Đại Học chăn Trâu




Friday, 19 June 2015

Fwd: Dạ tiệc"" trắng'"" ở Paris thu hút hàng nghìn người ..

 

On Thursday, June 18, 2015 6:58 AM, Giang Duc Nguyen <> wrote:

 Tôi không hiẻu sao VC dịch là trắng ?

From:
Huu Dinh Nguyen
Date: 2015-06-17 6:50 GMT-04:00
Subject: 


To: 'Dạ tiệc "trắng'" ở Paris thu hút hàng nghìn người
Hơn 13.000 người đổ về thành phố Paris, Pháp, dự "Dạ tiệc trắng" lần thứ 27.
 
Truyền thống tổ chức "Dạ tiệc trắng" có từ cách đây 26 năm ở Paris. Ban tổ chức khi đó yêu cầu khách mặc đồ màu trắng để dễ dàng nhận ra họ trong công viên.
Bữa tiệc đặt biệt có một số quy định với người tham dự. Sau khi đăng ký trên website của sự kiện và được ban tổ chức chấp nhận, người tham gia phải bắt buộc có mặt, dù điều kiện thời tiết hôm ấy thế nào chăng nữa. Người dự tiệc, ngoài mặc đồ trắng, phải mang theo giỏ mây (loại dùng đi dã ngoại), khăn trải bàn, ghế gấp và bàn ăn. Khách cũng được yêu cầu đến và ra về bằng phương tiện công cộng. Ảnh: Reuters

 
Theo AP, sự kiện hôm 11/6 được tổ chức tại vườn Tuileries và điện Palais Royal ở Paris. Ảnh: Reuters

 
Toàn bộ bàn, ghế dùng cho dạ tiệc cũng được "khoác" sắc trắng. Ảnh: AFP

 
Thông tin trên website của chương trình cho biết "hàng nghìn người mặc đồ trắng gặp nhau trong một 'bữa tiệc thanh lịch' ở nơi công cộng". Ảnh: AFP 

 
Khách được yêu cầu trả lại nguyên trạng khu vực diễn ra sự kiện và nhặt toàn bộ rác ở đó đi. Ảnh: AFP 

 
"Dạ tiệc trắng" hiện lan sang nhiều thành phố khác trên thế giới như London, Anh, Cincinatti, Mỹ, và Sydney, Australia. Ảnh: Villaschweppes

 
Cô gái làm duyên với vòng đội đầu kết từ những bông cúc trắng. Ảnh: Villaschweppes

 
Áo và mũ phát sáng của khách dự tiệc. Ảnh: AFP

 
Trước đó, khách đứng đợi trên đường phố trung tâm ở Paris vì địa điểm diễn ra tiệc chỉ được thông báo vào phút chót. Ảnh: AFP

 
Khách mang ghế ngồi và đồ tổ chức tiệc theo cùng. 





__._,_.___

Posted by: Khai Vo 

Tuesday, 16 June 2015

Thảm họa Bắc thuộc: Phim Tài liệu

 

Thảm họa Bắc thuộc: Phim Tài liệu

Kính Hòa, phóng viên RFA
2015-06-15
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
06152015-kowt-to-the-north.mp3 Phần âm thanhTải xuống âm thanh
Hình bìa bộ phim Tài liệu Thảm họa Bắc thuộc
Hình bìa bộ phim Tài liệu Thảm họa Bắc thuộc
Files photos
Một nhóm làm phim tại hải ngoại vừa cho ra đời một bộ phim tài liệu mang tựa đề Thảm họa bắc thuộc, nói về quan hệ Việt nam Trung quốc. Sau đây là trao đổi giữa Kính Hòa và ông Chu Lynh, một trong những người thực hiện bộ phim về việc xây dựng bộ phim cũng như nội dung của nó. Ông Chu Lynh cho biết:

Ông Chu Lynh: Cuốn phim Thảm họa bắc thuộc đã được thực hiện trong hơn hai năm, với cái nội dung chính yếu là nhận diện cộng sản Trung Hoa, và nhận diện cộng sản Việt nam trong cái thảm kịch đưa đất nước Việt nam vào tình trạng thảm họa bắc thuộc. Sau đó chúng tôi có nói tới, đề cập tới một phần khá quan trọng, đó là những ngọn lửa Việt xuất phát từ trong quá khứ của lịch sử Việt nam cho đến ngày hôm nay. 

Những người trong nước, đặc biệt là giới trẻ, tổ chức thành những đoàn thể để mà lên tiếng về cái thảm họa bắc thuộc ngày hôm nay. Và sau cùng là chúng tôi cũng gửi đi một thông điệp, thông điệp này trước tiên là của tiền nhân, kế tiếp là của những nạn nhân trong thảm kịch bắc thuộc.

Kính Hòa: Hiện nay Việt nam là một quốc gia độc lập, thế thì cái đe dọa là như thế nào để Việt nam lệ thuộc Trung Hoa như ông vừa nói, thì ông có thể nói rõ hơn không?

Ông Chu Lynh: Chuyện Bắc thuộc không phải chỉ có bây giờ mà nó xuất phát từ trong quá khứ. Nhưng mà người Tàu không làm gì được nước Việt nam, bởi vì lúc đó triều đình với dân là một để chống lại quân xâm lăng từ phía bắc. Nhưng ngày hôm nay, triều đình tức là cộng sản Việt nam không đứng về phía dân chúng, tức là không đứng về phía dân tộc, cho nên người dân rất khó lòng chống lại người Tàu. Ngược lại thì cộng sản Việt nam đã toa rập, thần phục, tiếp tay cho người Tàu để mở cửa, từ biên giới cho đến các lĩnh vực khác, để người Tàu chiếm các cuộc đấu thầu, những cuộc đấu thầu có tính chiến lược về kinh tế và quốc phòng đều lần lượt nằm trong tay người Tàu. Chúng tôi không đi vào chi tiết vì trong cuốn phim có nõi rõ những lãnh vực đó.
Nội dung chính yếu là nhận diện cộng sản Trung Hoa, và nhận diện cộng sản Việt nam trong cái thảm kịch đưa đất nước Việt nam vào tình trạng thảm họa bắc thuộc
Ông Chu Lynh
Chúng tôi nghĩ rằng nếu mà ngày nay, cộng sản Việt nam trở về với dân tộc và đứng về phía dân chúng, thì chúng tôi nghĩ sẽ không có thảm họa bắc thuộc.

Kính Hòa: Thưa ông Chu Lynh, đây là một bộ phim tài liệu, vậy thì ông có thể cho biết những nguồn tài liệu nào đã được sử dụng và những nhân vật nào xuất hiện trong phim?

Ông Chu Lynh: Tài liệu về thảm họa bắc thuộc trôi nổi trên Internet rất là nhiều. Mà nếu mình lấy tài liệu trên Internet thì phải nói là rất khó khăn vì có quá nhiều tài liệu. Có nhiều bài báo có tính cách nghiên cứu, mà nhận định cũng không thuần nhất, thì cái nhiệm vụ của chúng tôi khi làm phim tài liệu là lọc và hệ thống hóa tất cả những dữ diệu trong quá khứ, và hiện tại. Chúng tôi lọc ra và chọn những tài liệu. Cộng với một số nhà nghiên cứu có uy tín ở hải ngoại, đồng thời chúng tôi cũng có phỏng vấn một số người trong nước.
Đặc biệt chúng tôi có mời ba nhân vật ngoại quốc là đạo diễn David Setter, ông là đạo diễn của bộ phim The age of Delirium, hình như dịch ra là Thời đại mê sảng. 

Giáo sư Stephen Young, ông là Giáo sư tại trường Đại học Hamline, Minnesota. Và sau cùng là Giáo sư Carlyle Thayer là chuyên viên về Đông Nam Á, rất nổi tiếng chuyên về bình luận vấn đề thời sự của Đông Nam Á. Nói tóm lại chúng tôi phỏng vấn 21 người.

Kính Hòa: Thưa ông Chu Lyng, trờ về với cái vấn đề bắc thuộc, có vẻ như người ta nói một trong những nguyên nhân của nó là do sự đồng ý thức hệ giữa hai đảng đang cầm quyền ở Trung quốc và Việt nam, có phải đó là nguyên nhân mà nhóm làm phim cho rằng dẫn tới thảm họa bắc thuộc của dân tộc Việt nam hay không?

Ông Chu Lyng: Trong cuộc phỏng vấn, Giáo sư Carlyle Thayer có nói cái vấn đề là trước đây là ý thức hệ, nhưng cộng sản Việt nam không ngờ là ý thứ hệ bây giờ không còn nữa, mà bây giờ là ý thức dân tộc, quyền lợi của dân tộc. Cộng sản Việt nam đâu có ngờ rằng bây giờ là quyền lợi của Trung quốc. Khi nhận ra bây giờ đã quá muộn rồi, cái ý thức hệ bây giờ không còn nữa.

Kính Hòa: Dạ thưa ông, người ta cũng hay nói rằng là Việt nam đang thực hiện một chính sách gọi là chính sách đu dây giữa các cường quốc. Và dường như là họ cũng có những nổ lực như là mua sắm vũ khí, đôi khi họ cũng lên tiếng mạnh mẽ chống lại Trung quốc. Thì liệu khi nói rằng họ sẽ dẫn tới thảm họa bắc thuộc thì có quá đáng hay không?
Giáo sư Carlyle Thayer có nói cái vấn đề là trước đây là ý thức hệ, nhưng cộng sản Việt nam không ngờ là ý thứ hệ bây giờ không còn nữa, mà bây giờ là ý thức dân tộc, quyền lợi của dân tộc
Ông Chu Lynh
Ông Chu Lynh: Chúng tôi không phải là những bình luận gia về thời cuộc, tuy nhiên nói về phương diện tài liệu, thì nếu bây giờ cộng sản Việt nam sắm tàu bè thì theo chúng tôi cũng là một cái điều cần, nhưng những cái lực lượng đó chưa chắc đối lại nổi với Trung quốc. Cái vấn đề bây giờ là nội lực của mình là chính chứ không phải là những vũ khí đó. Những vũ khí đó nếu đi kèm với nội lực, cộng sản Việt nam nếu khía thác được cái tinh thần dân tộc của mình, cái độc lập. Viện trợ của các nước chỉ là phần nhỏ.

Nếu nói là đu dây thì theo tôi nghĩ cộng sản Việt nam họ không có đủ khả năng để đu dây. Bởi vì đu dây là đu dây đường dài, chứ còn họ đu dây trong một thời gian thì người ta thấy cái sự man trá của họ.

Kính Hòa: Trước khi dừng lời, ông còn có ý nào nữa không về bộ phim này để nói với quí khán thính giả?

Ông Chu Lynh: Dạ thưa đó là một điều chưa được đề cập đến, hoặc đề cập đến mà quá sơ sài. Nếu ông Trung tá thủy quân lục chiến Hoa Kỳ James Zumwalt có nói về biến cố đá Garma, ông nói rằng đó là một thảm sát mà thế giới chưa biết đến, nhưng có một tổn thất lớn nhất là dân chúng tại biên giới sáu tỉnh phía bắc. Đây cũng là một thảm sát mà thế giới chưa biết đến. Người dân Việt nam trong nước hay ngoài nước nên chú ý tới cái điều này. Chúng tôi nghĩ là nếu ở trong nước có những nhà báo độc lập, những nhà làm phim độc lập, chứ không phải của nhà nước, làm một cuốn phim, một phóng sự, một bài viết về tình tại biên giới, về cái thảm kịch của họ, từ chiến tranh 1979 cho đến giờ, thì chúng tôi nghĩ là rất hữu ích cho đất nước.

Kính Hòa: Xin cám ơn ông.

__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh 

Monday, 15 June 2015

Người Việt có học nhiều cũng khó đoạt giải Nobel


 

Người Việt có học nhiều cũng khó đoạt giải Nobel
Cao Huy Huân

Hôm qua mới xem vài ba bài báo, thấy phản ánh học sinh lớp 12 đang háo hức trước kỳ thi đại học sắp tới vì đây là lần đầu các em làm “chuột bạch” với mô hình thi “2-trong-1” đầy tranh cãi. Tôi chẳng biết báo chí phản ánh đúng bao nhiêu %, và những tấm ảnh các em học sinh 12 đang cười toe toét có phải đúng là hình các em đang vui vì… sắp thi phương pháp mới.

 Nhưng bản thân tôi, vốn cũng là thế hệ trải qua đủ tất cả các kỳ thi với muôn vàn cảm xúc: vui khi qua, buồn khi vướng, và sợ hãi khi phải đối mặt. Vài đứa cháu của tôi dù mới bước sang tuổi lớp 1, lớp 2 cũng đã phải thức khuya dậy sớm học bài, làm bài cần cù chăm chỉ một cách khuôn phép nếu muốn có chút thành tích và được xướng tên trước cột cờ để nhận những phần thưởng cuối năm.

 Vậy nên khi thấy báo chí bảo “các em hào hứng trước mô hình thi mới”, tôi chắc mẫm một từ “dối!”. Chẳng em nào, ở cái tuổi ăn được ngủ được, lại vui trước những kỳ thi với óc não căng như dây đàn tại Việt Nam. Có chăng thì cũng chỉ một vài em bị nhồi nhét đáng thương đến mức trở thành “mọt sách”.

Phải thừa nhận người Việt học nhiều thật, “nhiều” cả về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Còn nhớ ngày tôi học lớp hai, lớp ba (tức 7-8 tuổi), tất cả bảng cửu chương phải thuộc lòng vanh vách, ngay cả khi trong đầu tôi chưa hề có một ý niệm nào về câu hỏi “tại sao tôi phải học bảng cửu chương”. 

Tôi và những đứa bạn cùng trang lứa chỉ biết học vì “thầy cô yêu cầu học”, nếu không muốn nhận quả trứng gà tròn trĩnh (điểm 0) hay khá hơn là một con ngỗng quay (điểm 2) ở các buổi kiểm tra miệng bất thình lình. Thậm chí nếu ăn quá nhiều “trứng gà” hay “ngỗng quay”, chúng tôi sẽ phải chuyển đổi thành “roi, vọt” và nằm úp lên bàn để nhỏ lớp trưởng được cô chủ nhiệm ủy quyền đánh thật mạnh vào mông.

Rồi những ngày mệt nhoài vì phải vác chiếc cặp nặng trịch toàn là sách và tập. Có môn đến hai, ba quyển sách các loại, chưa tính thêm tập viết lý thuyết lẫn bài tập về nhà. Bản thân chúng tôi đúng nghĩa “cần lao” và miệt mài nuốt cho hết mớ chữ nghĩa mà đôi khi đi vào cả giấc mơ chưa tròn tuổi của mình. Và khi học-học nữa-học mãi vẫn chưa hết mớ kiến thức thầy cô cố nhồi nhét vào đầu, chúng tôi bắt đầu tìm đến thánh thần và sự ma mị. 

Nào là ra nghĩa địa bứt “lá thuộc bài” kẹp vào từng trang vở; nào là đi bắt xăm, bắt quả, bói bài… đủ các kiểu các thể loại, chỉ mong có thể an tâm ngủ ngon để sớm tinh mơ còn đủ sức mò dậy, tạt từng gáo nước lạnh buốt vào mặt để trấn tỉnh và tiếp tục học vội học vàng vài ba dòng mong sao “trúng tủ” trước khi chạy ù đến trường thi với bộ đồ xộc xệch chưa kịp ủi tinh tươm.

Thời phổ thông trung học là những tháng ngày kinh khủng nhất khi cùng lúc phải ngốn ngấu nghiến hơn chục môn học mà mãi khi tốt nghiệp đại học, tôi cũng chẳng biết thời ấy chúng tôi phải học những môn ấy để làm gì. Chúng tôi phải ngồi hàng giờ để học những bài tập hóa tìm chất trong lọ “mất nhãn”; trong khi thực tế tại bất kỳ nơi nào, các lọ mất nhãn đều bị bỏ đi vì tính chất an toàn. Chúng tôi được học vài tháng ròng và vật vã vì con lắc đơn; trong khi thế giới hiện nay gần như chẳng nơi nào còn ứng dụng. 

Chúng tôi miệt mài học từ vựng, viết câu, ngữ pháp ngoại ngữ trong suốt 7 năm trời, và rồi mọi thứ vẫn zero khi một câu sinh ngữ bẻ đôi không đứa nào nghe được, càng không nói được rõ ràng; trong khi trẻ con bản xứ thì được học ngược lại hoàn toàn: phải tập nghe, học nói, rồi đọc, và cuối cùng mới tới giai đoạn viết. Đó là chưa kể các hệ phương trình, bài tích phân, lượng giác… toàn trên trời, có khi thầy tôi – một người cần mẫn và chịu khó – đứng trầm ngâm cả giờ để rồi hẹn lớp bài giải hôm sau. Mãi về sau mới biết, nhiều thứ chúng tôi học từ phổ thông chính là bài học mà các bạn Tây được tiếp cận khi vào đại học.

Đó là lý do tôi không bao giờ ngạc nhiên khi nghe ở bảng xếp hạn toán học và khoa học, Việt Nam luôn nằm trong tốp đầu. Những em học sinh Việt Nam được trau dồi không phải phương pháp mà là kiến thức (mênh mông và vô hạn); được yêu cầu học chứ không phải tò mò tìm hiểu; phải ngước lên (bục giảng) tiếp thu và xem mọi thứ thầy cô nói ra đều là chân lý, chứ không phải “nhìn xuống” (bảng đen) nơi thầy cô truyền thụ niềm đam mê, cảm hứng với một vài gợi ý căn bản để các em tự sức phát huy khả năng như ở phương Tây. Ngay từ tư thế ngồi học các em đã bị rơi vào thế yếu, thế thụ động, thế chịu đựng và chấp nhận những thứ mà thầy cô tự cho là chân lý và yêu cầu các em phải làm theo.

Với các em “gà chọi”, vốn có khả năng nhớ tốt và phản ứng nhanh, các em được đào tạo trở thành “gà chọi” chuyện nghiệp trong các cuộc đấu toán học, khoa học trong nước và quốc tế. Môi trường “luyện thi” khắc nghiệt được tung ra; các em phải học để đấu tranh vì điểm, vì sĩ diện gia đình và trường lớp; vì thứ mà người ta bảo rằng là màu cờ sắc áo; là danh dự… vốn là những thứ quá sức với các em, và chẳng bao giờ các em nắm bắt được hết. Để rồi các em lao vào học điên cuồng cho dù trong đầu mình chẳng có một ý niệm nào về tương lai và niềm đam mê thực sự bùng cháy của bản thân.

Sự tôi rèn một cách “phát xít” và máy móc khiến đa phần học sinh đều rơi vào thế bí. Em nào không có khả năng nhồi nhét kiến thức thì bị thầy cô và bạn bè khinh khi, hoặc giảm sự quan tâm và ưu tiên; trong khi các em có năng lực cũng chỉ biết làm toán, làm toán và làm toán. 

Thế giới luôn vận động và mọi thứ ngoài kia liên tục thay đổi. “Sách vở là thứ được đúc kết từ thực tế, nhưng không bao giờ bắt kịp được mọi thứ đang diễn ra”. Nhưng với cách giáo dục nặng về sách vở và hạn chế tính thực tiễn, bản chất sáng tạo và sự đột phá về tư duy của học sinh đã bị “bẽ gãy”, thậm chí là hủy hoại nghiêm trọng. Nhiều chuyên gia sư phạm hàng đầu thế giới đã không hề tỏ ra nao núng khi bảng xếp hạng thành tích toán học và khoa học của học sinh dưới 15 tuổi ở Việt Nam cao hơn nhiều so với họ. 

Trái lại, họ chỉ ra rằng chương trình dạy khắc nghiệt chính là “liều thuốc độc” khiến Việt Nam tuy hạng cao nhưng chẳng có một giải thưởng Nobel khoa học nào. Ngoại trừ giải thưởng toán học danh giá của GS Ngô Bảo Châu, vốn chẳng phải hưởng thụ toàn diện giáo dục Việt Nam, thì đến nay các giải thưởng mang tính tầm cỡ thế giới có sức ảnh hưởng đến nhân loại vẫn chỉ là những niềm mơ ước xa xỉ với một quốc gia 90 triệu dân có truyền thống hiếu học.

Hãy nhìn cái cách mà trẻ em phương tây được đến các viện bảo tàng để học lịch sử; vào rừng để học môi trường; ra đường để học giao thông; xuống sông học về thủy lợi; ra chợ học về bán buôn… để thấy rằng với giáo dục, triết lý quan trọng bậc nhất chính là phương pháp chứ không phải kiến thức, nhất là khi trong thời đại toàn cầu hóa Internet, kiến thức chỉ là những cái click chuột chưa đầy một giây. Trẻ em Việt được dạy cách giải bài toán A; trong khi phương Tây dạy học trò cách giải dạng toán A.

 Việt Nam dạy trẻ “món hàng này giá bao nhiêu?”, trong khi phương Tây dạy chúng cách xác định “giá trị” của mọi thứ trên đời, để chúng biết đâu là cái cốt lõi của bất kỳ một món hàng nào mà chúng thấy. Phương Tây không bao giờ bỏ trẻ em gặp khó khăn trong chuyện học, trong khi chúng ta chỉ tập trung bồi dưỡng có định hướng từ trên xuống, mà vô hình chung là tạo áp lực cho các em học sinh vốn có tiềm năng. 

Để rồi kết quả là khi người ta liên tục cho ra đời nhiều ý tưởng và các bằng sáng chế, thì người Việt vẫn chỉ cặm cụi làm người thợ làm công; đã vậy còn mắc chứng ganh tỵ nhau khi thấy người khác lao động có chút thành quả. Suy cho cùng cũng xuất phát từ nền giáo dục trọng thành tích, danh dự, sĩ diện và tên tuổi vốn chẳng thể nuôi được những cái đầu có khả năng bứt phá phi thường.


__._,_.___

Posted by: truc nguyen 

Saturday, 13 June 2015

Trí thức NGUYỄN MẠNH TƯỜNG.... NHỮNG BÀI HỌC ĐỂ ĐỜI 1



---------- Forwarded message ----------
From: Nghia Nguyen





NHỮNG BÀI HỌC ĐỂ ĐỜI

1.
 Trí thức NGUYỄN MẠNH TƯỜNG
Nói tới tên ông, nhiều người Việt nghĩ ngay tới việc ông đỗ hai bằng tiến sĩ, Văn và Luật tại Montpellier, Pháp trong một năm, lúc mới 23 tuổi. Ngoài ra, người ta không nhớ ông đã làm được công nghiệp gì tương xứng với tài năng và công lao học tập ! 

Điều đó không có chi lạ. Ông đã theo “Hồ tặc” đi kháng chiến, và kể từ lúc ấy, đời ông kể như đã đi vào ngõ cụt. Đã có quá nhiều sách báo nói về ông Nguyễn Mạnh Tường và những tháng ngày thê thảm của ông và gia đình ông, dù bản thân ông chưa phải là trái chanh đã hết nước trong tay Cộng. Nếu không đọc cuốn sách Un Excommunié do chính ông viết, chúng ta khó tưởng tượng ông “lưỡng khoa tiến sĩ” này lại bị đau nhục dưới tay “vượn người” như thế ! Nhưng vì đâu nên nỗi ?

Hoàn cảnh lịch sử ? Lòng yêu nước, hay sự bịp bợm của cộng sản đã đưa ông vào thảm trạng ?

Năm 1936, cậu thanh niên 27 tuổi, với hai bằng tiến sĩ từ mẫu quốc hồi hương, tương lai sáng rỡ như mặt trăng mặt trời. Cậu trở thành giáo sư trường Lycée du Protectorat tức trường Bưởi, rồi cậu mở văn phòng luật sư tại hai biệt thự tại thủ đô Hà Nội. Khi cộng sản cướp chính quyền, cậu hào hứng hiến luôn cả hai biệt thự cho nhà nước. Kháng chiến bùng nổ, cậu không ngại gian lao, xách khăn gói vào Khu Tư, tức Thanh Hóa theo “Bác.”
Chiến tranh tạm ngừng năm 1954, nhà trí thức lúc ấy đã mỏi mệt vì những điều tai nghe, mắt thấy về Đảng và “bác”, nhưng cổ đã vướng tròng, khó bề thoát ra. 

Trở về Hà Nội, ông được cộng sản ấn vào tay một lô chức tước “phó”, vô danh và… vô thực luôn: Phó chủ tịch Hội Luật Gia Việt Nam, phó Trưởng khoa Đại Học Sư Phạm, thành viên Hội Hữu Nghị Việt-Xô, v…v..

“Đó là các chức vụ hoàn toàn có tính cách lễ nghi, không hiệu năng mà cũng chằng có thực quyền, đó là những chức vụ mà tôi chỉ là kẻ dư thừa”.
Năm 1956, có phong trào Đòi tự do, dân chủ của các báo Nhân Văn, Giai Phẩm. Báo Nhân Văn đăng bài phỏng vấn ông Nguyễn Mạnh Tường. Ông vạch trần tính chất phản dân hại nước của cộng sản:
“Đảng Viên đảng Lao Động và cán bộ thi hành chính sách thiếu tính thần dân chủ, xa lìa quần chúng, tạo ra tình trạng đối lập quần chúng với mình… ”
Dĩ nhiên, ông cũng còn tin cộng sản có thể sửa đổi được, và ông đề nghị những biện pháp sửa đổi ! Ngày nay, dù đã có một tay cộng sản gộc, chính tông, là Boris Yelsin bỏ đảng và tuyên bố

“Cộng Sản không thể sửa đổi ”
Nhiều ông trí thức của ta vẫn tin rằng có thể dùng kiến nghị, thư ngỏ… để thay đổi chính sách của Cộng sản. Cộng sản dĩ nhiên không thèm đếm xỉa gì đến những đề nghị của ông Tường; nhưng lãnh đạo Cộng sản lại dương những con mắt cú vọ quan sát, nhằm “chiếu tướng” ông trí thức. Ngày 30 tháng 10 năm 1956, ông luật sư, giáo sư, kiêm luôn bao nhiêu chức Phó và Thành viên các hội, đọc một bài diễn văn tại cái gọi là Mặt Trận Tổ Quốc, phân tích những khốc hại đẫm máu của việc Cải Cách Ruộng Đất, và đề ra phương hướng để tránh mắc lại! 

Ông Trí thức lúc ấy chắc vẫn tin là cộng sản mắc “sai lầm”, chứ không phải là chúng chủ tâm và tỉ mỉ hoạch định đủ phương kế để giết người và cướp đất ruộng. Sau bài diễn văn với những đề nghị này, nọ của ông, dây thừng quanh cổ ông được cộng sản xiết chặt lại. Bao nhiêu chức tước vớ vẩn của ông được gỡ sạch. 

Ông bị đưa ra đấu tố tại trường Đại Học cho học trò ông xỉ vả, mắng mỏ; ông bị ra trước Mặt Trận Tổ Quốc để các “đồng chí” của ông đấu đá. Ông bị các đảng viên đảng Xã Hội, một đảng bù nhìn do cộng sản nặn ra để trang trí cho chế độ, đấu tố ông lần chót. Ông chống trả rất can trường, với lập luận sắc bén của một luật sư có tài. Nhưng rồi ông đau khổ nhận rằng:
“Con cừu thì không thể lý luận với một con chó sói”.

Số phận ông đã được Cộng đảng quyết định: Bỏ cho chết đói giữa một sa mạc hận thù không lối thoát. 

Ông than thở
“Tôi đã là kẻ lữ hành trong chuyến đi qua sa mạc kéo dài từ năm 1958 đến năm 1990, hơn ba mươi năm dài đằng đẵng ! Chìm trong vùng cát của sa mạc tuyệt vọng làm cạn khô dòng nước mắt, tôi đã lê tấm thân bị tra tấn bởi thiếu thốn cô đơn với quả tim rướm máu bởi nỗi buồn chua cay và vị đắng của mật !” Trong ba mươi năm dài ấy, nhà trí thức sống ra sao ?

Ông kể lại:
“Trước tiên, loại bỏ ngay buổi ăn sáng, một thói quen xa hoa của những người tư sản. Tiếp đến, cá thịt từ từ biến mất trong những buổi ăn trưa và tố́i. Khẩu phần cơm rau mỗi ngày một ít đi, và đến lúc mỗi ngày chúng tôi chỉ có một bát cháo để ăn. Vợ và con gái tôi ốm đi trông thấy. Bao nhiêu sáng láng đã biến mất trên khuôn mặt dài ra vì ốm đói”.

Trong cơn khốn cùng như thế, gia đình ông Tiến sĩ “may mắn” có được một con gà mái “mắn đẻ một cách đáng ngạc nhiên ”. Mỗi ngày con gà cho một cái trứng, và mỗi người trong gia đình thay phiên nhau hưởng. Muốn cho gà đẻ trứng, thì phải cho nó ăn. Khốn nỗi người còn sắp chết đói, lấy đâu gạo, bắp cho gà ! 

Nhà trí thức ‘phát huy sáng kiến’:
“mỗi ngày, vào lúc hoàng hôn, khi chợ đã vắng người mua bán, tôi lượn quanh để lén nhặt những mảnh rau vụn, tránh không để người qua đường nhìn thấy, mang về nuôi nó”

Thê thảm không còn gì để nói ! Nhưng con gà, dù mắn đẻ, tất cũng không nuôi sống nổi cả gia đình của ông tiến sĩ. Ông phải đau khổ, năn nỉ những kẻ có tiền để họ mua những thứ ông có thể vơ vét ở trong nhà: sách vở, quần áo của ông, son phấn, tóc giả của bà, muỗng nĩa trong bếp… Giống hệt tình cảnh của toàn dân miền Nam năm 1975 khi được CS Hanoi “giải phóng.” Ba mươi năm vật lộn mỏi mòn, chỉ để khỏi chết đói !

Cộng sản đã trả công cho sự nhiệt thành và công lao hạn mã của ông bằng cái đói và nhục. Nhiệt thành, say sưa, vì khi Cộng mới nổi lên, ông đã đem tất cả nhà cửa hiến dâng cho đảng. Công lao hãn mã, vì ông đã lặn lội sang tận thủ đô Bruxelles của Bỉ, năm 1956, đem tài hùng biện, chứng minh với Hiệp Hội Luật Gia Dân Chủ thế giới, là Bắc cộng có “chính nghĩa” khi dùng súng đạn để “giải phóng miền Nam ”. 

Nhưng xem tư cách và sự phản ứng can trường của ông trong suốt 30 năm bị Cộng mưu dìm cho chết, chúng ta ngậm ngùi thương ông hơn là oán giận. Ông đã lạc đường vào lịch sử và bị vây bọc trong hoàn cảnh khó khăn. Không khuất phục được ông, bọn Cộng vô học ghen, tức, đầy đọa và hạ nhục ông.

So sánh với những anh “trí thức” hải ngọai ngày nay, từng kinh hoàng bỏ chạy khi cộng sản tới, lại được chứng kiến sự tan rã tận gốc của cái chủ thuyết giết người tàn độc, mà vẫn xun xoe đưa đầu cho cộng sai khiến, chúng ta phải kinh ngạc về sự “khả úy” của các “trí thức” hậu sinh. Ông Nguyễn Mạnh Tường có lẽ đã trả được mối thù với bọn việt cộng bằng cách mô tả sự tàn độc của chúng trong hai cuốn Hồi Ký mà ông để lại cho đời.
Ông đã thảnh thơi từ giã cuộc đời ngày 13 tháng 6 năm 1997.

2. Trí thức DƯƠNG QUỲNH HOA
Bà Dương Quỳnh Hoa sinh trưởng trong tầng lớp thượng lưu của xã hội Việt Nam. Bà theo học y khoa tại Saigon rồi sang Pháp năm 1948 học tiếp và đỗ bác sĩ năm 1953. Ăn phải bả Cộng sản, bà liên lạc với Cộng sản Pháp, gia nhập Cộng đảng vào cuối thập niên 1950 và hoạt động cho Cộng trong thời gian ở Pháp từ 1948 đến 1954. Sau 1954, bà về Saigon nằm vùng và do thám cho Cộng. 

Năm 1960, được bọn Bắc cộng giựt dây, bọn theo Cộng miền Nam thành lập Mặt Trận Giải Phóng. Bà Hoa là một sáng lập viên của cái Mặt Trận này. Năm 1968, sau vụ đại bại của cộng quân, mụ cùng chồng trốn ra bưng với Việt cộng, và được cho làm Bộ Trưởng Y Tế. Trong thời gian ở trong bưng, đứa con trai nhỏ của mụ đã chết vì bệnh sưng màng não. Chồng bà là Huỳnh Văn Nghị được Cộng dụ dỗ cho nhập Đảng; nhưng ông Nghị nhận rõ bộ mặt thật của bọn giải phóng, nên tìm cách khước từ “vinh dự” đó. Năm 1975, sau khi chiếm được Miền Nam, bọn Bắc Cộng ra tay xóa sổ cái Mặt Trận Giải Phóng.

Những anh chị trót bán linh hồn cho quỷ trong Mặt Trận, như các anh Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Trương Như Tảng… và bọn lủng lẳng đứng giữa như Nguyễn Ngọc Lan, Chân Tín, Lý Quý Chung, Lý Chánh Trung… đều vỡ mặt, tẽn tò như một lũ con nít bị lừa không được ăn kẹo ! Chính bà Hoa sau này đã thú nhận việc đi theo Cộng là một ảo tưởng chính trị trong đời bà. Ngày 17 tháng 10 năm 1996, khi được tờ báo Far Eastern Economic Review phỏng vấn:
“ Quel est l’évenement le plus marquant pendant les 50 années passées ?”

Bà trả lời:
“L’effondement du mur de Berlin qui a mis un terme à la “grande illusion”
dịch tạm: Biến cố nào được kể là nổi bật nhất trong 50 năm qua ?
Bà DQH: "Đó là sự sụp đổ bức tường Bá Linh và chấm dứt một “ảo tưởng lớn ”

Khi được Stanley Karnow phỏng vấn về sự thất bại của cộng sản Việt nam, bà nói:
“Tôi đã là người cộng sản cả đời tôi. Nhưng bây giờ khi chứng kiến những sự thật về chủ nghĩa cộng sản và sự thất bại của nó, quản trị kém, tham nhũng, đặc quyền, áp chế, lý tưởng của tôi đa hết”.[I have been a communist all my life, but now I’ve seen the realities of Communist, and it is a failure - mismanagement, corruption, repression. 

My ideals are gone”]
Cuối thập niên 1970, bà nói với Nguyễn Hữu Thọ:
“Tôi và anh chỉ là những kẻ bù nhìn, là những món đồ trang sức rẻ tiền. Chúng ta không thể nào phục vụ một chế độ thiếu dân chủ và không luật lệ.”

Khi được phỏng vấn về bọn lãnh đạo Việt cộng, bà lạnh lùng trả lời:
“Đó là những kẻ ngu si đần độn, bởi vì họ là cộng sản”.
Trong những câu bà Hoa nói trên, chúng ta nên chú ý đến câu
“Nhưng bây giờ khi chứng kiến những sự thật về chủ nghĩa cộng sản…”

Đó chính là một lời thú nhận là:
dù học hành nhiều như bà, được sống trong một nước tự do như nước Pháp, có thừa phương tiện tìm hiểu, nghiên cứu, bà đã không biết gì về chủ nghĩa cộng sản !

Ngày 25/2/2006, người nữ cán bộ cộng sản đã góp công không nhỏ cho cộng sản đặt cái ách khốn cùng trên đầu đồng bào của bà, lặng lẽ bị các oan hồn chết vì giặc cộng, đưa về trước Diêm Vương để nghe phán xét tội lỗi. Cái bạo quyền bà đã hy sinh hết tuổi thanh xuân và tài năng để dựng nên nó, không có được một lời nói về bà. Mang “ảo tưởng ”, tự hiến mình làm “bù nhìn, đồ trang sức rẻ tiền ”, “ không biết sự thật về cộng sản mà vẫn theo chúng” thì kết quả đương nhiên chỉ có như thế !

Các vị trí thức tiền bối như Nguyễn Mạnh Tường, Dương Quỳnh Hoa, do hoàn cảnh lịch sử hoặc do sai lầm nhất thời, đã có lúc theo Cộng hay thân Cộng. Nhưng khi nhận rõ bộ mặt phản dân hại nước của Cộng sản, họ đã có phản ứng quyết liệt. Trí thức Nguyễn Manh Tường đã dõng dạc tuyên bố:
“ Tôi không hề tham gia mặt trận Việt Minh. Bao giờ tôi cũng là một người yêu nước, luôn luôn ưu tư đến việc giành lại độc lập cho đất nước. Tuy nhiên tôi tự xác định cho mình một vị trí là làm một người trí thức. Mà người trí thức, muốn độc lập, thì không nên tham chính. Người trí thức phải đứng về phía nhân dân, chứ không đứng về phía nhà cầm quyền.”

Ông cũng đã can đảm nhận chịu 30 năm đọa đầy thê thảm chứ không đầu hàng Cộng. Khi thoát khỏi sự kiềm chế của Cộng sản, ông đã viết hai cuốn sách:
(1) Un Excommunié – http://www.ethongluan.org/ và
(2) Une Voix Dans La Nuit  http://vi.rfi.fr/vi%C3%AAtnam/20110918-plan-vii-nguyenmanh-tuong-tieu-thuyet-une-voix-dans-la-nuit-ii-van-de-tri-thuc-v/ bày tỏ lập trường của trí thức, và mô tả sự xấu xa tàn độc của Cộng sản. 

Cuốn Une Voix Dans La Nuit [chưa xuất bản, được bà Thụy Khuê trích dẫn và bình luận trong Website của RFI] viết về về sự thiết lập chế độ ác ôn Cộng sản ở Việt Nam. Ông viết xong vào năm 1993, lúc đã 85 tuổi, chứng tỏ ông trí thức vẫn nặng lòng vì đất nước. Bà Dương Quỳnh Hoacũng dứt khoát vứt bỏ mọi ưu tiên mà chế độ dành cho bà, để quay về vị trí của người trí thức.

Những trí thức nói trên, nhất là tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tường, vẫn còn lưu lại trong lòng chúng ta sự ngậm ngùi thương tiếc.


__._,_.___

Posted by: truc nguyen 

Thursday, 11 June 2015

'Nói dân trí thấp là một sai lầm'


'Nói dân trí thấp là một sai lầm'

  • 6 giờ trước
http://ichef.bbci.co.uk/news/ws/660/amz/worldservice/live/assets/images/2015/06/07/150607161516_ha_minh_hue_640x360_quochoi.vn.jpg
Đại biểu Quốc hội Hà Minh Huệ, Phó Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam, trong một lần phát biểu tại Quốc hội Việt Nam.
 
Quan chức Việt Nam nào nói rằng người dân Việt Nam 'dân trí thấp', thì đó là 'một sai lầm', theo ý kiến của một nhà quan sát, bình luận từ trong nước.

Gần đây, trong một phiên họp của Quốc hội Việt Nam vào ngày 4/6/2015, một Đại biểu là Phó Chủ tịch Hội nhà báo Việt Nam đưa ra một nhận định cho rằng vì 'dân trí thấp', nên Việt Nam chưa nên có luật 'Trưng cầu dân ý'.

Hôm thứ Tư, Đại biểu Hà Minh Huệ nói trước Quốc hội Việt Nam:
"Dân chủ của ta có hạn, dân trí còn rất thấp, số người dân trí cao là thiểu số, trưng cầu (dân ý) có khi gây hại, không thể tùy tiện."

'Rất là sai lầm'

Bình luận về quan điểm này, hôm Chủ nhật 07/6, nhà báo tự do Trần Tiến Đức, nguyên Vụ trưởng Ủy ban Dân số & Kế hoạch hóa Gia đình của Việt Nam, nguyên nhà báo thuộc ban Khoa giáo Đài truyền hình Việt Nam (VTV), nói:

"Vậy thì trong 70 năm sống dưới thể chế này và đặc biệt 40 năm kể từ ngày chiến tranh kết thúc, thì nhà nước đã làm những gì để cho dân trí nâng lên?
"Và nếu bây giờ anh còn chê dân trí còn thấp, chứng tỏ là anh chưa làm được gì và chứng tỏ là anh cũng không quan tâm đến việc nâng cao dân trí của người dân.

"Nhưng mà tôi nói rằng, đấy là một nhận định rất là sai lầm.
"Tức là 'dân trí thấp' là một nhận định sai lầm của những người mà có chức có quyền."

Đưa ra một so sánh với thời mà thân phụ của ông Trần Tiến Đức, bác sỹ Trần Duy Hưng còn làm Thị trưởng Thành phố Hà Nội, hơn 60 năm về trước, nhà báo tự do nói:
"Lúc bấy giờ không ai dám nói, chê người dân là dốt nát đâu. Có (thể có) một số quan chức trong bụng người ta nghĩ thế, nhưng phát biểu công khai thì không ai dám miệt thị người dân, coi người dân là lạc hậu kém hiểu biết."

Điều mà ông ấy nói dân chủ hạn chế thì đó là đúng. Thực chất ở Việt Nam chúng ta đều biết rằng dân chủ còn rất nhiều hạn chế. Nhưng mà gọi rằng dân trí thấp để mà hạn chế quyền dân chủ, thì (điều) đó tôi nghĩ rằng đó là một sự hồ đồ Nhà báo Trần Tiến Đức

Bình luận về câu nói của ông Hà Minh Huệ được truyền thông Việt Nam trích dẫn, nhà báo Trần Tiến Đức nói tiếp:
"Điều mà ông ấy nói dân chủ hạn chế thì đó là đúng. Thực chất ở Việt Nam chúng ta đều biết rằng dân chủ còn rất nhiều hạn chế.

"Nhưng mà gọi rằng dân trí thấp để mà hạn chế quyền dân chủ, thì (điều) đó tôi nghĩ rằng đó là một sự hồ đồ.
"Và ở bên này (Việt Nam), dư luận trong nhân dân, đặc biệt trong giới trí thức, đều nói rằng hiện này chính là có khoảng cách rất lớn giữa dân trí và quan trí.

"Dân trí đã phát triển rất nhiều, và có rất nhiều điều người ta (người dân) đã học hỏi được, đã tiếp thu được từ nền văn minh của thế giới và từ truyền thống của đất nước này," ông Trần Tiến Đức nói với BBC.

Hôm thứ Năm, 4/6, khi được một tờ báo mạng trong nước đặt câu hỏi "Ông đánh giá thế nào trình độ dân trí của chúng ta hiện nay?", Đại biểu Hà Minh Huệ, tiếp tục bảo vệ quan điểm của mình đã nêu trước Quốc hội Việt Nam một ngày trước đó.
Ông nói với tờ báo điện tử VTC News:
"Nước ta đang phát triển mọi mặt, trình độ dân trí tăng lên, nhưng trình độ thực hiện dân chủ chưa có đủ kinh nghiệm để làm, nên tôi đề nghị làm việc gì cũng hết sức thận trọng, đặc biệt là vấn đề trưng cầu dân ý.
http://ichef.bbci.co.uk/news/ws/624/amz/worldservice/live/assets/images/2015/02/15/150215132438_hangout_640x360_bbc_nocredit.jpg
Tiến sỹ Phạm Thị Loan, nguyên Đại biểu Quốc hội Việt Nam, e rằng người dân Việt Nam sẽ 'không ủng hộ' Đại biểu nào có những phát ngôn và tư duy như vậy. 

"Các thế lực thù địch bên ngoài sẽ thúc đẩy trưng cầu dân ý, và khi có 1 vấn đề cần trưng cầu dân ý mà họ xúi giục người dân thì chúng ta phải làm như thế nào giải quyết những vấn đề đó?
"Đây là những vấn đề cần phải hết sức thận trọng khi xây dựng Luật này," ông Hà Minh Huệ nói với truyền thông Việt Nam.

'Phải xem lại thật'

Hôm 07/6, khi được đề nghị bình luận về phát biểu và quan điểm của ông Hà Minh Huệ, trước câu hỏi liệu Đại biểu Quốc hội Việt Nam nào mà còn có tư duy và những phát biểu được cho là 'miệt thị', 'xúc phạm' người dân, thì có nên bị xem lại tư cách hay không, Tiến sỹ Phạm Thị Loan, nguyên Đại biểu Quốc hội Việt Nam, nói:
"Có những người người ta cũng không nghĩ xa cho nên có thể có những phát ngôn không được chính xác.]
"Nhưng mà nói xem lại tư cách cụ thể nào đấy, thì tôi nói thật là cũng phải xem lại nhiều.
"Bởi vì nói thật trong việc bầu bán của mình (Quốc hội Việt Nam), nhiều khi chẳng phải là tuyệt đối đâu.]]

Tất nhiên mình cấm người ta (quan chức, dân biểu) thì chẳng cấm được. Bởi vì là mỗi người một ý thôi, mình cấm thì mình không cấm được. Nhưng mà tất nhiên những người ấy tất cả người dân người ta sẽ không ủng hộ và cũng phải xem lại thật Tiến sỹ Phạm Thị Loan
"Có nhiều người vào để cho đủ thành phần, hoặc là vào theo kiểu sắp xếp, cho nên có phải như ở những nước khác, như Quốc hội của người ta là người ta bầu một cách chọn lọc rất kỹ lưỡng và rất chất lượng.

"Còn ở mình, nói thật nhiều khi đó là sự sắp xếp, đó là sự 'thành phần', rồi những đối tượng được sắp xếp, cho nên cái đấy tôi biết thì biết rõ, nhưng mà nói thì tôi không muốn nói nhiều, nhưng chất lượng (dân biểu) của mình cực kỳ hạn chế như vậy."
Trước câu hỏi liệu Quốc hội Việt Nam cần ban bố một đạo luật 'cấm' hoặc 'không cho phép' quan chức, kể cả Đại biểu Quốc hội, có những lời lẽ, hành vi có tính 'miệt thị', 'thóa mạ', 'coi thường' người dân hay không, nữ cựu Đại biểu Quốc hội nói:

"Tôi cũng đồng tình với ý là đừng có miệt thị dân, bởi vì dân trí đừng có vơ đũa cả nắm mà nói là 'dân trí thấp'.
"Thực ra trong số dân trí thì cũng có người cao, cũng có người thấp, nhưng mà mình vơ đũa cả nắm để rồi biện minh cho những việc mà không muốn làm thì không nên.
"Còn tất nhiên mình cấm người ta (quan chức, dân biểu) thì chẳng cấm được.

"Bởi vì là mỗi người một ý thôi, mình cấm thì mình không cấm được.

"Nhưng mà tất nhiên những người ấy tất cả người dân người ta sẽ không ủng hộ và cũng phải xem lại thật," bà Phạm Thị Loan nói với BBC.

__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh 

Popular Posts

Popular Posts