Diệu
(Tác giả: Cao Huy Huân)

Trong lúc chúng ta "gà cùng một mẹ" đá nhau chết bỏ thì những quốc gia có trí tuệ và tầm nhìn tốt hơn đã sử dụng chúng ta như bàn đạp để phát triển và vươn lên.
Trong thế kỷ 21, có những điều mà trong thế kỷ trước không ai nghĩ rằng sẽ có nhiều thay đổi đến vậy. Giờ phút này, một công dân trẻ như tôi ngồi đây, viết những dòng chữ này thì đất nước Việt Nam, nơi tôi đang sống, làm tôi thất vọng về trình độ phát triển. Sáng nay tôi được đọc một bản nói rằng năng suất lao động của người Việt chỉ bằng 1/5 của người Malaysia, 2/5 của người Thái Lan và tệ hơn, chỉ bằng 1/15 của người Singapore.
Singapore, một đất nước nhỏ bé về diện tích, đang ám ảnh những công dân Việt Nam ở thế kỷ 21 này. Những khu dân cư, những trung tâm thương mại, những thành phố mới được xây dựng… tất cả đều được “ăn theo” mô hình và kỹ thuật của Singapore. Nhưng tại sao lại là Singapore? Chẳng phải những mô hình, những kỹ thuật đó Singapore cũng đã học tập từ những quốc gia phương Tây tiên tiến hay sao? Tại sao từ một làng chài kém phát triển trên bán đảo Malay, Singapore đã phát triển thành một quốc gia đứng thứ 2 ở châu Á về mức sống? Câu trả lời có thể dẫn đến nhiều nguyên nhân, nhưng căn nguyên nhất vẫn là yếu tố con người.
Lý Quang Diệu, nhân vật đã thay đổi và biến làng chài nhỏ bị dịch bệnh triền miên trở thành đất nước có nền kinh tế phát triển hàng đầu của châu Á. Singapore là nơi mà những kiến trúc hiện đại cùng chung sống với thiên nhiên chan hòa, nơi cả thế giới ngưỡng mộ về chuẩn mực môi trường xanh sạch, nơi có làn sóng di dân ngược từ châu Âu sang châu Á. Nhưng trong những ngày đầu lập nước vào thập niên 60 thế kỉ trước, Lý Quang Diệu, thủ tướng đầu tiên của Singapore, đã từng nói “hy vọng là một lúc nào đó Singapore sẽ phát triển giống như Sài Gòn”. Thật đáng kinh ngạc khi có một thời chính nhà lãnh đạo của Singapore đã mơ tưởng và bị ám ảnh về sự phát triển của Sài Gòn.
Còn bây giờ thì sao? Sau hơn 30 năm, chính người Việt Nam đang thèm thuồng được như Singapore ngày nay. Sau khi Mỹ rút khỏi miền nam Việt Nam, chính Lý Quang Diệu, người từng có tuổi thơ sinh sống tại Biên Hòa, đã nắm ngay lấy cơ hội đó để biến thời cuộc thành lợi ích cho Singapore. Sau năm 1975, tất nhiên Mỹ và phương Tây đóng cửa với Việt Nam, mọi giao thương với châu Á đều dành cho đồng minh của họ. Singapore được Lý Quang Diệu phát triển thành cảng trung chuyển đường biển lớn nhất tại khu vực. Và đúng theo quy luật về thương mại - kinh tế, Singapore được thừa hưởng những đặc quyền của một cảng biển lớn, một cửa ngõ hướng vào Đông Nam Á và cả châu Á.
Lý Quang Diệu cho rằng, cuộc chiến tranh giữa Việt Nam và Mỹ là tiền đề quan trọng cho sự phát triển của những nước phi Cộng sản ở châu Á. Rõ ràng là trước khi tuyên bố như thế, Lý Quang Diệu đã nhanh chóng nắm lấy cái “tiền đề quan trọng” đó để biến Singapore từ một quốc gia non trẻ kém phát triển thành một đất nước giàu có. Lý Quang Diệu nhận định rằng, sau khi Mỹ rút khỏi miền nam Việt Nam, lập tức những đồng minh của Mỹ ở châu Á tranh thủ thời cơ để trở thành 4 con rồng châu Á, và sau này có thêm sự xuất hiện của 4 con hổ Đông Nam Á. Bốn con rồng được nói đến là Singapore, Nam Triều Tiên, Hong Kong và Đài Loan. Bốn con hổ là Malaysia, Thái Lan, Philippines và Indonesia. Vậy Việt Nam đã biến đi đâu trong bản đồ khu vực? Và lý do gì Việt Nam lại tụt hậu một cách nhanh chóng như vậy?
Lý Quang Diệu từng nói rằng lẽ ra vị trí số một ở châu Á phải là của Việt Nam. Theo ông, vị trí địa lý chiến lược, tài nguyên thiên nhiên phong phú là hai yếu tố hàng đầu có thể đưa Việt Nam trở thành người khổng lồ ở châu Á. Ông cho rằng, đất nước Singapore nhỏ bé với diện tích và dân số chỉ xấp xỉ Sài Gòn, hoàn toàn không có tài nguyên thiên nhiên, chỉ có một ít đất để xây dựng và ngay cả nước sinh hoạt cũng phải nhập từ nước bạn Malaysia, nhưng Singapore đã phát triển trở thành đất nước có GDP cao thứ hai ở châu Á chỉ sau Nhật Bản. Lại nói đến Nhật Bản, Lý Quang Diệu cũng chỉ ra những bất lợi của quốc gia này, đó là một quốc gia bại trận sau Chiến tranh thế giới thứ hai, không giàu tài nguyên, quanh năm động đất và sóng thần, nhưng chỉ vài năm sau khi chiến tranh kết thúc, Nhật Bản là người khổng lồ châu Á. Lý Quang Diệu cho rằng, sự thành công của một quốc gia bao gồm ba yếu tố: điều kiện tự nhiên (vị trí chiến lược và tài nguyên thiên nhiên), con người và thời cơ. Trong đó, để có yếu tố thời cơ, thì yếu tố con người phải vững và nhanh nhạy. Lý Quang Diệu đánh giá rất cao điều kiện tự nhiên của Việt Nam, nhưng ông không đánh giá cao yếu tố con người trong sự phát triển chậm chạp này. Tôi hay đọc các bài viết trong nước ca ngợi sự thông minh, tính cần cù, chịu khó của người Việt. Xin lỗi, tôi không thấy được sự thông minh và cần cù đó. Xin nhắc lại, năng suất làm việc của người Việt Nam chỉ bằng 1/15 của người Singapore, tức là một người Singapore làm việc bằng 15 người Việt Nam. Dân số Singapore là 5 triệu dân, dân số Việt Nam là hơn 90 triệu dân. Vậy tức là năng suất làm việc của 5 triệu dân Singapore chỉ mới bằng 25 triệu dân Việt Nam , thế nhưng GDP của Singapore là gần 300 tỷ USD, trong khi GDP của Việt Nam là khoảng 170 tỷ USD. Đó chỉ là một so sánh chung chung, chưa tính đến dân số ở độ tuổi lao động của hai quốc gia. Một khi yếu tố con người đã yếu kém như thế thì yếu tố cơ hội cũng sẽ chẳng có nhiều.
Lý Quang Diệu tiếc vì Việt Nam không biết trọng dụng người tài, ông nói rằng người tài ở Việt Nam đã định cư ở nước ngoài hết rồi. Tôi đồng tình với quan điểm này của Lý Quang Diệu. Tôi thường nghe nói về cậu bé thần đồng Đỗ Nhật Nam và cũng thường xem các video thi hùng biện tiếng Anh của em. Báo chí và truyền thông Việt Nam cũng hay đề cập đến em, nhưng tuyệt nhiên không thấy có một động thái nào của chính phủ Việt Nam dành cho Đỗ Nhật Nam. Phải chăng đối với chính phủ Việt Nam, cậu bé ấy không phải là nhân tài cần đầu tư và phát triển? Chưa kể là trong một lần phát biểu về truyện tranh, cậu bé ấy đã bị những người lớn Việt Nam công kích, chỉ vì em không thích đọc truyện tranh mà chỉ thích đọc sách khoa học. Thật trớ trêu. Đỗ Nhật Nam chỉ là một trường hợp thần đồng được báo chí ưu ái, nhưng cũng bị chính phủ thờ ơ. Vậy còn những thần đồng thầm lặng khác ở cái đất nước hơn 90 triệu dân này thì sẽ nhận được hỗ trợ gì từ chính phủ? Trong mọi sự phát triển, yếu tố con người luôn tối quan trọng. Thật đáng tiếc.
Nói thế nào đi chăng nữa, Lý Quang Diệu cũng chỉ là người ngoài, không phải người Việt Nam. Thế nhưng những nhận định khách quan của ông cũng đáng để suy ngẫm về sự phát triển của một quốc gia nhiều thuận lợi như Việt Nam. Tôi thường thấy Việt Nam rất tự hào về lực lượng lao động trẻ với giá nhân công rẻ của minh. Tôi cảm thấy đó là một điều đáng xấu hổ. Giá nhân công rẻ chẳng qua là do trình độ, tay nghề kém nên chẳng thể đòi hòi được trả công cao. Gần đây, quốc gia láng giềng với GDP thấp hơn Việt Nam là Campuchia cũng đã tự chế tạo được xe hơi. Ngược lại, khi hãng điện tử Samsung đưa ra danh sách những mặt hàng có thể đặt gia công với các doanh nghiệp Việt Nam thì mới vỡ lẽ là Việt Nam chưa thể sản xuất nổi cái sạc pin, usb và ngay cả vỏ nhựa cho điện thoại di động. Tất nhiên, Việt Nam đã đánh mất cơ hội gia công cho hãng này. Việt Nam còn sẽ đánh mất nhiều cơ hội như thế cả về quy mô và số lượng nếu cứ tiếp tục tự hào với những cái thuộc về quá khứ và không nhận thức được một cách thấu đáo và nghiêm túc rằng mình đang ở đâu trên bản đồ khu vực và thế giới . Lý Quang Diệu nói phải mất 20 năm nữa Việt Nam mới bằng Malaysia, vậy thì 20 năm nữa Malaysia sẽ phát triển ra sao và mãi mãi người Việt Nam sẽ bị ám ảnh bởi sự thua kém của mình hay sao?

(Tác giả: Cao Huy Huân)

__________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________
NHỮNG BÀI LUẬN VĂN HAY KHỦNG KHIẾP THỜI XHCN !
Mời các bạn tham khảo một số trích đoạn từ bài tập làm văn của học sinh trung học Việt Nam hiện nay. Không biết nên cười hay nên khóc hay cười ra nước mắt đây !?
Cam đoan có thật 100%!!!

***Đề 1: Em hãy phát biểu cảm nghĩ của mình về thân phận nàng Kiều trong thời đại phong kiến.
Bài làm:
"Kiều là 1 người con gái tài sắc vẹn toàn, song nàng đã bị chế độ phong kiến vùi vào đống bùn nhơ. Đến nỗi, chịu không nổi, nàng đã nhảy xuống sông Tiền giang tự vẫn. May thay lúc đó có một bà đảng viên đi công tác về, bà liền nhảy xuống sông cứu nàng. Sau đó, Kiều giác ngộ và đi theo con đường Cách Mạng."
(Một phát hiện rất mới về Thúy Kiều!!!)

***Đề 2: Em hãy phát biểu cảm nghĩ của mình về việc Nguyễn Du đã để lại cho chúng ta tác phẩm Truyện Kiều.
Bài làm:
"... Nguyễn Du là lão tiền bối của chúng ta. Mặc dù tiền bối đã sớm ra đi vào một chiều gió lạnh, nhưng vẫn làm chấn động cả giới hậu bối của chúng ta, qua bí kíp võ công "Vương Thúy Kiều" hay còn gọi là "Đoạn Trường Thất Thanh". Bằng chứng là qua các kỳ thi, pho bí kíp này lại xuất hiện và làm "thất điên bác đảo" cả giới "hậu bối" chúng ta ..."
(Đây có lẽ là ảnh hưởng của điện ảnh Trung Hoa chăng?)

***Đề 3: Em hãy tường thuật lại diễn biến chiến dịch Điện biên phủ.
Bài làm:
".... Quân địch đánh ra, quân ta đánh vào ào ào như lá tre rụng, đồng ch í phe ta đánh thằng cha phe nó ghê hết sức.... Kết quả: Sau 55 ngày đêm chiến đấu oai hùng, ngày 7-1-1991, phe ta thắng phe nó, chúng ta đã giết sống được 16,200 chúng nó, phanh thây 62 máy bay (em quên mất tên của máy bay, xin cô thông cảm)".
(Rất đáng khen, đặc biệt là những con số!)

***Đề 4: Trong các tác phẩm em đã học và đọc thêm, em thích tác phẩm nào nhất? Vì sao? Hãy chứng minh?
Bài làm:
" Trong kho tàng văn học VN, ca dao dân ca rất giàu tình nghĩa.... Trong các tác phẩm đó em thích nhất là tác phẩm "Tắt đèn" của chị Dậu. Vì nó đã thể hiện tinh thần chống lại sự bóc lột phụ nữ của chế độ phong kiến. Chứng tỏ chị đã bán con và chó để thể hiện tinh thần kiên quyết đó..." (!!!)

***Đề 5: Em hãy phân tích trình tự diễn biến tâm trạng nàng Kiều trong đoạn trích "Những nỗi lòng tê tái".
Bài làm:
"Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng". Qua đó ta thấy tên khách họ Hoàng thật là tàn nhẫn, hắn hôn Thúy Kiều đã rồi lại bắt Kiều hôn lại, làm cho Kiều ngày càng biến thành gái lầu xanh chuyên nghiệp, muốn ngóc đầu lên cũng không nổi...." (Bó tay!!!)

***Đề 6: Em hãy cho biết sự bất công của phụ nữ dưới chế độ phong kiến. Bằng các tác phẩm đã học của Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, hãy chứng minh.
Bài làm:
"Sự bất công của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến đó là: Họ không được tham dự bóng đá quốc tế, họ không được lái xe nhất là các loại xe con, xe gắn máy. Ngày nay, quyền giải phóng phụ nữ đã được củng cố. Hàng năm người ta lấy ngày 8/3 làm quốc khánh phụ nữ.."
(Không biết "nước phụ nữ" ở đâu ra vậy ta???)

***Đề 7 : Sau khi đọc tác phẩm "Tắt đèn" của Ngô Tất Tố, em có suy nghĩ gì về nhân vật chị Dậu?
Bài làm:
"Sau khi chiêu xong tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố, em có suy nghĩ như sau: Chị Dậu là một nàng con gái có bộ lòng yêu chồng, thương con cực đại. Nàng ta rất chi dũng cảm, không sợ roi vọt. Chẳng hạn, khi thấy chồng bị đánh đập, nàng hùng dũng chưởng lại bằng mấy cú ca-ra-tê hết sức đẹp mắt..."
(Ngô Tất Tố không học võ nên không biết chị Dậu đã sử dụng loại võ gì).

***Đề 8: Trong bài Bình Ngô Đại cáo của Nguyễn Trãi, đoạn thơ nào đã nói lên sức mạnh và khí thế dũng mãnh của quân ta trong cuộc kháng chiến?
Bài làm:
Đoạn thơ sau nói lên sức mạnh và khí thế dũng mãnh của cha ông ta: "Đánh 1 trận giặc không kinh ngạc, Đánh 2 trận tan tác quân ta" !!!
(Nhầm mỗi tí thôi mà!)

***Đề 9 : Anh chị hãy phân tích hình ảnh người lính VN qua thơ ca kháng chiến chống Mỹ (điển hình như bài thơ "Dáng đứng Việt Nam" của Lê Anh Xuân)
Bài làm 1:
"... người lính của Lê Anh Xuân là một nét đẹp trong muôn vàn cái đẹp của người lính. Tuy đã gục ngã, nhưng anh cố bò mà ngồi day... Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhất, Anh xỉu rồi anh giải phóng quân ơi, Nhưng anh gượng ngồi trên xác trực thăng và chết đứng trong khi đang đứng bắn"
(Chết như vậy mới sinh động chứ!!!)
Bài làm 2:
"...Trên đường băng Tân Sơn Nhất, 1 anh giải phóng tự nhiên nằm đó. Một chị đi ngang thấy anh tự nhiên nằm nên lại rờ vào mình anh và lắc lắc mấy cái, chị thấy anh nằm im nên nghĩ anh đã chết... Anh giải phóng quân mất đi trong mình không có 1 thứ giấy tờ, một tấm ảnh nào, kể cả giấy chứng minh nhân dân cũng không có..."
(Liệu có phải chị kia lấy mất không?)

***Đề 10: "Em hãy cho biết ý nghĩa của câu thơ "Bàn tay ta làm nên tất cả, có sức người sỏi đá cũng thành cơm".
Bài làm:
"Theo em nghĩ thì nếu hiểu suông thì câu này rất tối ưu là vô nghĩa vì sỏi đá thì khó có thể biến thành cơm được trừ phi các nhà khoa học VN đã chế tạo ra một chất hóa học nào mà có thể biến được sỏi và đá thành thực phẩm. Còn nếu đi sâu vào ý nghĩa của câu thơ này, chúng ta phải thấy ngay là đây không phải là những sỏi đá bình thường mà theo em nghĩ thì tác giả muốn đề cập tới các mỏ đá quí của đất nước ta. Vì chỉ có đào mỏ lấy đá quí thì mới có giá trị và có thể bán để mua cơm ăn mà thôi. Và chẳng những đào được đá quý có cơm ăn mà còn dư tiền mua mấy trăm gram thịt xào lên làm món mặn và có một tô canh nóng hổi nữa."
(Gia đình nhà em học sinh này có thể ở gần vùng khai thác đá quý nào đó?) (và hằng ngàynhà em ăn cơm với gì ...? để trong văn ước mơ có món mặn thịt xào với tô canh ??? ! tk)

***Đề 11: Hãy tả chiếc bồ nhà em.
Bài làm:
- Nhà em ít thóc nên không có bồ. Thóc nhà em đựng ở thúng, cót. Tuy nhiên, em có nghe bác Thạch, bạn bố em nói, bố em có bồ, nhưng không mang về nhà. Em có gặng hỏi, bố em chỉ nói: Con còn bé quá, sau này sẽ biết. Em cứ nghĩ: Bồ đựng thóc thì sao lại để nơi khác. Bác Thạch có nói, bồ của bố em dễ thương lắm, đáng yêu lắm. Bác ý bảo bồ của bố em dài, chân cao, miệng nhỏ, trông cũng nhỏ nhắn. Và thế là em hiểu, bố em có thóc, và ông ta để riêng một chỗ. Tuy nhiên em mong bồ của bố em phải to cơ, mà bố phải mang bồ về nhà cơ. Nhưng tại sao khi nói ý muốn này cho mẹ em, thì mẹ em nói, nếu bố em mang bồ về nhà, mẹ em sẽ chọc tiết. Em chẳng hiểu gì cả. Chả nhẽ bồ thóc lại là một loại động vật à? Em rất muốn nhìn thấy bồ. Và khi đó em sẽ tả chiếc bồ thật hay, thật xúc tích. Được rồi, nếu không, em sẽ gom tiền, tự kiếm bồ cho mình. Và có lẽ phải thế cô ạ !!!
(Đáng được điểm 10 cho một tâm hồn trẻ thơ trong trắng !)

***Đề 12: Lục Vân Tiên khi cứu được Kiều Nguyệt Nga thoát khỏi tay bọn cướp hung ác, đến bên kiệu nói:
" Khoan khoan ngồi đó chớ ra.
Nàng là phận gái ta là phận trai"
Anh hay chị cho biết ý của câu thơ nầy cụ đồ Chiểu muốn gởi đến chúng ta điểm gì?
Bài làm:
- Lục Vân Tiên là người có học, còn kiều Nguyệt Nga là con nhà quyền quí. Ban ngày ban mặt trò chuyện sợ người ta thấy dị nghị, nên Lục Vân Tiên đề nghị Kiều nguyệt Nga cứ ngồi trong kiệu để anh chung vào nói chuyện tiện hơn không ai thấy. Theo em nghĩ, cụ Đồ Chiểu muốn gởi đến chúng ta chuyện trái gái mình phải kín đáo....Áp dụng trong đời sống thực tế, chúng ta nên vào quán đèn mờ!!!
(không biết bên kia thế giới cụ Đồ nghĩ sao)


Theo GD 

Viết từ Sài Gòn'rfa - Vua Phong kiến và vua Cộng sản


Viết từ Sài Gòn'rfa - Vua Phong kiến và vua Cộng sản

Thứ Sáu, ngày 27 tháng 2 năm 2015


Trong dịp Tết này, có thể nói là nhiều chuyện bất ngờ xuất hiện, trong đó, những chuyện tưởng chừng rất đơn giản lại là chuyện động trời, nó vô hình trung lôi cả sợi xích dài vốn dĩ đã chôn sâu trong thớ đất lịch sử.

Điển hình nhất là câu chuyện nhà nguyên Tổng bí thư Nông Đức Mạnh tiếp đoàn khách đến chúc Tết, hình ảnh phòng tiếp khách lộng lẫy với hai chiếc ghế mô phỏng ngai vàng của hoàng tộc Anh, nhìn sang trọng hơn cả chiếc ngai vàng trong cung đình Huế, vì theo một phân tích của một nghệ nhân chuyên đóng ghế kiểu cổ thì hai chiếc ghế trong nhà Nông Đức Mạnh làm bằng gỗ huỳnh đàn, mạ vàng, có giá trị mỗi chiếc lên đến gần một triệu USD.


Vô tình, lối sống vương giả, xa hoa của một cựu quan chức Cộng sản Việt Nam giữa lúc nhân dân không có đất để sống, phải nằm lây lất giữa Hà Nội mà kêu oan, nông dân không có tiền ăn Tết, đất nước nghèo nàn lạc hậu… đã chạm đến sợi dây trắc ẩn của lịch sử Việt Nam. Điều này cho thấy nhân dân Việt Nam chưa bao giờ có tự do và bình đẳng, hết sống trong cảnh cúi đầu nô lệ thời phong kiến lại chuyển sang sống trong cái ách kìm kẹp Cộng sản xã hội chủ nghĩa. Người dân chưa bao giờ sống trọn vẹn ý nghĩa một con người.

Vì sao phải nói như vậy? Vì hai lý do: đó là sự giống nhau và khác nhau của hai chế độ Phong kiến và Cộng sản. Tại sao hai sự giống nhau và khác nhau lại liên quan đến vấn đề dân tộc Việt Nam? Vì lẽ, đây là hai mặt của một vấn đề, nó có tính bổ sung cho nhau trong quá trình nô lệ hóa và ngu dân hóa dân tộc Việt Nam nhằm củng cố quyền lực phe nhóm, quyền lực đảng và cái đến sau bao giờ cũng ma mãnh, tinh vi và độc ác hơn so với sự mới hình thành, thô sơ, ấu trĩ của cái trước.

Trước nhất, có lẽ nên nói về sự khác nhau giữa nhà nước Cộng sản xã hội chủ nghĩa và nhà nước phong kiến. Đương nhiên là sự khác nhau tương đối rõ nét, từ kinh tế cho đến văn hóa, giáo dục, và chính trị. Nhà nước Cộng sản xã hội chủ nghĩa đã đạt được những bước tiến so với nhà nước phong kiến về trình độ kĩ thuật, về kiến thức nền cũng như cung cách sắp xếp, bố trí quyền lực trong nội bộ.

Và cái khác nhau rất căn bản giữa hai thứ nhà nước này là triều đại phong kiến có nhiều ông vua, mỗi ông đảm nhận một quãng đường trong lịch sử cai trị, trị vì của mình. Khác với triều đại Cộng sản Việt Nam có thể có nhiều ông vua cùng một lúc và những ông vua này biết chia chác quyền lực cũng như biết huy động quyền lực để mình vẫn là một ông vua, các đồng chí khác cũng là một ông vua nhưng cùng nhau tồn tại để hưởng vinh hoa phú quí, để biến các con mình thành thái tử, hoàng tử, các bà vợ thành những bà hoàng tột đỉnh quyền lực trong lãnh địa của mình.

Điều mà nhà nước phong kiến về mặt bản chất vẫn giống y hệt nhà nước Cộng sản nhưng lại ấu trĩ trong việc tranh giành quyền lực, đã tập trung quyền lực về một người và tranh giành cái ngôi vị ấy cho đến máu chảy đầu rơi thay vì nhân ra nhiều ngai vàng như triều đại Cộng sản đang làm.

Đó là sự khác nhau tương đối giữa hai loại triều đại này. Về mặt bản chất, giữa phong kiến và Cộng sản chỉ là một, khác nhau chăng là ở mặt hình thức, ngay từ trứng nước, Cộng sản là đứa con đẻ mang đầy đủ gen trội cũng như tố chất bóc lột của nhà nước phong kiến.

Có ba điểm dễ nhận dạng nhất khi nói rằng Cộng sản là con đẻ của phong kiến: Tất cả giới quan lại Cộng sản hiện tại đều có xuất thân từ bộ máy phong kiến trước đây và họ đã dùng chiêu bài “vô sản” để tiêu diệt lẫn nhau nhằm tập trung quyền lực vào một nhóm phong kiến nhỏ như Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Tôn Đức Thắng, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Chí Thanh, Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh… Tất cả các nhân vật này đều là thành phần gia đình quan lại phong kiến cộm cán, có tội ác với nhân dân và khi họ nhìn ra được là không bao lâu nữa, ngọn gió văn minh từ mẫu quốc Pháp sẽ thổi bạt gia tộc và quyền lợi của họ. Họ đã chọn con đường Cộng sản, mượn chiêu bài vô sản để duy trì quyền lực theo hình thái mới, đó là Cộng sản xã hội chủ nghĩa.

Đương nhiên là ngay từ đầu, họ chưa dám xưng mình là Cộng sản, họ mượn danh Việt Minh để lợi dụng nhân dân, đến khi đủ lông đủ cánh, đợi các đảng đồng loạt cướp chính quyền năm 1945, họ thủ sẵn cờ đỏ búa liềm của đảng Cộng sản để treo lên khắp nơi nhằm cướp công của các đảng khác và bắt đầu công cuộc thanh trừng, ám sát các đảng phái khác để tập trung quyền lực về tay nhóm Cộng sản. Công cướp chính quyền là công của nhiều đảng, nhưng điều mà nhân dân được thấy chỉ là cờ đỏ búa liềm trên mọi nóc nhà, mọi cột cờ, mọi ngọn cây.

Sau khi ám sát mọi đảng phái, công cuộc thanh trừng nội bộ nhằm đảm bảo quyền lực thống trị lâu dài bắt đầu. Và để đảm bảo thống trị lâu dài, đảng Cộng sản chưa bao giờ trả cái quyền sở hữu đất lại cho nhân dân. Họ mượn chiêu bài “sở hữu toàn dân do nhà nước quản lý” để giao cho dân quyền sử dụng và sử dụng lâu dài đất đai của chính nhân dân. Trong khi đó, quyền sử dụng về mặt bản chất không phải là quyền mà chỉ là một trong ba thuộc tính của quyền sở hữu, một khi có quyền sở hữu thì người ta có được ba thuộc tính: chiếm hữu, sử dụng và định đoạt. Mới gọi là quyền.

Người dân suốt mấy mươi năm nay chỉ có quyền sử dụng đất, việc sử dụng này chỉ đóng vai trò canh tác để kiếm cái mà tồn tại qua ngày và giữ giùm đất cho các nhóm quyền lực Cộng sản. Đến khi các nhóm này cần, họ sẽ ngang nhiên định đoạt và chiếm hữu đất trên tay nhân dân để làm giàu cho gia định họ.

Vấn đề này, về mặt bản chất, phong kiến và Cộng sản chỉ là một. Phong kiến bảo rằng đất của vua, Cộng sản bảo rằng đất của toàn dân do bọn tao quản lý, khi cần thì bọn tao lấy lại, lấy để làm gì là chuyện của bọn tao, vì bọn tao là đại diện lãnh đạo ưu tú của toàn dân. Vậy thôi!

Và cũng chính vì cái bản chất gian ác, giảo hoạt của chế độ phong kiến chuyển hóa thành Cộng sản trong một môi trường kĩ thuật tương đối hiện đại, mới mẽ, lợi tức của nhân dân cũng khá hơn rất nhiều so với thời phong kiến mà các ông vua Cộng sản nhanh chóng giàu có, hoành tráng và mức độ giàu có của vua Cộng sản cao hơn nhiều so với các ông vua phong kiến.

Các triều đại phong kiến kéo dài gần năm thế kỉ tại Việt Nam, tổng số các ông vua của họ không quá 100 ông. Trong khi đó, triều đại Cộng sản chỉ có mặt tại miền Bắc chưa đầy 100 năm và tại miền Nam chưa đầy 50 năm, số lượng các ông vua Cộng sản có thể lên đến trên 1.000 ông. Chỉ riêng Bộ chính trị, hơn bảy mươi năm nay, đã có gần một trăm ông vua, đó là chưa kể đến các loại vua như Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch các ủy ban trực thuộc trung ương, Chủ tịch các Hội, Đoàn. Và ở mỗi địa phương, người đứng đầu tỉnh thành cũng là một ông vua. Sáu mươi tư tỉnh thành, nếu chỉ tính từ 1975 đến nay cũng đã có trên 600 ông vua. Và mỗi ông vua chiếm cho mình một lượng đất đai, tài sản đủ dùng cho ba đời đến năm đời… Hãy tưởng tượng mức độ mất đi của tài nguyên quốc gia, tưởng tượng số lượng tài sản đã rơi vào tay các loại vua này.

Nhưng, dù sao, câu chuyện làm vua làm chúa của người Cộng sản trước đây còn có chút “tế nhị”, họ biết giấu diếm. Cho đến bây giờ thì lại khác, họ không những không cần giấu diếm mà còn phô trương sức mạnh cũng như sự giàu có của họ. Không riêng gì Nông Đức Mạnh có phòng tiếp khách trị giá triệu đô, có ghế ngồi trị giá tiền tỉ, mà hầu hết các vua Cộng sản đều có những thứ tài sản mà nếu còn sống, các ông vua phong kiến phải nhỏ dãi thèm thuồng. Ví dụ như cái ngai vàng trong hoàng cung Huế, cũng bằng gỗ huỳnh đàn nhưng đai và lưng dựa rất xấu, thấp, nặng không đến 100kg.

Nhưng cái ghế của Nông Đức Mạnh, bằng gỗ huỳnh đàn có dát vàng, với kích cỡ đó, mỗi chiếc phải nặng trên 120kg. Vì huỳnh đàn là loại gỗ rất nặng, giá mỗi ký lô trên thị trường dao động từ 25 triệu đồng đến 30 triệu đồng. Với 120kg, chỉ tính riêng gỗ thô không thôi đã lên trên 3 tỉ đồng. Và không phải ai cũng có thể tìm ra gỗ huỳnh đàn khối để mua về đóng ghế, ngoại trừ các ông vua Cộng sản.

Trong một đất nước mà nhân dân không có quyền sở hữu, không có quyền tự do trong khi đó lại có quá nhiều ông vua và các ông vua này chưa bao giờ ngừng tùng xẻo tài nguyên quốc gia để thâu tóm về gia đình, dòng tộc. Và cũng không ngoại trừ việc một vài người trong số họ đã bán lãnh thổ quốc gia cho ngoại bang để làm giàu. Thử nghĩ, đất nước này sẽ về đâu nếu như một ngày nào đó, số lượng con vua, cháu vua nổi lên lúc nhúc và thi nhau tùng xẻo đất nước, lại thiết lập cho họ một ngai vàng… Thì nhân dân sẽ sống ra sao? Dân tộc này sẽ về đâu? Thật là đáng sợ!

(Viết từ Sài Gòn, 24/02/2015)


Chuyện những người Việt mất tích ở Anh


Đăng ngày 28-02-2015 Sửa đổi ngày 28-02-2015 16:37

Chuyện những người Việt mất tích ở Anh

media
Người nhập cư sống trong rừng Calais ở miền bắc nước Pháp chờ cơ hội trốn sang Anh.Ảnh: Reuters

 Cảnh sát Anh thường dán thông báo tìm người mất tích ở các nút giao thông nhiều người qua lại, và từ vài năm trở lại đây những khuôn mặt Việt Nam và những họ tên Việt Nam dần trở thành hiện tượng phổ biến. 

Những người mang họ Nguyễn đó thường dưới 18 tuổi, và thực sự khó có thể biết được là họ đi lạc, bị bắt làm nô lệ trong các trại cần sa, hay tự chui vào các tiệm nails xin việc, hoặc chỉ đơn giản là về đâu đó sống với thân nhân.

 Từ Luân Đôn thông tín viên Lê Hải tường trình :
Trước hết, nước Anh không có hệ thống cấp chứng minh nhân dân, tức là người Anh ra đường không cần phải đem theo thẻ căn cước và cảnh sát hầu như không có cách gì để kiểm tra giấy tờ của người đi đường, trừ khi họ lên máy bay hoặc ra vào cửa khẩu và những khu vực an ninh đặc biệt. Đây chính là kẽ hở khiến rất nhiều người nước ngoài nhập cư trái phép vào nước Anh và sinh sống bất hợp pháp khắp mọi nơi.

Tiếp theo là theo mắt nhìn của người Anh thì người Việt luôn luôn bị đánh tuổi rất thấp. Một cô gái đã học xong thạc sĩ ở Việt Nam, hay một cô gái khác từng sang Nga rồi bỏ chồng và vượt biên sang Anh tìm cuộc sống mới, đều khai 16 tuổi và đều không bị ai nghi ngờ bất kỳ điều gì cả.

 Nhiều nam thanh niên đã học xong cấp ba và đi làm ở Việt Nam, tiếp tục lưu lạc thêm vài năm trên đường trung chuyển như Cộng hòa Séc và Hungary hay Ba Lan để qua Đức sang Pháp rồi chui xe tải vượt biên vào Anh, vậy mà vẫn khai mình sinh năm 1995 hay 1996, và cũng dễ dàng qua mặt được các nhân viên công vụ của Anh, những người chỉ một vài lần trong đời có cơ hội tiếp xúc với người Việt.

Chuyện thường gặp là người Việt khi bị bắt trong các vườn cần sa hay tiệm nail sẽ khai tên họ và quê quán hoàn toàn khác, và tuổi còn nhỏ, là thoát ngay được rất nhiều tội và ngược lại còn được hưởng chế độ trợ cấp và ưu đãi trong xã hội. Sau đó thì họ biến mất và thế là sở cảnh sát phải thông báo để tìm kiếm vì sợ họ đã bị các băng đảng tội phạm bắt cóc.

Biện pháp xử lý của chính quyền Anh?
Hiện nay bộ Nội vụ Anh bắt đầu có chính sách kiểm tra độ tuổi của những ai khai ít tuổi, nhưng các phương pháp đo xương hay răng ít được áp dụng vì luật bảo vệ quyền con người, và đánh giá bằng phỏng vấn sẽ không bảo đảm được độ chính xác nếu người được phỏng vấn đã được dặn dò từ trước là phải khai như thế nào.

Ngoài ra còn có thêm một hiện tượng mới là nhiều bậc phụ huynh ở Việt Nam đưa con còn nhỏ sang Anh xin tị nạn và tính ra thì giá cho cả chuyến đi rẻ hơn rất nhiều so với chi phí để du học. 

Tùy theo những vụ việc bất ổn ở địa phương như là biểu tình chống Trung Quốc hay tranh chấp đất đai nhà thờ mà người ta sẽ khai sao đó cho phù hợp, xong rồi trong thời gian chờ xét đơn tị nạn thì họ được nhà nước Anh lo chỗ ăn ở, hàng tuần có tiền tiêu vặt, tiền mua quần áo mùa đông, tiền sinh nhật.Đi học cũng được miễn phí, và cả một hệ thống trợ giúp của chính quyền địa phương để giúp em bé vào đời và hướng nghiệp.

Trong trường hợp khai tên giả và địa chỉ thì chung chung, hầu như chính phủ Anh không có khả năng trục xuất khi có quyền như vậy vào ngày đương sự tròn 18 tuổi. Khá nhiều trường hợp, nhất là các em gái, khi khai thêm rằng mình bị hiếp dâm trên đường vượt biên, hay bị đem sang Anh làm gái, thì hầu như là ngay lập tức được cấp thẻ tị nạn để ở lại lâu dài. Trong bối cảnh như vậy thì không có gì khó hiểu tại sao ngày càng có thêm nhiều người Việt, tuổi ngày càng nhỏ, vượt biên sang Anh và giá cho các chuyến đi ngày càng cao.

Bất chấp nguy hiểm, dòng người nhập lậu vào Vương Quốc này vẫn không giảm.

Cho đến thời điểm này thì thực sự chưa có những con số thống kê chính thức, nhưng chắc chắn là không đảng phái nào có giải pháp rõ ràng về những người nhập cảnh trái phép vào Anh. Xung quanh các bến cảng như Calais và Dunkrik bên Pháp là những khu lều trại tạm bợ của rất nhiều sắc dân trong đó có người Việt chờ chui vào trong xe tải nhập cảnh vào Anh. 

Cửa khẩu có rất nhiều phương tiện kiểm tra và soi chiếu, nhưng họ sẵn sàng chui dưới gầm xe, hay chui vào trong xe chở tủ lạnh hoặc các thiết bị kim loại thì máy soi sẽ không xuyên qua được, và trùm bao nhựa vào đầu để không thoát khí CO2 ra ngoài khi có máy đó.

Khi đã vào đến nước Anh rồi thì tùy thuộc vào chính quyền Việt Nam có chịu nhận những người này về hay không. Thường thì số lượng người bị trục xuất về Việt Nam gia tăng khi giữa hai nước có các đoàn công tác cấp cao, và chính phủ Anh có thể đề nghị tăng viện trợ để đổi lại bằng chuyện Việt Nam nhận người về.

 Quốc vụ khanh Hugo Swire vừa có chuyến công du Việt Nam và gặp phó thủ tướng Phạm Bình Minh đúng thời điểm báo chí Việt Nam đồng loạt chạy tin của Reuters về chuyện trẻ em Việt Nam bị đưa sang Anh làm nô lệ trong các trại cần sa, và ở London thì người ta đoán sắp có một đợt trục xuất lớn theo sau đó. 

Tuy nhiên, trong khi số lượng người được nhận về nhỏ giọt vì phải xác minh lý lịch, thì số lượng người vượt biên sang có lẽ ngày càng tăng, vì có thêm lượng người đang sống bất hợp pháp ở các nước Đông Âu, và đặc biệt là người từ các vùng chiến sự ở Ukraina tìm sang.

Người nhập cư lậu, những nô lệ thời hiện đại? 
Nước Anh bắt đầu thực sự quan tâm đến vấn đề người nhập cư bất hợp pháp từ lần bầu cử quốc hội trước đây, khi các lãnh đạo đảng chính thức đưa đề tài này ra thành một cuộc tranh cãi. Vấn đề này sẽ tiếp tục là đề tài nóng bỏng trong cuộc bầu cử trong năm nay vì càng ngày người ta càng biết nhiều hơn và lo ngại hơn về các nguy cơ bất ổn xã hội do nhập cư bất hợp pháp gây ra.

Tất nhiên là trong thế kỷ XXI không còn kiểu nô lệ như thời xưa mà ta vẫn xem trên phim, nhưng nô lệ thời hiện đại được định nghĩa là điều kiện lao động khắc nghiệt thiếu những quyền con người cơ bản nhất. Ví dụ như là trong tiệm nail người chủ vì tham lợi nhuận mà không bố trí cho nhân viên giờ nghỉ ngơi, thậm chí làm việc cả ngày không kịp ăn cơm trưa hay kể cả cơm chiều, rồi trả lương không đủ mức sống, và dùng lời lẽ để nhục mạ và làm tổn thương tinh thần của nhân viên vốn đã phải làm việc trong điều kiện thiếu tiện nghi và hóa chất độc hại. Nô lệ ngày nay không có ai canh gác mà tự vướng vào mối quan hệ xã hội chằng chịt của ân oán nợ nần và số tiền phải kiếm bằng mọi cách để trả nợ hay lấy lại nhà đã thế chấp để vay ngân hàng.

Vấn đề không chỉ là ở nước Anh mà còn là đề tài rộng hơn có liên quan đến cuộc sống của rất nhiều người Việt đã đi ra nước ngoài mong tìm được cuộc sống tốt hơn trong nước, tốn rất nhiều tiền cho các đường dây môi giới nhưng cuối cùng phải đem mạng sống ra mạo hiểm để kiếm tiền trên các tàu cá ngoài khơi, hay có trường hợp bị tai nạn lao động ở công trường xây dựng ở Trung Đông và chết vì lạnh ở Nga, khi tôi từng nghe một người kể không thể nào chôn được anh bạn vì băng quá cứng không thể đào chạm đất nổi, rồi những vụ xưởng may giam người ở Mátxcơ-va. Đó chỉ là một góc nhỏ trong bức tranh mô tả cuộc sống nô lệ của người nhập cư mà chính giới ở Anh muốn có biện pháp ngăn chặn, đầu tiên là trên hòn đảo này, sau là khắp thế giới.

__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh 

Popular Posts

Popular Posts