Đại Học chăn Trâu




Sunday, 16 April 2017

Tại sao không nên dùng chữ Trung Quốc?


.....Thật ra, tên Khổng Khâu này chỉ là một kẻ bồi bút cho bọn cầm quyền vào thời bấy giờ. 

Chẳng khác nào Tố Hữu, Cù Huy Cận, Chế Lan Viên, Xuân Diệu sau này của Việt cộng. Và hiện nay, để áp đặt ách nô lệ này, giặc Bắc ra lệnh cho bọn tay sai Việt cộng thành lập viện Khổng Tử tại Hà Nội để bắt dân Việt thờ lạy như ngày trước trong thời đại phong kiến gọi là Văn Miếu.

Những người Việt mang nặng tinh thần nô lệ nên cứ mãi bị giặc Bắc lừa gạt mà tôn thờ tên bồi bút này là bậc thầy muôn đời (vạn thế sư biểu). Hãy để cho những người này thỏa mãn kiếp nô lệ và
 thờ Tàu của họ. Nhưng chúng ta, những người Việt biết tự trọng và có tinh thần dân tộc, không nên làm điều này. 

Không những thế, mỗi người nên có trách nhiệm đối với dân tộc và tổ quốc

From:



Tại sao không nên dùng chữ Trung Quốc?
Author: Trần Đức Dũng
Posted on: 2017-04-14
 Image result for Tại sao không nên dùng chữ Trung Quốc?
Bản đồ cổ của Trung Cộng 2000 năm trước
.
Khởi đầu, những bộ tộc nhỏ sống trên vùng đồng bằng giữa hai dòng sông; Hoàng Hà phía bắc và Dương Tử phía nam, gọi nơi này là Trung Nguyên. Tức vùng bình nguyên giữa hai con sông. Trung là ở giữa. Nguyên là cánh đồng. Cho nên chữ Trung Nguyên chỉ có nghĩa là cánh đồng giữa hai dòng sông.
Hai chữ Trung Nguyên quá mơ hồ không rõ ràng, cho cả vùng rộng lớn. Trong vùng này có một địa phương, khá đông dân cư, gọi là Hoa Âm (thuộc địa phận tỉnh Hoa Nam hiện nay), nên còn được gọi là Trung Hoa. Từ đó hai chữ Trung Nguyên hay Trung Hoa thường được dùng lẫn lộn. Để phân biệt với Bắc Mạc, tức vùng sa mạc phía bắc sông Hoàng Hà, họ gọi là Trung Nguyên. Để phân biệt với Lĩnh Nam, tức vùng đồng bằng phía nam sông Dương Tử, họ gọi là Trung Hoa.
Thế rồi, qua nhiều thời kỳ, các kẻ nắm quyền cai trị tự vẽ vời ra đủ điều để sơn phết cho hai chữ Trung Hoa nhằm đánh bóng thân thế đối với các xứ lân cận.

Image result for Tại sao không nên dùng chữ Trung Quốc?
Lúc này, bọn cầm quyền bắt tên bồi bút Khổng Khâu, mà người Việt thường gọi là Khổng Tử, vẽ vời cho rằng Trung là ở giữa, Hoa là có văn hóa. Ý muốn tôn xưng rằng chỉ có nơi đây mới là trung tâm văn hóa của con người. Một loại “đỉnh cao trí tuệ” của thế giới vào thời bấy giờ. Vì thế họ gọi những dân tộc sống vùng chung quanh là súc vật như: Nam Man (chó); Bắc Địch (sâu); Đông Di (rắn); Tây Nhung (khỉ). Cũng bởi ngu si và đầu óc bán khai, kém tiến hóa, nên họ không hề biết rằng gọi như thế tự chính họ còn thua cả súc vật. Kẻ ngu si thường mắc phải căn bệnh hoang tưởng này để giải tỏa ẩn ức tâm lý hèn kém, mà cho đến nay chúng ta vẫn còn nhận thấy.
Thật ra, tên họ Khổng xứ Lỗ (nay thuộc tỉnh Sơn Đông) nhận lệnh đi ăn cắp văn hóa của phương Nam, tức của dân Bách Việt, rồi đem về xào nấu, nên hắn ta chỉ dám gọi là đồ ăn cắp chứ không phải tự tay tạo ra (thuật nhi bất tác). Bán khai đến độ, hắn ta cũng không hề biết và cho rằng trà và lúa của dân Bách Việt phía nam sông Dương Tử đang dùng là kỳ lạ và chẳng phải là những món ăn uống mà kẻ có văn hóa nên dùng. Thế nhưng sau khi uống thử rồi thấy ngon thấy ghiền. Cái tài lưu manh của kẻ ăn cắp luôn là tẩy xóa hết dấu vết cũ rồi cho là của mình. Để bây giờ cả thế giới, ngay người Việt cũng tin chắc rằng trà phát xuất từ Tàu. Cũng theo lệnh trên, tên bồi bút họ Khổng này đưa ra những thuyết ma mỵ để đặt ách nô lệ lên đầu người dân như; thuyết thìên mệnh, ngũ thường, và trung quân ái quốc, vân vân.
Con trời, gì mà bị kẻ khác soán ngôi tàn sát thẳng tay không chừa một mống. Ngũ thường gì mà trong cung đình, con giết cha để cướp ngôi, hai cha con cùng lấy một vợ, con cướp vợ của cha rồi loạn luân, chém giết, tàn sát lẫn nhau lẫn nhau đủ kiểu. Thế nhưng chúng bắt mọi người dân phải trung thành với kẻ cai trị mới gọi là yêu nước. Điều này chẳng khác gì hiện nay bọn giặc cộng cố tình nhét vào đầu người dân Việt câu “yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội.”

Thật ra, tên Khổng Khâu này chỉ là một kẻ bồi bút cho bọn cầm quyền vào thời bấy giờ. Chẳng khác nào Tố Hữu, Cù Huy Cận, Chế Lan Viên, Xuân Diệu sau này của Việt cộng. Và hiện nay, để áp đặt ách nô lệ này, giặc Bắc ra lệnh cho bọn tay sai Việt cộng thành lập viện Khổng Tử tại Hà Nội để bắt dân Việt thờ lạy như ngày trước trong thời đại phong kiến gọi là Văn Miếu.
Những người Việt mang nặng tinh thần nô lệ nên cứ mãi bị giặc Bắc lừa gạt mà tôn thờ tên bồi bút này là bậc thầy muôn đời (vạn thế sư biểu). Hãy để cho những người này thỏa mãn kiếp nô lệ và thờ Tàu của họ. Nhưng chúng ta, những người Việt biết tự trọng và có tinh thần dân tộc, không nên làm điều này. Không những thế, mỗi người nên có trách nhiệm đối với dân tộc và tổ quốc. Nghĩa là khi nghe người khác hiểu sai nói sai, chúng ta nên trình bày, giải thích cho họ hiểu rõ sự việc. Cùng giúp nhau hiểu rõ vấn đề, thì không có gì phải ngần ngại, hay lo sợ cả. Mà đây lại là vấn đề sống còn của cả một dân tộc. Đây là trách nhiệm của mọi người Việt, không riêng gì ai cả. Mọi người dân đều hiểu rõ tức là dân trí được nâng cao. Sự hiểu biết của người dân càng nhiều, bọn Việt cộng càng lo sợ. Điều này ai cũng hiểu cả.

Để áp đặt tinh thần nô lệ và phong kiến trở lại, kẻ cầm quyền Việt cộng đang âm thầm đem các từ ngữ mang nặng tính thần quan liêu phong kiến, vào đầu người Việt như: quan chức, ngài. Người Việt sống tại Miền Nam trước năm 1975 sẽ dễ dàng nhận ra điều này. Danh từ quan chức hoàn toàn không có trong ngôn ngữ Miền Nam. Thay vào đó, là nhân viên, hay viên chức chính quyền. Hoàn toàn không có chữ quan trong đầu người dân sống dưới chế độ tự do dân chủ Việt Nam Cộng Hòa. Danh từ ngài, chỉ dùng cho các đấng tối cao, giáo chủ trong tôn giáo. Trường hợp ngôi thứ hai trong văn bản, thì chỉ là: “Thưa tổng thống.” Không bao giờ có hình ảnh của kẻ nô lệ cúi đầu khuất phục như trong câu: “Kính thưa ngài thủ tướng,” như hiện nay trong xã hội cộng sản. Nêu ra điều này để mọi người cùng nhận ra rằng, qua ngôn ngữ, Việt cộng đã cố tình đưa người dân Việt trở về thời kỳ quan liêu phong kiến và nô lệ cũ.
Từ xưa, Trung Nguyên này là nơi tranh giành quyền lực tự do và được xem là vườn hưu hoang không có chủ. Kẻ nào giành được thì mặc sức mà cai trị. Và họ cũng chẳng có khái niệm gì về quốc gia dân tộc. Kẻ nắm quyền cai trị luôn có tham vọng bành trướng và xâm chiếm các nước chung quanh. Thời kỳ Chiến Quốc là một thí dụ điển hình lịch sử về sự tranh giành quyền lực nơi vườn hưu hoang này. Với tinh thần đó, và nhằm trấn áp người dân để cai trị nên kẻ nào lên nắm quyền cũng tự xưng mình là con trời, là lớn, là đại. Như Đại Chu, Đại Tần, Đại Hán, Đại Đường, Đại Tống, Đại Nguyên, Đại Minh, Đại Thanh. Đại sau thẳng tay tàn sát tiêu diệt đại trước. Và đại cuối cùng thì bị tám cường quốc Tây phương cùng nhau xẻ thịt. Nên thực tế chẳng có ma nào là đại cả.

Cho nên người Tàu chỉ có khái niệm về triều đại chứ không biết thế nào là dân tộc và tổ quốc. Điều này còn hiện rõ trong nếp sinh hoạt của người Tàu hiện nay nơi hải ngoại. Thí dụ; Tàu Hồng Kông, Tàu Singapore, Tàu Đài Loan, Tàu Phúc Kiến, Tàu Quảng Đông, Tàu Mã Lai, vân vân. Không Tàu nào chịu chơi chung với Tàu khác cả. Bởi điều dễ hiểu, trong đầu người dân đến cả kẻ nắm quyền cai trị, không có dân tộc Tàu, không có dân tộc Trung Hoa, hay Trung Quốc. Bởi thế, để thực hiện Bước Tiến Nhảy Vọt, dùng lương thực của Tàu đổi lấy kỹ thuật của các nước cộng sản Đông Âu, Mao Trạch Đông sẵn sàng cho 17 triệu người Tàu chết đói mà chẳng hề bận tâm.
Chữ triều có nghĩa là nhiều lượn sóng có ngọn gập đầu xuống cùng nhau chạy về một hướng, là tấp vào bờ, như thủy triều, hải triều. Từ đó, bọn cai trị dùng chữ triều mang ý nghĩa cùng khoanh tay cúi đầu chầu và hướng về. Bởi vậy trên trang phục chúng luôn cho thêu nhiều lượn sóng cuốn gục đầu trên áo quần các quan lại, hoặc các nơi như sảnh đường xử án. Và khi gặp nhau, kẻ dưới phải khoanh tay và cúi đầu theo đúng hình ảnh của chữ triều đã thêu trên quần áo, và hiện hữu khắp nơi qua tranh ảnh, chạm khắc. Nói theo ngôn ngữ trong khoa Tâm Lý Học, đó là những kỹ thuật khống chế tư tưởng (mind control) vô cùng tinh vi và ma quỷ.

Triều cống nghĩa là cúi đầu dâng nộp phẩm vật quý giá lên cho ông chủ. Triều đình là cái sân để cả đám quan lại đứng khoanh tay cúi đầu chầu về ông vua ngồi trên cao. Triều đại có ý nghĩa nguyên thủy là khoanh tay cuối đầu hướng về ông chủ lớn. Những chữ này, thể hiện tinh thần ngạo mạn, tham vọng quyền lực, luôn bắt các nước nhỏ xung quanh phải quy phục kẻ cai trị ngồi ở giữa. Các chữ Trung Hoa hay Trung Quốc cũng mang tinh thần ngu xuẩn nhưng ngạo mạn này. Ngày nay với kiến thức về địa dư thế giới, mọi người Việt đều biết rõ xứ này chẳng có gì để tự xưng là Nước Ở Giữa cả. Thế nhưng nhiều người Việt vẫn đang chấp nhận điều này qua ngôn ngữ. Đây là biểu hiện của một kiến thức kém cõi và nặng tinh thần nô lệ.
Người Việt, sống trên vùng đất phía nam sông Dương Tử, từ vùng núi Ngũ Lĩnh và hồ Động Đình trở về nam, nên gọi là xứ Lĩnh Nam. Họ vẫn luôn biết mình là dân tộc Bách Việt. Để chống lại ý tưởng bá chủ, hống hách của những kẻ phương Bắc, và quyết tâm giữ vững tinh thần tự chủ và độc lập, người Việt luôn nêu cao tinh thần Đại Việt, Đại Nam qua mọi thời kỳ lịch sử.
Lưu Bang, một tên thôn trưởng lưu manh sống bên dòng sông Hán Thủy, cướp công Hạng Võ, diệt Tần lên nắm quyền cai trị (256 trước TL). Để thành lập triều đại, Lưu Bang lấy chữ Hán từ tên con sông rồi gọi là Triều Hán, và tự xưng là Đại Hán. Sự cai trị của dòng họ lưu manh này kéo dài suốt 400 năm, nên hai chữ đại hán đã ăn sâu vào đầu của nhiều thế hệ dân cư trong vùng. Để sống còn, tránh cảnh bị tàn sát và tiêu diệt, dân tộc hay bộ tộc nào trong vùng  bị cai trị cũng tự gọi mình là người Hán. Ngay cả chữ viết đã có trước đó từ lâu chúng cũng bắt mọi người gọi là chữ Hán. Người Việt sau này, dưới sự áp đặt của Tàu mấy trăm năm trước cũng mặc nhiên chấp nhận điều này. Cho đến nay, hầu hết người Việt cũng vẫn còn gọi là chữ Hán. Không mấy ai dám gọi là chữ Tàu cả. Vì họ sợ. Sợ điều gì họ cũng không rõ. Nhưng vẫn cứ sợ và gọi như thế là đủ an tâm. Nêu điều này ra để chúng ta cùng nhận rõ cái tinh thần nô lệ này đã truyền đời đến cả ngàn năm nay vẫn còn nhiều người Việt không chịu nhận ra và quyết tâm tiêu trừ.

Image result for Tại sao không nên dùng chữ Trung Quốc?
Sau khi Mông Cổ diệt Đại Tống lập Đại Nguyên cai trị xứ này cả trăm năm. Đến khi Trần Hữu Lượng (Lượng là con trai Chiêu Quốc Vương Trần Ích Tắc – qua việc thông đồng với giặc, vương bị anh là vua Trần Thánh Tông không giết nhưng đuổi ra khỏi Việt Nam và qua Tàu sống ở vùng Trường Sa, Quảng Đông ngày ngay) đánh đuổi Mông Cổ chuẩn bị lên ngôi thì bị Chu Nguyên Chương cướp công và lập nên Đại Minh. Dòng họ Ái Tân Giác La của bộ tộc Mãn Châu (Nữ Chân, Kim sau đổi là Thanh) diệt Minh, rồi cũng gọi là Đại Thanh. Thời kỳ nầy không còn ai dám nhận mình là Đại Hán hoặc Đại Minh nữa cả. Và bọn đại hán (trong đầu người Việt) phải cạo đầu thắt bính như người Mãn Châu. Nếu không sẽ bị chặt đầu ngay. Lúc bấy giờ, trong dân gian, vì quen miệng họ vẫn gọi xứ này là Trung Nguyên hay Trung Hoa. Tuy rằng biên giới đã vượt qua sông Dương Tử và tiến xa xuống phương nam.
Sau này một vài người Tây phương, vốn không biết nhiều về xứ này, nên cho rằng người sống ở đây là dân Hán, nhưng họ lại gọi là nước Tần. Người Việt vốn nặng tinh thần nô lệ lại tôn thờ khoa học tây phương, nghe người da trắng Âu Châu gọi thế nên vội vã cho là có tộc Hán. Đây là sự di căn của căn bệnh nô lệ. Ngày trước họ thờ Tàu. Khi Tàu đi, Tây đến thì họ đành phải thờ Tây. Đối với họ hễ người Tây phương nói là phải đúng, và họ không hiểu rõ nghĩa chữ tộc trong tiếng Việt. Điều này cũng ngây ngô chẳng khác nào hiện nay bảo những người sống tại Mỹ là dân tộc Hoa Kỳ. Ai cũng biết chỉ có người Mỹ chứ không có dân tộc Hoa Kỳ. Xứ Tàu cũng chỉ là một loại hợp chủng quốc ở Châu Á mà thôi. Hiện nay, ngoài hàng trăm ngôn ngữ của những dân tộc thiểu số, Tàu vẫn còn xử dụng sáu ngôn ngữ chính. Ngay cả Mao Trạch Đông vẫn nói tiếng Hồ Nam, khiến nhiều người Tàu nghe không hiểu. Không có ngôn ngữ Tàu chính thống, tuy rằng phần lớn là tiếng Việt do dân Bách Việt sống khá nhiều ở vùng phía Nam sông Dương Tử, mà còn giữ rõ âm Việt nhất là tiếng Quảng Đông, Quảng Tây. Vì sự kiện này nhiều người Việt Nam, không chịu tìm hiểu lịch sử của tộc Bách Việt, lại nặng tinh thần nô lệ, nên cứ cho rằng tiếng Việt hiện nay là mượn từ tiếng Quảng Đông của Tàu. Dù vẫn còn sáu ngôn ngữ chính, nhưng chữ viết chỉ một, do Doanh Chính, tức Tần Thủy Hoàng, thống nhất chữ viết để dễ bề cai trị, và gọi là quan thoại, tức ngôn ngữ của quan lại. Đến thời bạo chúa Mao Trạch Đông, vốn xem Tần Thủy Hoàng là thần tượng, cũng bắt chước Doanh Chinh bắt sửa lại chữ Tàu và gọi là chữ Tàu đơn giản. Ở đây chúng ta gọi là chữ Tàu, nhưng sẽ còn vô số người Việt quyết tâm giữ chữ Hán trong đầu cho đến chết, và truyền lại cho con cháu.

Dưới áp lực xâm lăng của giặc Bắc, người Việt từ vùng Động Đình Hồ, dần dần bị đẩy xa về phương nam. Qua thời gian, người Việt còn ở lại vùng phía Nam sông Dương Tử đã quên mất nguồn gốc Bách Việt của mình. Nhưng họ không hề bị đồng hóa, vì dân số Việt tộc ở những vùng này vẫn luôn nhiều hơn những bộ tộc hỗn tạp nhỏ khác. Họ chỉ mất gốc. Một điển hình trong lịch sử cận đại là Tôn Dật Tiên (Sun Yat Sen), sinh ở Quảng Đông, người mà dân Tàu đang thờ phượng và suy tôn là cha đẻ của cuộc Cách Mạng Tam Dân, vốn là người Việt. Ông ta biết rõ điều này. Tuy vậy, vì quá lâu đời và vì sự nghiệp chính trị ông không dám nói rõ thân thế. Trong khi đó dòng họ Lý của Việt Nam sống tại Đại Hàn gần ngàn năm nay vẫn luôn tự hào mình là người gốc Việt. Nên khi vừa lên cầm quyền, tổng thống Lý Thừa Vãng của Nam Hàn đã nhờ tổng thống Ngô Đình Diệm truy tìm gia phả của dòng họ Lý tại Việt Nam.
Chiến thắng mùa xuân năm Kỷ Dậu (1789) mọi người Việt đều đã biết. Sau khi đánh quân Thanh một trận nhớ đời và đuổi ra khỏi bờ cõi, Quang Trung Hoàng Đế liền có kế hoạch lấy lại đất bị giặc Bắc cướp trước đó. Theo chương trình, vua Quang Trung sẽ đuổi Mãn Thanh trở ngược về phía Bắc sông Dương Tử, quyết lấy lại vùng Lĩnh Nam của dân Bách Việt ngày xưa. Bước đầu, nhà vua bắt Càn Long phải gả con gái và trả lại hai vùng đất Quảng Đông và Quảng Tây. Sau đó sẽ làm bàn đạp để bắc tiến và tây tiến. Càn Long liền gởi chiếu mời vua Quang Trung sang Bắc Kinh để đàm phán. Nhắm để phòng sự tráo trở của giặc Bắc cùng sẵn dịp hạ nhục Càn Long của Đại Thanh, vị Hoàng Đế Đại Việt cho người giả trang dẫn phái đoàn sang Tàu. Trên đường đi phái đoàn Việt cố tình hành hạ bọn quan lại Tàu đủ điều, nhưng chúng cũng phải cúi đầu chịu nhục. Càn Long vẫn biết rõ trưởng phái đoàn chỉ là vị vua giả. Nhưng mở miệng ra lại sợ nhục nhã, nên hắn đành phải câm miệng và dùng đủ lễ nghi để tiếp đãi phái đoàn. Đây cũng là một sự nhục nhã nặng nề mà Càn Long của Đại Thanh đành phải nuốt sâu vào lòng.

Image result for Tại sao không nên dùng chữ Trung Quốc?
Vua Quang Trung cho Càn Long biết, nếu không chịu trả đất, vua Việt sẽ giúp bọn phục Minh nổi dậy diệt Thanh.
Vừa mới bị đánh một trận kinh hoàng, lại muốn giữ ngôi để tiếp tục cai trị xứ Tàu, Càn Long đành phải nuốt nhục cúi đầu chấp nhận. Nhưng mọi việc chưa xong thì vua Quang Trung băng hà. Thế là việc đòi lại đất của người Việt xem như bất thành.
Nếu vua Quang Trung không mất sớm và bắt Càn Long của Đại Thanh trả lại Quảng Đông, Quảng Tây cho Đại Việt thì hôm nay đã không có Tôn Dật Tiên cho dân Tàu thờ làm Quốc Phụ. Nêu ra điều này để người dân Việt thấy được sự ngu ngốc của người Tàu. Đúng ra, mọi người Việt đều có bổn phận phải nói rõ điều này cho người Tàu, và nhất là cho Tập Cận biết mỗi khi hắn cúi đầu lạy Tôn Dật Tiên.
Chữ Qin được Tàu phát âm là Ch’in, người Việt phát âm là Tần. Từ âm Ch’in này người da trắng gọi xứ này là China hay Sino. Khi nắm quyền Doanh Chính dùng chữ Đại Tần vì lấy tên địa phương của xứ Tần (hiện nay thuộc tỉnh Giang Tô). Cho nên người Tây phương dùng chữ China, Sino, Chinois là do sự diễn âm chữ Tần (Ch’in), để gọi xứ này. Hoàn toàn không có ý nghĩa gì là Nước Ở Giữa cả. Xin người Việt không nên đem hình ảnh của hai chữ Trung Quốc trong đầu của mình mà áp đặt lên chữ China, Sino của người da trắng.
Người da trắng gọi họ là Tần. Tại sao chúng ta không dám gọi họ là Chệt hay Tàu? Hỏi tức đã trả lời rồi vậy.
Mãi đến thời kỳ Mãn Thanh vẫn chưa có hai chữ Trung Quốc. Năm 1927, Nhật tiến chiếm vùng Mãn Châu, lập ra Mãn Châu Quốc, sau đó cai trị toàn xứ Tàu.  Tiếp theo xứ Tàu bị Hoa Kỳ chẻ ra làm hai thế lực chính trị vào năm 1949. Ngay sau khi đánh bại Nhật, năm 1945, lúc đầu Mỹ tính giao cả nước Tàu cho Tưởng Giới Thạch, để loại trừ Trương Học Lương, vốn gốc Mãn Châu, lên năm quyền. Nhưng sau đó, năm 1948, Mỹ đổi ý, đem giao cả đại lục cho Mao Trạch Đông, được gọi là People's Republic of China. Đảo Đài Loan thì Mỹ giao cho Tưởng Giới Thạch được gọi là Republic of China. Để làm vui lòng kẻ bị bạc đãi vì chia đất cho quá ít, Mỹ cho Tưởng Giới Thạch vào Liên Hiệp Quốc để xoa dịu tự ái. Đến năm 1972, sau thời gian đủ lâu, Mỹ đuổi Tưởng ra khỏi Liên Hiệp Quốc, đem Mao Trạch Đông vào thay thế. Và bắt Tưởng phải dẹp bỏ danh xưng Republic of China, mà từ đó về sau chỉ được gọi là Taiwan, không có vị thế quốc gia trên chính trường quốc tế.


Hai xứ này, lúc bấy giờ, nếu dịch sang tiếng Việt cho đúng nghĩa quốc tế, ở đây chúng ta sẽ dựa trên tiếng Mỹ, phải là Cộng Hòa Nhân Dân Tàu (Tần), và Cộng Hòa Tàu (Tần). Cũng như Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là Socialist Republic of Vietnam, hay Việt Nam Cộng Hòa là Republic of Vietnam.
Ở đây, chúng ta nhận ra thêm một điều vô cùng quan trọng là, do bản chất nô lệ giặc Bắc, Việt cộng đã âm thầm dùng tiếng Việt theo kiểu Tàu. Các chữ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa đi trước hai chữ Việt Nam. Có nghĩa là tính từ đi trước danh từ. Trong khi đó danh xưng Việt Nam Cộng Hòa, tính từ phải đi sau danh từ. Người Việt chúng ta chỉ nói trái ổi xanh, hoặc biển xanh. Chỉ có dân Tàu mới nói xanh trái ổi, và thương hải.
Có người sẽ cho rằng chỉ là thứ tự trước sau, ý nghĩa vẫn có đủ, việc gì mà phải chẻ sợi tóc làm tư.
Xin thưa. Một người đảng viên cộng sản, dù nói hay viết, mà dùng chữ nhân dân, hay nhà nước trước chữ đảng, chắc chắn sẽ bị giết ngay. Thực tế, không có người nào dám làm điều này. Bởi họ biết rõ nguyên tắc sinh tử của băng đảng sắt máu côn đồ này là: Nói Bậy Là Chết.


Trở lại hai chữ Trung Quốc. Người Tàu, bởi ngu si lại nặng tinh thần hống hách luôn tự cho mình là lớn, là trung tâm của thế giới, nên họ tự gọi là Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, và Cộng Hòa Trung Hoa, viết và hiểu theo cách Tàu dùng tiếng Việt. Sau khi được Mỹ giao cho cai trị toàn miền đại lục, Mao Trạch Đông vẫn tiếp tục truyền thống ngu si và bạo chúa nên tự gọi là Trung Quốc. Thứ nhất; nhắm kích thích tinh thần ngông cuồng của dân trong xứ. Thứ hai; bắt cộng sản Việt Nam phải tuân dùng theo, để tròng ách nô lệ lên đầu người Việt, mà trước nhất là những kẻ tay sai Việt cộng. Hiểu một cách rõ ràng, chữ Trung Quốc vẫn hoàn toàn không có ý nghĩa gì là Nước Ở Giữa cả. Bởi chữ Trung vốn có gốc từ chữ Trung Nguyên từ thời xa xưa. Tuy vậy, Tàu cộng vẫn mập mờ để bắt Việt cộng phải áp đặt vào đầu những người Việt, kém hiểu biết lại nặng tinh thần nô lệ phương Bắc, nên tự suy diễn ra là Nước Ở Giữa để nuôi trong đầu.
Xin mở một dấu ngoặc. Trong hồi ký của mình, ông bác sĩ riêng của Mao Trạch Đông cho biết; kể từ khi nắm quyền đến lúc chết (1949-1976), suốt 28 năm Mao không hề tắm, và nhất định không chịu đánh răng súc miệng. Tên bạo chúa này tuyên bố hắn chỉ cần “tắm” trong âm hộ của người đàn bà là đủ, và hắn không tin có loại bệnh có thể truyền nhiễm qua đường tình dục. Để tránh tình trạng này, ông bác sĩ riêng phải gạt hắn ta bảo là uống thuốc bổ tăng cường sinh dục, nhằm tránh tình trạng Mao truyền bệnh giang mai cho cả ngàn người đàn bà mà hắn xem là cung tần phi nữ. Một loại bạo chúa ngu si của thời đại. Nêu điều này nơi đây để mọi người Việt biết sự ngu si và bệnh hoạn của Mao, và cũng là của dân Tàu. Thế mà tên cáo họ Hồ bắt dân Việt Nam phải học tập tư tưởng của Mao.
Vốn là kẻ tôi tớ luôn cúi đầu phục tùng mệnh lệnh của ông chủ, lại sống kiếp sống của kẻ vô tổ quốc, phi dân tộc, nên người cộng sản Việt Nam không dám gọi là Tàu. Và họ bắt người dân phải gọi là Trung Quốc để áp đặt và nhồi nhét tinh thần nô lệ vào đầu người Việt qua ngôn ngữ.

Image result for Tại sao không nên dùng chữ Trung Quốc?
Trước năm 1975, người Việt tại Miền Nam thường gọi hai quốc gia này là Trung Hoa Cộng Sản và Trung Hoa Quốc Gia để chỉ cho hai thể chế chính trị, nhưng vẫn gọi chung là người Tàu. Như; Tàu Đài Loan, Tàu Chợ Lớn, Tàu Hồng Kông, Tàu Đại Lục. Chính những người Tàu sống ở Việt Nam cũng tự gọi họ là người Tàu. Từ thời tổng thống Ngô Đình Diệm, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cấm không cho người Tàu làm 11 nghề chính để bảo vệ kinh tế cho người dân Việt Nam. Nguồn gốc phát xuất âm Tàu trong tiếng Việt, cho đến nay vẫn chưa rõ ràng. Có thể là do nghe và nói lại một cách sai lạc âm của chữ Tần mà người Tây Phương tại Việt Nam thường dùng vào thế kỷ 18, 19. Cả Philippines, Thailand, Kampuchia, trong ngôn ngữ của các quốc gia này, họ cũng không gọi xứ này là Nước Ở Giữa. Riêng người Nhật dùng chữ China với ý nghĩa khinh miệt là lũ người bệnh hoạn, ngu si, nhu nhược, yếu hèn. Đến nay chỉ có người Tàu và dân Việt dùng chữ Trung Quốc. Nêu điều này ra nơi đây, để mọi người cùng nhận thấy rõ sự nô lệ trong tư tưởng, thể hiện qua ngôn ngữ của người Việt, do sự tiếp tay của Việt cộng, đã bị Tàu cộng áp đặt sâu nặng đến thế nào.
Một thí dụ điển hình cho căn bệnh nô lệ giặc Bắc, là cho đến hôm nay, trong đầu khá nhiều người Việt vẫn tin chắc rằng võ thuật của Việt Nam thì phải “bắt nguồn từ Trung Quốc.” Hỏi tiếp nữa thì họ chống chế rằng bởi từ Thiếu Lâm Tự, và do Đạt Ma Sư Tổ truyền ra. Quả là khôi hài. Nếu vậy thì phải bảo rằng võ thuật của Tàu vốn do Ấn Độ truyền sang. Khổ thật. Kiến thức của họ đã kém, khả năng suy luận cũng không có, lại mang nặng căn bệnh thờ Tàu. Từ thời Khổng Khâu xa xưa mãi cho đến hôm nay, bọn người này chỉ có truyền thống chuyên nghiệp là đi ăn cắp và ăn cướp, xong đem về bôi xóa dấu vết rồi cho là của mình.

Vì thế, để thể hiện tinh thần tự chủ và độc lập của dân tộc, người Việt nên ý thức rõ điều này. Và không nên dùng hai chữ Trung Quốc. Bởi đây là thâm ý của cộng sản Việt, theo lệnh ông chủ Bắc Kinh, cố tình nhồi nhét tinh thần nô lệ vào đầu người dân Việt Nam.
Do đó, để chống Tàu, trước hết mọi người Việt nên chống lại âm mưu áp đặt tinh thần nô lệ này, qua ngôn ngữ, của giặc Bắc.
Nếu vẫn có người chưa chịu tin điều này, xin hãy nhớ lại chữ triều và hình ảnh những lượn sóng cuộn đầu trên áo quần quan lại thời phong kiến của Tàu ngày xưa. Xin nhắc lại, đây là kỹ thuật khống chế tư tưởng (mind control) nhắm đánh sâu vào vô thức (subconcious, 88%), không nằm trên bình diện ý thức (concious, 12%) nên khó lòng nhận biết.
Việc chống Tàu qua ngôn ngữ nô lệ và mất nước này sẽ không dễ dàng vì bọn tay sai Việt cộng, theo lệnh chủ, đang tận sức phá nát ngôn ngữ Việt chính thống nhắm thay thế và áp đặt ách nô lệ qua ngôn ngữ trong mọi hoàn cảnh. Người dân Việt vô tình, nhưng bọn Việt cộng lại quyết tâm. Tránh sao khỏi cảnh này. Bao năm qua vì vô tình, không đế ý, nhiều người đã dùng đến quen miệng. Bây giờ mở miệng ra nói khác đi chắc chắn sẽ khó làm được ngay. Nếu không tin, mọi người hãy thử và sẽ thấy rõ tác dụng này.
Bảo rằng do thói quen, thì nên tự hỏi mình có dám bỏ cái thói quen này hay không? Dĩ nhiên, không mấy ai dám chấp nhận rằng vì sợ nên phải dùng hai chữ Trung Quốc. Vẫn có nhiều người sẽ tìm đủ lý do để biện minh cho hai chữ Trung Quốc nơi cửa miệng.
Chắc chắn có người sẽ cho rằng Trung Hoa hay Trung Quốc cũng chỉ là danh xưng, đâu có gì quan trọng. Những người này đang tự lừa dối chính mình và cố tình dùng xảo ngôn để lấp liếm và che dấu căn bệnh nô lệ truyền đời. Nếu chỉ là danh từ, và không có ý gì, thì tại sao không dám gọi là Tàu cộng?
Image result for Tại sao không nên dùng chữ Trung Quốc?
Nhưng xin hãy tự hỏi mình rằng; cô nữ sinh viên Nguyễn Phương Uyên dù đang sống dưới sự cai trị của Việt cộng, vẫn dám gọi là Tàu khựa. Và chính họ cũng gọi họ là Tàu. Vậy tại sao mình phải tìm đủ lý do để dùng hai chữ Trung Quốc? Hãy cố gắng tự nhớ lại xem mình bắt đầu dùng từ lúc nào, để bây giờ gọi là quen miệng? Và tại sao mình không dám gọi là Tàu cộng?
Nếu không dám tức đã có nỗi lo sợ ẩn sâu trong đầu. Bởi sợ mới không dám. Sợ điều gì? Sợ ai? Hoàn toàn tìm không ra dấu vết. Đây chính là cái tác dụng của sự nô lệ và hèn nhược qua ảnh hưởng của ngôn ngữ. Đây cũng là hậu quả của sự khống chế tư tưởng (mind control) đã nêu ra ở trên. Có vài người, vì mặc cảm tự ti kém khuyết, để tự gạt mình nhằm che dấu căn bệnh nô lệ ẩn sâu trong tư tưởng, họ bảo rằng gọi như thế sẽ làm giảm giá trị trình độ trí thức và lịch sự của họ. Vì thế họ chỉ dám dùng chữ Trung Quốc, Trung Hoa để chứng tỏ họ là kẻ có học thức, là người lịch sự.
Khi vua Quang Trung tuyên bố trước ba quân: “Phải đuổi hết lũ giặc phương Bắc ra khỏi bờ cõi. Đánh cho chúng nó không còn manh giáp.” Ai dám bảo vua Quang Trung là phường vô học?
Trong cuộc hải chiến Hoàng Sa, tháng 1/1974, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh cho Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa: “Các anh cứ đánh tụi nó thẳng tay cho tôi.” Ai dám bảo tổng thống Nguyễn Văn Thiệu là người thiếu lịch sự?
Để giữ gìn nền độc lập và tinh thần tự chủ của dân tộc, mong rằng những người Việt này cũng nên từ bỏ cái ảo giác có học thức và lịch sự của mình.
Nên hiểu rằng khi người Tây phương gọi những xứ này là China, Sino, Chinois, qua ngôn ngữ của họ, trong đầu họ vẫn xem đó là xứ Tần. Qua ngôn ngữ xử dụng, họ hoàn toàn không có khái niệm hay ý nghĩ gì về một Nước Ở Giữa cả. Trong khi đó, người Việt nói đến hai chữ Trung Quốc, chắc chắn cái hình ảnh Nước Ở Giữa đã thấp thoáng trong đầu. Xin mọi người để ý đến điều này.
Nếu người đọc vẫn tìm mọi cách để chống chế, vẫn chưa đồng ý, và chưa hiểu rõ tác dụng của ngôn ngữ, xin nêu ra một thí dụ để chúng ta cùng nhận xét.
Khi nghe nói đến các chữ; cô ấy, bà ấy hay mụ ấy, trong đầu người nói và người nghe đều có ba hình ảnh khác nhau. Một cô gái trẻ đẹp (cô ấy), một người phụ nữ lớn tuổi (bà ấy) và một người phụ nữ xấu xí, lôì thôi lếch thếch (mụ ấy). Khi nói và nghe chữ Trung Quốc hay Tàu cộng cũng có tác dụng tương tự. Xin mọi người hãy tự suy nghiệm.

Ngôn ngữ thể hiện tâm lý là điều ai cũng hiểu và đồng ý. Nếu không thế, cô sinh viên Nguyễn Phương Uyên đã không nói: “Tàu khựa hãy chết đi.” Và nếu không hiểu ý này, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đã không bắt cô ta. Thật ra, vì hiểu nên họ quá lo sợ bị ông chủ phương Bắc trừng trị, nên họ phải bắt cô ta. Hãy thử tượng tượng cái tác dụng tâm lý khi cô sinh viên này nói: “Trung Quốc khựa hãy chết đi.” Rõ ràng, câu này hoàn toàn không có tác dụng. Bởi tự nó đã thể hiện cái tâm lý nhu nhược hèn yếu và nô lệ qua hai chữ Trung Quốc trong câu. Hy vọng nhiều người Việt sẽ nhận rõ điềư này.
Khi đăng những bản tin ghe thuyền của Tàu cộng tấn công ngư dân Việt, báo chí Việt cộng chỉ dám dùng hai chữ tàu lạ. Mọi người đều hiểu tại sao. Ở đây chúng ta không cần diễn giải thêm. Rõ ràng là ngôn ngữ thể hiện tâm lý của người xử dụng. Và ai cũng hiểu đó lá cái tâm lý hèn hạ nhu nhược nô lệ của người cộng sản Việt Nam đối với bọn giặc phương Bắc.
Tương tự như thế, bất kỳ ai, mở miệng dùng hai chữ Trung Quốc cũng không thoát khỏi tâm lý này, dù họ có lớn tiếng hô to: “Đả đảo Trung Quốc xâm lược.” Hãy tự hỏi chính mình, tại sao mình không mở miệng nói được câu: “Đả đảo Tàu cộng xâm lược.” Chẳng lẽ mình vẫn còn muốn chứng tỏ cho người khác biết mình là con người có học thức và lịch sự?
Đã không xóa nổi hai chữ Trung Quốc ra khỏi đầu thì khoan nói đến chuyện chống Việt cộng hay Tàu cộng. Nếu chỉ là danh từ, tại sao không dám gọi là Tàu cộng? Không nên tiếp tục lừa dối chính mình nữa. Xin suy nghĩ kỹ điều này.


Việt Nam cộng sản gọi là Việt cộng. Trung Hoa cộng sản gọi là Trung cộng. Đâu có gì là không học thức, không lịch sự ở đây. Mà đối với bọn giặc Bắc, trong khi họ luôn tìm cách tiêu diệt mình, mà mình cứ mãi lịch sự với họ thì quả là một tâm lý bệnh hoạn. Ở đây chúng ta không thể dùng chữ nhu nhược, mà phải gọi là bệnh hoạn Chúng ta thấy vẫn còn nhiều người Việt mang nặng cái tâm lý bệnh hoạn này trong đầu.
Những người đảng viên cộng sản Việt Nam chắc chắn sẽ không bao giờ dám mở miệng nói đến chữ Tàu, dù là; ông Tàu vĩ đại, bác Tàu kính yêu. Chỉ nghe đến cái âm Tàu họ cũng đã hoảng sợ đến kinh người. Vì quá kinh sợ họ trở nên tức giận điên cuồng. Đối với họ, đó là loại ngôn ngữ phạm thượng Quen sống kiếp nô lệ, họ không thể nào chấp nhận loại ngôn ngữ phạm thượng này đối với ông chủ phương Bắc được. Và cho đó là ngôn ngữ phản động. Bởi thế họ phải bắt ngay cô sinh viên Nguyễn Phương Uyên.
Đến hôm nay, chúng ta đều thấy rõ rằng; nhóm cầm quyền cộng sản Việt Nam chỉ giỏi hèn với giặc, nhưng luôn ác với dân. Để chứng tỏ mình không hèn với giặc, như bọn người đang sống kiếp nô lệ này, điều đầu tiên và dễ dàng nhất là mọi người nên vất bỏ hai chữ Trung Quốc ra khỏi ngôn ngữ của mình. Bảo là dễ dàng nhưng sẽ có rất nhiều người không làm nổi điều này.
Tùy theo thái độ tâm lý, mỗi người sẽ tự chọn cho mình một loại ngôn ngữ thích hợp Người nặng tinh thần nô lệ và bệnh hoạn sẽ có lý do để bảo vệ và tiếp tục xử dụng hai chữ Trung Quốc. Người nặng tinh thần tự trọng, hiểu rõ trách nhiệm trong việc giữ gìn nền độc lập và tinh thần tự chủ của dân tộc sẽ có lý do để loại bỏ chữ Trung Quốc và thay vào đó là Tàu.
Tâm lý tức giận sẽ dùng ngôn ngữ phẫn nộ. Tâm lý tự chủ sẽ dùng ngôn ngữ độc lập. Tâm lý hèn nhược sẽ dùng ngôn ngữ nô lệ. Điều này không ai chối cãi được. Và vì thế, xin mọi người Việt chúng ta nên loại bỏ hai chữ Trung Quốc để thể hiện tinh thần độc lập, tự chủ và bất khuất ngay trong ngôn ngữ xử dụng hằng ngày. Hy vọng nhiều người sẽ đồng ý với đề nghị này. Nhưng đối với người đảng viên cộng sản Việt Nam thì vô phương. Họ đã chọn kiếp sống tay sai, nô lệ, vô tổ quốc, phi dân tộc từ thuở chào đời. Chúng ta không mong gì họ thay đổi được.
Đã giúp mình và cũng giúp người. Mọi người Việt cùng nhau giữ nước qua ngôn ngữ. Vô cùng quan trọng nhưng lại không hề tốn một giọt máu. Tại sao chúng ta không chịu làm?
Đây là điều đầu tiên và căn bản, vô cùng quan trọng, trong tinh thần chống lại bọn giặc phương Bắc.
Xin nêu ra nơi đây một bài học lịch sử để mọi người cùng suy nghiệm.
Chọn ngôn ngữ để làm quốc ngữ cho một quốc gia vừa mới khai sinh là điều vô cùng quan trọng trong việc giữ gìn nền độc lập. Ngay sau khi Hoa Kỳ giành độc lập từ tay đế quốc Anh, người Mỹ đã nghiên cứu cẩn thận trong việc chọn tiếng Anh hay tiếng Đức dùng làm quốc ngữ. Họ không chọn tiếng Tây Ban Nha vì lúc bấy giờ, ảnh hưởng của Tây Ban Nha đã tràn khắp Nam Mỹ và phần đất phía tây Bắc Mỹ. Cuối cùng, do kết quả cuộc bầu phiếu, tiếng Anh được chọn vì hơn tiếng Đức một lá phiếu.
clip_image007
Nhưng ngay sau đó, ông Noah Webster đã bỏ ra 20 năm liên tục để thành lập tiếng Mỹ, như trường hợp tiếng Nam dưới thời nhà Trần. Ngoài việc sửa đổi cấu trúc văn phạm và ngữ pháp, ông còn thay đổi cả ngữ vựng, và thành lập cuốn Tự Điển Di Sản Hoa Kỳ (American Heritage Dictionnary) cho dân chúng Mỹ xử dụng. Điều đáng lưu ý, đáng khâm phục, và đáng để mọi người Việt chúng ta học hỏi, là từ đó và mãi về sau, từ tổng thống đến thường dân, mọi người Mỹ đồng lòng quyết không dùng tiếng Anh mà chỉ dùng tiếng Mỹ. Đến hôm nay chúng ta đều nhận biết sự phổ thông của tiếng Mỹ trên khắp thế giới mà hầu hết người Việt biết tiếng Mỹ đều quen thuộc.
Xin ghi ra nơi đây vài thí dụ để mọi người cùng nhận thấy tinh thần quyết tâm giữ gìn độc lập và tự chủ của người dân Hoa Kỳ qua ngôn ngữ:
.
----Anh----               ----Mỹ----
colour                     color ----bỏ bớt giữa
programme             program ---bỏ bớt cuối
theatre                   theater ---đảo chữ
randomise               randomize --- đổi chữ
water closet             restroom --- đặt danh từ mới
.
Hiểu rõ sự quan trọng của ngôn ngữ đối với nền độc lập của một dân tộc, giặc phương Bắc đã tìm mọi cách hủy diệt chữ Nam của người Việt ngay từ thời nhà Trần. Chúng gọi một cách nhục mạ khinh bỉ là tiếng nôm na, hèn mạt để gạt ngưởi Việt biết chữ không thèm dùng đến. Thế mà đến nay vẫn có nhiều người trí thức học giả miệt mài gọi là chữ nôm. Điều này chẳng khác nào có kẻ côn đồ bảo trẻ con nên về nhà gọi cha mẹ chúng bằng thằng và nó. Vì ngu khờ kém suy nghĩ, đứa trẻ liền nghe theo và cứ thế mà gọi.
Hiện nay, Tàu cộng bắt Việt cộng phải du nhập tiếng Tàu, và bằng mọi cách phải nhét vào đầu để nô lệ hóa người Việt qua ngôn ngữ. Xin nêu ra vài chữ như: động thái, quan ngại, bức xúc, tham quan, hộ khẩu, cải tạo, sự cố, hoành tráng, hiện trường, quan chức, đăng ký, hỗ trợ, đột xuất, và còn nhiều nữa. Vì cùng hệ thống đơn âm, họ chỉ cần dùng mẫu tự Việt diễn âm Tàu, và bắt mọi người Việt phải dùng, tức nghe và đọc trước rồi nói sau. Lúc đầu quen tai, quen mắt. Sau quen miệng. Thế là xong.
Xin mọi người, còn nghĩ đến dân tộc và chống cộng, hãy nhớ lại xem mình đã bắt đầu dùng những từ ngữ này từ lúc nào. Và từ bây giờ trở đi mình có dám loại bỏ ngôn ngữ này và quyết tâm không dùng nữa hay không.
Tại sao phải loại bỏ những ngôn ngữ này? Nếu hỏi người Mỹ, họ sẽ giải thích cho chúng ta hiểu lý do tại sao.
Xin thưa thêm. Vì đây là loại ngôn ngữ mà ông Nguyễn Văn Luận, một người dân Hà Nội bị kẹt lại Miền Bắc từ năm 1954 đã nhận ra ngay là “ngoại ngữ Việt cộng” do Tàu cộng đem sang. Suốt 28 năm, mãi cho đến khi vượt biển tìm tự do và cuối cùng định cư tại Hoa Kỳ, ông Luận vẫn nhất định không dùng đến loại ngoại ngữ nô lệ và mất nước này. Thế mà hiện nay vẫn có nhiều người Việt, dù đang sống tại hải ngoại, hăng hái chống Tàu, chống cộng, nhưng sẵn sàng xử dụng loại ngôn ngữ nô lệ này. Lại có nhiều người dù không hiểu ý nghĩa nhưng vẫn dùng một cách hàm hồ và sai hoàn toàn ý nghĩa gốc trong tiếng Tàu. Thí dụ; chữ đột xuất có nghĩa là sự nổi bật (outstanding) hoàn toàn không có nghĩa của trạng từ chỉ thời gian như các chữ bất thình lình hay bất ngờ, trong tiếng Việt. Thật ra, bọn giặc Bắc đâu cần thắc mắc chuyện người Việt dùng đúng nghĩa hay sai nghĩa. Cứ nhét được những loại ngôn ngữ này vào đầu dân Việt là chúng thành công. Một vài kẻ đã không biết mình ngu và dại, lại còn lớn tiếng biện minh cho hành động bệnh hoạn này. Vua Quang Trung mà còn sống, chắc chắn ngài sẽ phân thây bọn người mất gốc này để diệt trừ mầm nô lệ cho dân tộc.

Báo chí và truyền thông tại Việt Nam cộng sản hiện nay bắt buộc phải dùng loại ngoại ngữ Việt cộng này. Với kiếp sống của kẻ tay sai và nô lệ, họ không thể làm khác hơn được. Bởi đây là sách lược nô lệ của Tàu cộng đưa ra và bắt Việt cộng phải thi hành.
Tuy nhiên, trên nhiều diễn đàn ineternet của người Việt hải ngoại hiện nay chúng ta vẫn thấy đầy dẫy loại ngoại ngữ nô lệ và mất nước này. Về quy định ngôn từ, nơi nào cũng đưa ra những điều lệ căn bản là; không chấp nhận ngôn ngữ thô tục, và ngôn ngữ ca tụng Việt cộng; để chứng tỏ đây là nơi của những người có học thức, lịch sự, và quyết tâm chống cộng.
Nhưng than ôi. Họ chấp nhận loại ngôn ngữ nô lệ ẩn chứa mầm hủy diệt tinh thần dân tộc của giặc phương Bắc mà họ không hề bận tâm. Không những thế loại ngôn ngữ này được truyền bá và phát huy khá mạnh mẽ.
Đây là sự thể hiện một trình độ dân trí quá thấp kém của người Việt chúng ta.
Bởi chúng ta chưa nhận thức rõ được sự quan trọng của ngôn ngữ đối với sự tồn vong của dân tộc. Hãy nhìn lại gương của dân chúng Hoa Kỳ trong việc xử dụng tiếng Mỹ để giữ gìn độc lập, may ra mọi người sẽ hiểu rõ vấn đề vô cùng quan trọng này cho dân tộc và đất nước.
Là người Việt, hầu hết chúng ta ai cũng đã từng nghe và nói câu: “Tiếng Việt còn, Người Việt còn.” Nhưng chúng ta quên một điều vô cùng quan trọng là; tiếng Việt nô lệ, thì người Việt nô lệ. Và sự nô lệ này sẽ dẫn đến mất gốc và dân tộc bị hủy dìệt là điều không tránh khỏi.
Mất đất, mất đảo còn có cơ hội lấy lại được. Nhưng mất người thì lấy ai mà đòi lại đất, giành lại biển?
Chống cộng mà không chống nổi ngôn ngữ Việt cộng trong đầu thì vẫn là tự lừa dối chính mình. Người cộng sản Việt Nam biết chắc chắn họ luôn luôn thành công trong việc khống chế tư tưởng người dân Việt. Rõ ràng nhất là qua ngôn ngữ. Xin mọi người hãy nhìn lại ngôn ngữ mình xử dụng để chứng minh điều này.
Có nhiều người chống cộng cảm thấy hài lòng qua việc xử dụng những danh từ miệt thị, khinh bỉ đối với những người cầm đầu cộng đảng Việt Nam hiện tai như: Trọng Lú, Sang Ngu, Dũng Dốt. Những người này vẫn mãi say sưa, tự thỏa mãn với câu: “Người khôn phải gọi thằng ngu bằng thầy!”
Xin thưa! Nếu chúng ta khôn hơn họ, thì đã không bị họ khống chế từ cái đầu đến cái miệng suốt bao năm qua.
Năm 1954, sau khi Việt cộng chiếm Miền Bắc, thi sĩ Trần Dần đã bàng hoàng thốt rằng:

"Tôi bước đi không thấy phố thấy nhà,
Chỉ thấy mưa sa trên nền cờ đỏ."

Hai câu thơ đã cho thấy hình ảnh thê lương tang tóc của đất nước dưới ách cai trị của người cộng sản. Thế nhưng, từ năm 1954, người dân Miền Bắc đã không chịu nhìn thấy điều này. Và người dân Miền Nam, năm 1975, cũng không muốn nhìn thấy điều này. Như thế, dù âm thầm không ai hay biết, nhưng số phận của đất nước Việt Nam đã được quyết định từ lâu.

Tiền bạc là vật mà mọi người dân, dù không biết chữ, vẫn phải dùng đến hằng ngày. Thế là từ thời kỳ tem phiếu, mãi cho đến hiện nay, không một tờ giấy bạc nào không có hình của tên bán nước Hồ Chí Minh. Sau khi chết, chúng vẫn đem cái xác cáo mục rữa trấn ngay thủ đô Miền Bắc và bắt mọi người phải chiêm ngưỡng. Đến khi cướp Miền Nam, chúng liền xóa ngay địa danh Sài Gòn, tên gọi thủ đô của Việt Nam Cộng Hòa. Thay vào đó là tên cáo Hồ đã chết Rồi chúng xây con đường trên cao nguyên dọc Trường Sơn, xương sống của bản đồ Việt Nam với tên đại lộ Hồ Chí Minh. Tất cả mọi việc trên đều nhằm mục đích thực hiện kế hoạch to lớn và lâu dài. Đó là khống chế tư tưởng toàn thể dân Việt qua những hình ảnh này. Hãy thử tính xem trong một ngày, hình ảnh của tên cáo Hồ bán nước đánh vào đầu người dân Việt bao nhiêu lần qua tờ giấy bạc. Đây là một kỹ thuật trấn áp tư tưởng vô cùng hiệu quả trên bình diện vô thức mà khoa Tâm Lý Học gọi là khống chế tư tưởng (mind control) vô cùng tinh xảo và thâm độc.
Xin được nêu ra ở đây để những người vẫn còn ngây thơ cho rằng Việt cộng là những kẻ ngu ngốc nên suy nghĩ lại.
Là một người Việt cộng nằm vùng tại Miền Nam trong thời kỳ chiến tranh, nên lúc bấy giờ ông y tá Nguyễn Tấn Dũng bắt buộc phải dùng ngôn ngữ của Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng ngay sau  khi cộng sản cướp được Miền Nam , chắc chắn ông Dũng và bao nhiêu người cộng sản nằm vùng khác đã không thèm dùng tiếng Việt của Miền Nam ngày trước. Năm 2010, trong buổi trả lời trước quốc hội cộng sản, vì lúng túng, thủ tướng cộng sản họ Nguyễn đã lỡ miệng phát ra hai chữ “bảo đảm” của Việt Nam Cộng Hòa. Biết bị hớ, liền ngay sau đó ông ta vội vàng tìm mọi cách để chữa lại bằng hai chữ “đảm bảo” của Việt cộng cho mọi người ngồi dưới kia cùng nghe thật rõ. Chỉ bấy nhiêu cũng đủ để dạy cho nhiều người Việt trí thức chống cộng cần học bài học về sự quan trọng của ngôn ngữ, cùng thái độ quyết tâm của ông ta khi xử dụng ngôn ngữ. Có thể lỡ lời nói ra hai chữ bảo đảm. Nhưng chắc chắn ông Dũng không bao giờ dám lỡ miệng đảo thứ tự để nói nhà nước (trước) và đảng (sau) cả. Đến đây hy vọng nhiều người sẽ nhận ra sự quan trọng cùng sự quyết liệt của những người cộng sản trong việc xử dụng ngôn ngữ. Nói một cách khác, nhưng vô  cùng thực tế, họ hiểu rõ quy luật sinh tử là, đối với họ: Dùng Chữ Sai Là Chết.
Khi dùng ngôn ngữ Việt cộng để chống cộng, chống Tàu, chúng ta có thể nghe họ lớn tiếng cười mỉa mai khinh bỉ và bảo nhau rằng: “Cứ để cho bọn người đang sống ở hải ngoại đó chống cộng. Ngôn ngữ, tức cái đầu của chúng, mà đảng ta đổi tới thay lui chúng chẳng hề hay biết. Thế thì chúng chống cái chi. Ta vo tròn bóp méo cái đầu của chúng như thế mà chúng chẳng hay biết. Thì chúng chống được điều gì. Chúng đang sống nơi hải ngoại cách xa ngàn dặm, nhưng đảng ta nhét vào đầu chúng điều gì cũng được, thì có chi mà lo ngại. Ha ha ha. Chỉ cần mười năm nữa thì bọn người này sẽ nằm trong các nghĩa địa. Chẳng có chi để chúng ta phải bận tâm cả.”

Chống Tàu cộng xâm lược, mà không chống nổi ngôn ngữ nô lệ của chúng đang bám chặt trong đầu, thì chỉ làm trò cười cho bọn tay sai Việt cộng là thế đấy. Nên hiểu rằng, Việt cộng không bao giờ lo ngại chuyện mìn bom súng đạn, chúng chỉ sợ cái đầu của người dân. Mà thể hiện của cái đầu là qua ngôn ngữ đang xử dụng. Mong mọi người nên suy nghĩ kỹ điều này.
Hãy nhìn cô sinh viên trẻ tuổi Nguyễn Phương Uyên sẽ biết mình thế nào. Hãy nhìn bài học quốc ngữ của người Mỹ, hy vọng, và may ra, có người sẽ hiểu rõ sự quan trọng của ngôn ngữ trong việc giữ gìn nền độc lập và tinh thần tự chủ của dân tộc.
Xin chuyển đến mọi người để cùng suy nghiệm và chọn loại ngôn ngữ thích hợp cho chính mình.

Trần Đức Dũng




(Trich) Tại sao không nên dùng chữ Trung Quốc?



(..trich)...Ở đây, chúng ta nhận ra thêm một điều vô cùng quan trọng là, do bản chất nô lệ giặc Bắc, Việt cộng đã âm thầm dùng tiếng Việt theo kiểu Tàu. 

Các chữ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa đi trước hai chữ Việt Nam. Có nghĩa là tính từ đi trước danh từ.

Trong khi đó danh xưng Việt Nam Cộng Hòa, tính từ phải đi sau danh từ. Người  Việt chúng ta chỉ nói trái ổi xanh, hoặc biển xanh. Chỉ có dân Tàu mới nói xanh
 trái ổi, và thương hải....

Người Tàu, bởi ngu si lại nặng tinh thần hống hách luôn tự cho mình là lớn, là trung tâm của thế giới, nên họ tự gọi là Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, và Cộng Hòa Trung Hoa, viết và hiểu theo cách Tàu dùng tiếng Việt.....

 Thật ra, tên họ Khổng xứ Lỗ (nay thuộc tỉnh Sơn Đông) nhận lệnh đi ăn cắp văn hóa của phương Nam, tức của dân Bách  Việt, rồi đem về xào nấu, nên hắn ta chỉ dám gọi là đồ ăn cắp chứ không phải tự tay tạo ra (thuật nhi bất tác). 

Bán khai đến độ, hắn ta cũng không hề biết và cho rằng trà và lúa của dân Bách Việt phía nam sông Dương Tử đang dùng là kỳ lạ và chẳng phải là những món ăn uống mà kẻ có văn hóa nên  dùng.

 Thế nhưng sau khi uống thử rồi thấy ngon thấy ghiền. 
Cái tài lưu manh của kẻ ăn cắp luôn là tẩy xóa hết dấu vết cũ rồi cho là của mình. Để bây giờ cả thế giới, ngay người Việt cũng tin chắc rằng trà phát xuất từ Tàu.

Cũng theo lệnh trên, tên bồi bút họ Khổng này đưa ra những thuyết ma mỵ để đặt ách nô lệ lên đầu người dân như; thuyết thìên mệnh, ngũ thường, và trung quân ái quốc, vân vân......

 Chống Tàu cộng xâm lược, mà không  chống nổi ngôn ngữ nô lệ của chúng đang bám chặt trong đầu, thì chỉ làm trò cười cho bọn tay sai Việt cộng là thế đấy.

Nên hiểu rằng, Việt cộng không bao giờ lo ngại chuyện mìn bom súng đạn, chúng chỉ sợ cái đầu của người dân.

Mà thể hiện của cái đầu là qua ngôn ngữ đang xử dụng.
 Mong mọi người nên suy nghĩ kỹ điều này.



Trong nhiều ngàn năm qua, dã tâm đồng hóa của Tàu đối với dân tộc ta là triệt để, nhất quán và cực kỳ tàn bạo. 

Cách đây trên 2000 năm, trong thời kỳ đô hộ ta, chúng dùng các phương cách sắt máu buộc dân ta chuyển từ Mẫu hệ sang Phụ hệ, cấm dân ta theo phong tục tập quán (văn minh, văn hiến) của dân tộc mình; chúng bắt dân ta xóa bỏ tất cả phong tục tập quán của mình, và học theo các phong tục tập quán của chúng, rồi chúng rêu rao ta là dân man di không có phong tục lễ nghĩa nên chúng phải dạy ta. 

(Hiện nay người ta đã nhận ra nhiều sự thật ngược lại sau những lời rêu rao ấy.)....

Gần đây trên mạng Internet, và trên Facebook nói riêng, có vài người có ý “trách” tổ tiên ta “ác” đã “cưỡng” chiếm các quốc gia Chiêm Thành, Chân Lạp... và tiêu diệt hoặc đồng hóa các dân tộc ấy, khiến nay dân tộc ta bị... quả báo. Nói vậy là không hiểu biết gì cả về lịch sử.
 
SỨC SỐNG CỦA DÂN TỘC VIỆT
(Cuộc thảo luận với Mưa Sông Hồ dưới bài viết
HÙNG VƯƠNG LÀ NAM HAY NỮ [1]
trên Facebook Thiếu Khanh)


Mưa Sông Hồ: Từ Mẫu hệ chuyển sang Phụ hệ, một thay đổi đảo lộn nền móng một cộng đồng, chứng minh  được một sức đồng hóa ghê gớm chứ nhỉ …
Thieu Khanh: Mưa Sông Hồ, Việc chuyển đổi từ mẫu hệ sang phụ hệ do người Tàu áp đặt và kéo dài trong nhiều thế kỷ. Sự "cải đạo" thành công này có sự "đồng lõa" của quá trình tiến hóa tự nhiên của lịch sử nhân loại, vì nếu thời đó người Tàu không nỗ lực đưa người Việt từ chế độ Mẫu hệ sang Phụ hệ, thì dù có muộn lắm cũng chỉ trong năm, bảy thế kỷ sau, hoặc thậm chí một ngàn năm sau, dân tộc Việt cũng "tự diễn biến, tự chuyển hóa" thành phụ hệ một cách tự nhiên mà thôi. Còn nói về sức mạnh đồng hóa thì, theo sự thùa nhận của Ts. K. W. Taylor, sức mạnh đó nằm về phía người Việt, chớ không phải người Tàu, vì ông nhận thấy, chỉ sau vài thế hệ, "người Tàu bị Việt hóa dễ hơn người Việt bị Hán hóa." (K. W. Taylor, The Birth of Vietnam, page 53) Và bằng chứng hùng hồn là, sau 1050 năm bị Tàu đô hộ, ta vẫn còn là người Việt, và ngôn ngữ của ta vẫn còn là tiếng Việt!
Mưa Sông Hồ: Đồng ý với anh Thieu Khanh về sự “đồng loã” của quá trình tiến hóa tự nhiên trong việc chuyển đổi từ Mẫu hệ sang Phụ hệ. Tuy nhiên việc Việt “cưỡng” Champa đến vong quốc mà Champa còn giữ được Mẫu hệ, trong khi Tàu “cưỡng” Việt không vong nổi quốc nhưng hết còn Mẫu hệ (mà tiến trình tự nhiên tác động lên hai chủng Champa và Việt thì như nhau) cũng nói lên sức mạnh đồng hóa của Tàu lên Việt là không phải nhỏ.
Lại nói về nhận định của Ts K. W. Taylor, rằng sức mạnh đồng hóa đó nằm về phía người Việt và rằng "người Tàu bị Việt hóa dễ hơn người Việt bị Hán hóa", thì tôi thấy thế này: Điều đó cũng khá là tự nhiên, không có gì là đặc biệt để đáng tự hào cho sức mạnh tồn sinh của người Việt mình cả. Trong suốt hằng ngàn năm bắc thuộc, dù dưới sức áp đảo từ bên trên, nhưng trong lòng cộng đồng Việt thì người Tàu luôn là thiểu số nên tiến trình “đồng lõa” của tự nhiên luôn đứng về phía người Việt. Dẫn chứng tiếng Việt (sau 1050 năm bị Tàu đô hộ mà vẫn còn giữ được) không thuyết phục. Kiến Hải vương Lý Dương Côn của vương triều Lý cùng tùy tùng và gia quyến lưu vong và lập xứ bên Cao ly từ năm 1150. Năm 1226, khi nhà Lý mất ngôi về nhà Trần, hoàng tử Lý Long Tường con vua Lý Anh Tông cùng gia quyến và tùy tùng thân tín vượt biển sang Cao Ly sinh sống... Dòng họ Lý đó giờ đây hàng ngàn người bên Cao Ly đâu có giữ nổi tiếng Việt. (Trong khi đó người Champa mất nước, mất cơ đồ, nhưng họ đâu có mất tiếng, mất phong tục ngàn đời!) :)
Thieu Khanh: Vấn đề này thú vị đây. Nhưng lúc này tôi đang bận quá không thể viết cho cặn kẽ. Chỉ ghi vài nét sơ lược thôi. Bao giờ có dịp và có điều kiện sẽ nói thêm.
Trong nhiều ngàn năm qua, dã tâm đồng hóa của Tàu đối với dân tộc ta là triệt để, nhất quán và cực kỳ tàn bạo. Cách đây trên 2000 năm, trong thời kỳ đô hộ ta, chúng dùng các phương cách sắt máu buộc dân ta chuyển từ Mẫu hệ sang Phụ hệ, cấm dân ta theo phong tục tập quán (văn minh, văn hiến) của dân tộc mình; chúng bắt dân ta xóa bỏ tất cả phong tục tập quán của mình, và học theo các phong tục tập quán của chúng, rồi chúng rêu rao ta là dân man di không có phong tục lễ nghĩa nên chúng phải dạy ta. (Hiện nay người ta đã nhận ra nhiều sự thật ngược lại sau những lời rêu rao ấy.)
Ngay trước khi chiếm nước ta vào thế kỷ XV, Tên vua Tàu Minh Thành tổ từng ra lệnh tịch thu và tiêu hủy hết tất cả mọi thứ gì có chữ viết của ta để nền văn hóa của dân tộc ta không còn lưu lại một dấu vết nào.
Những hành động chủ ý và tàn bạo đó của người Tàu không thể đem so với việc tổ tiên ta đã làm với các quốc gia ở phía nam bị xáp nhập vào đất nước mình trong quá trình mở rộng giang sơn Đại Việt.
Không phải vô cớ mà tổ tiên ta “cưỡng” chiếm đất nước của họ. Lịch sử ghi lại không biết bao nhiêu lần các quốc gia đó đem hùng binh dũng tướng đánh phá đất nước ta, ngay cả từ thời ta đang nằm dưới ách đô hộ của Tàu, khiến Tàu cũng điên đầu với chúng, đủ biết chúng mạnh và “quậy” cỡ nào.
Vào thế kỷ IV, chỉ một cái tên Phạm Văn của nước Lâm Ấp bé nhỏ đã khiến triều đình nhà Tấn ăn không ngon ngủ không yên. Phạm Văn liên tục đánh phá và thậm chí chiếm các Quận Nhật Nam, Cửu Chân, và Cửu Đức (tức phần nửa phía Nam của nước Đại Việt sau này) và sáp nhập Nhật Nam và Cửu Chân vào nước Lâm Ấp. Có khi quân Lâm Ấp giết đến 80 – 90 phần trăm quân lưu thú của nhà Tấn đóng tại đây. Phạm Văn chết, con trai là Phạm Phật nối ngôi, tiếp tục chiến tranh. Sau Phạm Phật, con y là Phạm Hồ Đạt lại tiếp tục đánh phá Nhật Nam, Cửu Chân.
Sau khi triều Tấn chấm dứt, triều Tống cai trị Trung Quốc. Phạm Dương Mại lại đem quân Lâm Ấp tiến đánh Giao Châu (toàn bộ Việt Nam lúc bấy giờ), và đòi Tống triều giao Giao Châu cho y sáp nhập vào Lâm Ấp. Chiến tranh Lâm Ấp kéo dài hàng nhiều thế kỷ. Các triều đại Trung Quốc chịu không thấu, đã phải nhiều lần cử binh đi xa ngàn dậm xuống phía nam nổi tiếng lam sơn chướng khí (đối với người phương Bắc) để đánh bại và tiêu diệt chúng.
Quân Tàu đã ra tay là cực kỳ tàn nhẫn. Chẳng hạn vào năm 433, quân Tống đánh hạ một thành tên là Khu Túc, “Tất cả người dân trưởng thành trong thành đều bị chém đầu. Các cung điện ngập trong máu, xác người chất cao thành đống, và tất cả các kho vàng bạc châu báu trong thành đều bị cướp đoạt “ Và năm đó, sau khi chiếm được Kinh đô Lâm Ấp, quân Tống thỏa tay chém giết bất kỳ ai chúng bắt gặp; khi kéo quân về nước, chúng mang theo vô số châu bàu cùng với 50 tấn vàng cướp được từ các đền đài cung điện. Phạm Dương Mại, vua Lâm Ấp lúc bấy giờ trốn được vào rừng núi sống sót, nhưng khi nhìn đất nước tan hoang, ông ta cũng đau buồn mà chết. Vậy nhưng chứng nào tật nấy, thua keo này chúng bày keo khác, không chịu để ta yên.
Sau nhiều cuộc chiến tranh dai dẳng, đến đầu thế kỷ VII, vào năm 605, tướng Lưu Phương của nhà Tống san bằng Kinh đô Lâm Ấp một lần nữa. Trong số chiến lợi phẩm của quân Tàu lần này có cả 18 bài vị bằng vàng thờ 18 đời vua Lâm Ấp.
Lâm Ấp là tiền thân của nước Chiêm Thành, bị diệt vong vào khoảng năm 700. Chiêm Thành nối tiếp Lâm Ấp cũng không hiền lành thân thiện gì. Vào đầu thế kỷ IX, Chiêm Thành đã nhiều lần tấn công An Nam Độ hộ phủ. Sau khi ta giành được độc lập, và khi nghe tin Đinh Tiên hoàng bị ám sát chết, vua Chiêm là Paramesvaravarman I, đã mang hàng ngàn chiến thuyền tiến đánh Kinh đô Hoa Lư nhưng thất bại.
Rồi năm 983 hơn 10 ngàn quân Chiêm với nhiều voi ngựa tiến đánh Đại Cồ Việt. Những cuộc đánh phá xâm lăng như thế cứ tiếp tục hết thế kỷ này đến thế kỷ khác. Thậm chí vào thế kỷ XIV chúng từng đánh vào cả thủ đô Thăng Long của Đại Việt. Không phải cái tên Chế Bồng Nga từng lẫy lừng trong thời kỳ đó sao?
Gần đây trên mạng Internet, và trên Facebook nói riêng, có vài người có ý “trách” tổ tiên ta “ác” đã “cưỡng” chiếm các quốc gia Chiêm Thành, Chân Lạp... và tiêu diệt hoặc đồng hóa các dân tộc ấy, khiến nay dân tộc ta bị... quả báo. Nói vậy là không hiểu biết gì cả về lịch sử.
Tổ tiên ta xưa ở vào thế tự vệ giữa hai gọng kềm, phương Bắc hiếp xuống, phía Nam đánh phá lên, không bao giờ yên ổn, nên tổ tiên ta bắt buộc phải chống lại sự xâm lược của chúng. Cách hay nhất để khỏi phải động binh đánh giặc liên miên là đánh bại chúng hoàn toàn và thu lấy đất nước của chúng.
Nước Tàu lớn quá, Lý Thường Kiệt chỉ bẻ gẫy mưu toan của nhà Tống tấn công chúng ta, mà không... đánh chiếm cả nước nó được. Nhưng với các quốc gia phía dưới luôn tỏ ra thù địch thì phải dẹp yên. Tuy vậy, sau khi đánh thắng và chiếm được đất nước của chúng, các vua ta chỉ đặt người cai trị về mặt chính quyền, hoặc thường là để họ được tự trị, và KHÔNG HỀ BAO GIỜ CÓ CHỦ TRƯƠNG ĐỒNG HÓA HAY HỦY DIỆT VĂN HÓA CỦA HỌ, như người Tàu đã làm với ta, và KHÔNG HỀ BAO GIỜ CÓ CHỦ TRƯƠNG BUỘC HỌ RỜI BỎ NGÔN NGỮ CỦA DÂN TỘC HỌ ĐỂ ÁP ĐẶT VĂN HÓA NGÔN NGỮ CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM.
Chính vì vậy, dù dân tộc họ chỉ còn là thiểu số nằm lọt thỏm vào giữa đất nước và dân tộc Việt Nam, nhưng họ vẫn còn bảo tồn được ngôn ngữ, phong tục tập quán riêng biệt của họ, thậm chí cả chế độ mẫu hệ của người Chàm. Điều này hoàn toàn không phải là kết quả của sự chống đồng hóa hay sức mạnh tinh thần nào của dân tộc họ như được hiểu lầm. Đó là do họ không phải trải qua chính sách đồng hóa khốc liệt như của người Tàu đối với dân ta. Có thể nói cách khác: ĐÓ LÀ KẾT QUẢ TỪ LÒNG KHOAN DUNG CỦA NGƯỜI VIỆT.
Nói chuyện các thân vương nhà Lý Việt Nam ở Triều Tiên và Hàn Quốc.
Sau khi nhà Lý mất ngôi về tay nhà Trần, các hoàng tử nhà Lý như Lý Dương Côn, Lý Long Tường đưa quyến thuộc và binh lính bản bộ chạy sang Cao Ly tỵ nạn và sinh sống ở cả Triều Tiên và Nam Hàn từ đó đến nay. Họ đã hoàn toàn “biến thành” người Triều Tiên hay người Nam Hàn chưa? Chúng ta không có dữ liệu để kết luận, chỉ biết là ngay khi mới đặt chân lên đất nước đó, với tư cách thân vương của một triều đại ở Việt Nam, và với tài năng của bản thân họ, các hoàng tử họ Lý rất được triều đình Cao Ly trọng thị. Thêm vào đó, tình cờ họ Lý của họ cũng là quốc tính của Cao Ly, nên ngay từ đầu họ đã được gia nhập vào giới thượng lưu của vương quốc này, chớ không chịu thân phận ngoại kiều “ăn nhờ ở đậu” (dù thực tế ban đầu là thế)
Có thể với những điều thuận lợi đó, họ không bị cách ly với dân bản địa, mà nhanh chóng hòa nhập vào xã hội mới. Nhưng mấy năm trước đây con cháu nhiều đời của các thân vương họ Lý lịch sử đó đã tìm về Việt Nam bái yết linh vị Bát Đế tổ tiên họ sau gần một ngàn năm “đứt rễ” với quê hương. Và họ xác nhận nguồn gốc Việt Nam của mình. Trước đó, Tổng thống Lý Thừa Vãn của Đại Hàn cũng từng thừa nhận tổ tiên mình là người Việt.
Chúng ta không biết các hậu duệ nhiều đời của vương triều họ Lý Việt Nam này ở Triều Tiên và Hàn Quốc còn nhớ tiếng Việt nào hay không, nhưng một cộng đồng thiểu số người Việt sống ngay trong đất nước Trung Quốc từ rất lâu đời vẫn còn giữ phong tục và ngôn ngữ Việt cổ. Nhóm người Việt thiểu số đó được chính phủ Trung Quốc chính thức công nhận và gọi họ là người dân tộc Kinh. Gõ vào Google mấy chữ “Dân tộc Kinh ở Trung quốc” sẽ có nhiều thông tin.
Trước đây ít lâu, tôi có đọc thấy thông tin Giáo sư Tiến sĩ Bác Sĩ Trần Đại Sĩ (Giám-đốc Trung-quốc sự vụ tại viện Pháp-á [Institut Franco-Asiatique] và Giáo-sư trường y khoa Arma, Paris) ở Pháp, tường trình đã phát hiện một địa phương nhỏ ở bên Trung quốc (tôi không nhớ vùng nào) mà dân cư ở đó là người Việt cổ từ thời Hai Bà Trưng; họ có các đền thờ thờ hai bà Trưng và các nữ tướng của hai Bà từ đó đến nay. Các cư dân người Việt cổ này còn giữ nhiều phong tục cổ xưa của người Việt, và họ nói tiếng Việt cổ.
Đó là những nhóm người Việt nhỏ sống giữa “đại dương” người Tàu, chịu đựng và chống chọi lại sức đồng hóa mãnh liệt của họ từ hàng ngàn năm qua. Các sự kiện đó nói lên điều gì về người Việt?
Tôi có biết một số gia đình người Việt Nam là thế hệ thứ ba của những người Tàu một trăm phần trăm; và chỉ mới thế hệ thứ ba thôi, tuy ngoài việc còn nhớ ông cố mình là người Tàu, họ không hề có thêm một khái niệm nào nữa về tổ tiên bên Tàu của họ, chưa nói tâm tình, suy nghĩ, văn hóa của họ là Việt Nam một trăm phần trăm. Thậm chí họ cũng căm giận người Tàu xâm lăng, phi nhân, độc địa, vân vân, như tâm tình của bất cứ một người Việt nào.
Có thể có những gia đình khác phải đến thế hệ thứ tư hoặc thứ năm mới xảy ra hiện tượng đó. Mà như thế là sau “n” thế hệ, người Tàu đã bị Việt hóa mất tăm, trong khi sau hàng ngàn năm người Việt thiểu số sống trong lòng nước Tàu vẫn còn là người Việt. Nhận xét của Tiến sĩ giáo sư sử học Keith Weller Taylor trong sách “The Birth of Vietnam” là đúng chớ?
“Việt Nam tiếp nhận văn minh Trung quốc mà không làm mất bản tính của mình. […] Sau một hay nhiều thế hệ cư trú ở Việt Nam, các di dân Trung quốc, bất kể ngoài mặt họ tỏ ra trung thành với các lý tưởng thiên triều Trung quốc, họ không thể nào không chịu ảnh hưởng từ các giá trị và kiểu thức của xã hội Việt Nam.”(Việt Nam received Chinese civilization without losing its own personality. […] After a generation or more of residence in Việt Nam, Chinese immigrants no matter how outwardly loyal they may have remained to the imperial ideals of China. Could not helped being influenced by the values and patterns of Vietnamese society. - The Birth of Vietnam, 130.)
“Dù chịu sự kiểm tra và đánh thuế từ các quan lại Tàu, người Việt Nam vẫn giữ nguyên bản chất của mình. Họ không bao giờ để mất ngôn ngữ mẹ đẻ với những cảm xúc và tư tưởng riêng biệt của dân tộc hàm chứa trong ngôn ngữ ấy. Họ không bao giờ mất niềm tin vào quá khứ và di sản của dân tộc trong quá khứ.” (Although registered and taxed by Chinese officials, the Vietnamese remained true to themselves. They never lost their language, with the distinctive emotions and thoughts it evokes. They never broke faith with their past and its heritage. - The Birth of Vietnam, page 181)
“Di dân người Hán bị Việt Nam hóa dễ hơn là người Việt bị Hán hóa.” (Han immigrants were more effectively “Vietnamized” than the Vietnamese were sinicized” - The Birth of Vietnam, page 53)
Tạm bấy nhiêu đó. Và tôi sẽ không có thì giờ thảo luận thêm về chuyện này. Xin hẹn vào lúc khác.

Thiếu Khanh

[1] Về chuyện “Hùng Vương là Nam hay Nữ,” xin đọc Thiếu Khanh, The Birth of Vietnam – Dịch và Ngẫm Nghĩ:
~~oOo~~
Nguồn:
__._,_.___

Posted by: "Patrick Willay" 

__._,_.___

Posted by: "Patrick Willay

Thursday, 6 April 2017

Toà Bạch Ốc hay Nhà Trắng?


.....Nhân tiện nói luôn. Người Việt hải ngoại dần dần bị đồng hoá với cộng nô khi dùng toàn ngôn ngữ của báo chí trong nước. Nghe cứ giật mình tưởng rằng đang nghe các loa phường.
Việc tiếp tay nầy do báo chí truyền Thông hải ngoại và các "Nhà truyền Thông" trên các diễn đàn. Cứ nghe trên radio và đọc Internet sẽ biết. Tội nghiệp!

Objet :  Toà Bạch Ốc hay Nhà Trắng?

 
Hiện nay một số đông người Việt ở hải ngoại lấy nguyên các bản tin ở trong nước rồi phổ biến lan tràn trên các diễn đàn YahooGroups và nhất là các trang tin VOA và BBC, cho nên một số danh từ ở trong nước trở nên thông dụng ở hải ngoại, thí dụ: Nhà Trắng dần dần thay thế Tòa Bạch Ốc. Vậy thì Nhà Trắng hay Tòa Bạch Ốc, cái nào đúng?
Trong thời kỳ chiến tranh, danh từ The White House được hai miền nam-bắc dịch khác nhau. Miền Nam dịch là Tòa Bạch Ốc. Miền Bắc dịch với tính cách khinh thị (coi nhẹ) là Nhà Trắng. Dù người Mỹ dùng chữ “house” thí dụ, House of Representatives nhưng không thể dịch là “Nhà Đại Biểu” mà phải dịch là Hạ Nghị Viện cũng giống như House of Commons tức Hạ Nghị Viện Anh. Theo tôi nghĩ, nơi ở, nơi làm việc của các vị nguyên thủ quốc gia không thể gọi là “nhà” mà phải dịch là Dinh, Điện hay Phủ. Thí dụ: Điện Kremlin, Điện Versailles, Dinh Độc Lập, Dinh Thống Đốc, Dinh Thống Sứ, Phủ Toàn Quyền, Phủ Chủ Tịch…
Chiến tranh đã qua đi hơn 40 năm, hai bên đã khép lại quá khứ. Việt-Mỹ đã ký thỏa ước hợp tác toàn diện (Comprehensive Partnership) . Bình thường hóa ngoại giao và hợp tác toàn diện có nghĩa là hai bên gắn bó và tôn trọng lẫn nhau. Việt Nam phải tôn trọng người Mỹ và người Mỹ dĩ nhiên cũng phải tôn trọng Việt Nam. Do đó, danh từ Nhà Trắng nên bỏ đi. Theo tôi, The White House ở trong nước nên dịch là: Tòa Bạch Ốc hay Bạch Dinh cho có vẻ trang trọng. (Vũng Tàu có Bạch Dinh là nơi nghỉ mát của Vua Bảo Đại).
Sau khi có sự phân tích như vậy, thì người Việt ở hải ngoại và những người hiểu biết trong nước nên dùng danh từ Tòa Bạch Ốc thay vì Nhà Trắng để bày tỏ sự tôn trọng đất nước Hoa Kỳ.
Đào Văn Bình
(California ngày 5/4/2017 )
Nhân tiện nói luôn. Người Việt hải ngoại dần dần bị đồng hoá với cộng nô khi dùng toàn ngôn ngữ của báo chí trong nước. Nghe cứ giật mình tưởng rằng đang nghe các loa phường.
Việc tiếp tay nầy do báo chí truyền Thông hải ngoại và các "Nhà truyền Thông" trên các diễn đàn. Cứ nghe trên radio và đọc Internet sẽ biết. Tội nghiệp!
__._,_.___

Posted by: "Patrick Willay" 

Tuesday, 4 April 2017

Diễn tiến tư tưởng Phan Châu Trinh



....Ông đã góp phần vận động cải cách văn hóa, thay thế chữ Hán bằng Quốc ngữ, và nhất là ông đã góp phần chuyển hóa rộng rãi tâm lý và não trạng (mentality) của cả một dân tộc, từ quan niệm quân chủ, tiến đến dân quyền và dân chủ, chuẩn bị tâm lý và tinh thần quần chúng cho hoạt động của Việt Nam Quốc Dân Đảng.
 

Diễn tiến tư tưởng Phan Châu Trinh

Trần Gia Phụng
Image result for Diễn tiến tư tưởng Phan Châu Trinh

- Chữ “tư tưởng” có hai nghĩa; 1) Nghĩa rộng là hệ thống suy tư về những vấn đề trọng đại có tính thuần lý, nhằm hướng dẫn con người theo một đường lối nào  đó, ví dụ tư tưởng Phật giáo, tư tưởng Thiên Chúa giáo… 2) Nghĩa hẹp là sự suy nghĩ hay ý kiến của một người về các vấn đề thông thường trong cuộc sống. Sự suy nghĩ nầy sẽ hướng dẫn người đó hành động nhằm thực hiện các ý định của mình. Phan Châu Trinh (PCT) là một nhà hoạt động hơn là một nhà lý thuyết, nên ở đây, xin trình bày diễn tiến tư tưởng PCT theo nghĩa thứ hai.

1.- Hạt giống Cần Vương: Đầu tiên, PCT hấp thụ tư tưởng Cần vương ngay khi còn niên thiếu. Nguyên vào năm 1885, vua Hàm Nghi rời Huế, mở cuộc Cần vương chống Pháp. Phụ thân của PCT là Phan Văn Bình, người huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ, gia nhập nghĩa quân Cần vương do Nguyễn Duy Hiệu tức Hường Hiệu chỉ huy ở Quảng Nam Ông Bình phụ trách vận lương ở đồn điền A Bá, đem theo PCT mới 13 tuổi, lên chiến khu, luyện tập võ nghệ để gia nhập Cần vương. Năm 1887, Nguyễn Thân đem quân đánh Tam Kỳ. Ông Hường Hiệu nghi ngờ những người gốc Tam Kỳ làm phản, ra lệnh giết ông Bình. Lúc đó, PCT 15 tuổi, về sống với người anh Cả, theo Nho học trở lại.

2.- Nền tảng Nho giáo: Dùi mài kinh sử hơn 10 năm, PCT (28 tuổi) đỗ cử nhân tại trường thi Thừa Thiên năm 1900 và đỗ phó bảng năm 1901. Vì người anh Cả từ trần, PCT ở nhà chịu tang 2 năm, rồi ra Huế năm 1903, giữ chức thừa biện bộ Lễ. Thừa biện là một chức sự nhỏ khởi đầu sự nghiệp quan lại ở triều đình, chuẩn bị để được phân phối phụ trách những chức vụ quan trọng hơn. Khi học hành theo Tứ thư, Ngũ kinh, rồi đỗ đạt và ra làm quan, chắc chắn PCT là một người thấm nhuần tư tưởng Nho giáo.

3.- Tư tưởng Duy Tân: Khi ra Huế làm quan, PCT tiếp xúc với học giới cấp tiến. Nhờ vậy, PCT đọc được bài “Thiên hạ đại thế luận” của Nguyễn Lộ Trạch (1843-1898), người làng Kế Môn, tỉnh Thừa Thiên. Ông Trạch học giỏi nhưng không thích thi cử, nhiều lần viết điều trần lên vua Tự Đức, đề nghị canh tân đất nước, nhưng không được vua chấp nhận. Nhân đề tài kỳ thi đình tại Huế năm 1892, Nguyễn Lộ Trạch viết bài “Thiên hạ đại thế luận”. (Luận bàn chuyện đại thế trong thiên hạ)

Trong bài nầy, Nguyễn Lộ Trạch trình bày tình hình suy thoái của Trung Hoa, sự tiến bộ và phát triển của Nhật Bản, sự chậm tiến và yếu kém của Việt Nam, và ông đưa ra những đề nghị chỉnh đốn giáo dục, chấn hưng nông nghiệp, công nghệ, thương mại, truyền bá khoa học kỹ thuật Âu tây. Một lần nữa, kế sách nầy không được triều đình xét đến. Mãi cho đến khi Nguyễn Lộ Trạch qua đời năm 1898, thì tác phẩm của ông mới được giới sĩ phu đầu thế kỷ 20 chú ý và nghiên cứu.

Ngoài Nguyễn Lộ Thạch, PCT còn đọc nhiều sách mà đương thời gọi là “tân thư” (sách mới) của các tác giả Trung Hoa là Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, và của các tác giả Tây phương được dịch qua chữ Hán và du nhập vào Việt Nam như Montesquieu, Rousseau, Voltaire, Diderot ..

Nhận thấy duy tân là sinh lộ có thể cứu nước, PCT từ quan năm 1904, bắt đầu dấn thân vào con đường duy tân. Lúc đó, làm quan là cánh cửa công danh phú quý cho các nhà khoa bảng, nhiều người ước mơ. Thế mà PCT dứt khoát từ quan, dấn thân tranh đấu vô vị lợi, chứng tỏ tấm lòng yêu nước thiết tha tiềm ẩn trong tâm tư PCT từ những ngày đầu lập thân. Phải nói đây là một quyết định quan trọng ảnh hưởng đến cả một đời người. Như thế, từ tư tưởng Nho giáo, PCT chuyển qua tư tưởng duy tân.

Phan Châu Trinh trở về Quảng Nam, và cùng một số thân hữu như Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Lê Bá Trinh, Phan Thúc Duyện... mở cuộc vận động duy tân. Các ông không đặt tên cho phong trào của mình. Về sau sử sách gọi đây là Phong trào duy tân (PTDT). Các ông không trình lên triều đình Huế chương trình duy tân, mà các ông tự đứng ra vận động duy tân trực tiếp với dân chúng về nhiều mặt.

Chủ trương duy tân của các ông bao trùm ba lãnh vực: “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”. Xin chú ý “khai dân trí” không phải chỉ mở mang hiểu biết của dân chúng giáo dục, kỹ thuật, khoa học, y tế, kinh tế…, mà còn mở mang hiểu biết về chính trị, về dân quyền, về dân chủ. Chấn dân khí là nâng cao tinh thần dân chúng, và hậu dân sinh là phát triển đời sống dân chúng (dân sinh) được trọng hậu, sung túc.

Để nâng cao dân trí, PTDT kêu gọi bỏ chữ Nho (chữ Hán), bỏ lối thi cử từ chương cổ điển, chuyển qua dùng Quốc ngữ, vì Quốc ngữ dễ học, dễ viết, dễ nhớ, dễ phổ biến và có thể dùng làm phương tiện để phát triển đất nước. Phong trào duy tân Quảng Nam lập được khoảng 40 lớp, dạy Quốc ngữ tại các huyện trong tỉnh nhà. (Theo lời kể của bà Phan Thị Liên, con gái đầu của PCT cho người viết tại Đà Nẵng vào cuối thập niên 60. Bà Liên khi nhỏ là học sinh của một trong những trường nầy.)

Chẳng những ở Quảng Nam, năm 1905 các ông còn đi vận động duy tân ở các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Bình Thuận. Tại Bình Định, các ông dùng tên chung là Đào Mộng Giác, viết các bài thơ “Chí thành thông thánh thi” (PCT) và bài phú “Danh sơn lương ngọc phú” (Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp), đả kích lối học từ chương, thức tỉnh đồng bào, kêu gọi lòng yêu nước của sĩ phu. Bài thơ “Chí thành...” của PCT có những câu hô hào rất hùng hồn: “...Vạn dân nô lệ cường quyền hạ / Bát cổ thi văn túy mộng trung / Trường thử bách niên cam thóa mạ / Bất tri hà nhựt xuất lao lung...”. (Vạn dân làm tôi tớ dưới ách cường quyền / Mà vẫn say sưa trong giấc văn chương tám câu / Suốt cả trăm năm bị người mắng nhiếc / Không biết ngày nào ra khỏi tù ngục...) Tại Bình Thuận, PCT khuyến khích các nhân sĩ địa phương lập công ty thương mại Liên Thành và mở trường Dục Thanh dạy quốc ngữ.

Sau phương Nam thì đến phương Bắc. Năm 1906 PCT đến Hà Nội, giúp các nhân sĩ Hà Nội lập Đông Kinh Nghĩa Thục. Phan Châu Trinh còn đi diễn thuyết ở một số tỉnh gần Hà Nội để kêu gọi duy tân.

4.- Tư tưởng Dân Quyền: Nhân chuyến ra Hà Nội năm 1906, PCT tiếp tục qua Nhật Bản quan sát vì lúc đó, Nhật Bản rất nổi tiếng sau cuộc canh tân của Minh Trị Thiên Hoàng. Trên đường đi, tại Quảng Châu (Trung Hoa), PCT gặp Phan Bội Châu, và cả hai cùng qua Nhật Bản. Từ Nhật Bản trở về, PCT khẳng định với Phan Bội Châu: "Chỉ nên đề xướng dân quyền, dân đã biết có quyền thì việc khác có thể tính lần được." (Phan Bội Châu, Tự phán hay Phan Bội Châu niên biểu, đăng trong sách Phan Bội Châu toàn tập, tập 6, Chương Thâu sưu tầm, Huế: Nxb. Thuận Hóa, 1990, tr. 116.)

Kết quả cuộc “đề xướng dân quyền” nổi bật nhứt là các cuộc biểu tình rầm rộ, xin hạ thuế, giảm xâu của dân chúng các tỉnh miền Trung, từ tháng 3 đến tháng 6 năm 1908. Phan Châu Trinh không tổ chức các cuộc biểu tình nầy, nhưng những bài viết và hô hào của PCT ảnh hưởng mạnh mẽ đến quần chúng, nhứt là quần chúng Quảng Nam, đã đưa đến các cuộc biểu tình nầy.

Biểu tình bùng nổ đầu tiên ở Quảng Nam ngày 11-3-1908. Pháp bắt liền PCT đang ở Hà Nội ngày 31-3. Lúc đó, Louis Bonhoure (quyền toàn quyền Đông Dương từ 28-2-1908 đến 23-9-1908) cho rằng thơ văn PCT, tuy không tỏ ra bạo động như Phan Bội Châu, nhưng nguy hiểm hơn Phan Bội Châu cho sự thống trị của người Pháp. (Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối cùng nhà Nguyễn tập 2, Houston: Nxb. Văn Hóa, 2000, tt. 618-619.) Ngoài ra, Pháp còn bắt các nhà vận động duy tân khác trên toàn quốc như Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Thúc Duyện, Lương Văn Can, Nguyễn Quyền...

Nhờ Hội Nhân Quyền Pháp can thiệp, PCT không bị tử hình như Trần Quý Cáp, mà bị đầy đi Côn Lôn (Côn Đảo), và bị đưa về an trí ở Mỹ Tho giữa năm 1910. Theo yêu cầu của PCT, Pháp cho ông cùng với con trai là Phan Châu Dật rời Sài Gòn qua Pháp ngày 1-4-1911. (Lê Thị Kinh, Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới, Nxb. Đà Nẵng, tt. 205-2012.)

5.- Tư tưởng Dân Chủ: Nước Nhật tuy tiến bộ, nhưng là nước quân chủ, nên PCT chỉ học được “dân quyền”. Qua Pháp, tiếp xúc với văn hóa Pháp, cái nôi của cách mạng 1789, PCT tiến thêm một bước nữa, tiếp thu tư tưởng dân chủ. Do quan niệm dân chủ, PCT mạnh dạn gởi thư “Thất điều” ngày 15-7-1922, kể bảy tội của vua Khải Định (trị vì 1917-1925) nhân dịp nhà vua sang Pháp tham dự cuộc đấu xảo (triển lãm) quốc tế tại Marseille. Bảy điều đó là: “Tôn bậy quân quyền, lạm hành thưởng phạt, thích chuộng sự quỳ lỵ, xa xỉ quá độ, ăn bận không phải lối, tội chơi bời, chuyến đi tây có sự ám muội.” Thư nầy được báo chí Pháp dịch đăng ở Paris, gây một tiếng vang lớn trong dư luận thời đó.

Khi PCT từ Pháp về Sài Gòn tháng 6-1925, thì ông được tin vua Khải Định từ trần ngày 6-11-1925 ở Huế. Phan Châu Trinh liền gởi điện tín cho khâm sứ Pháp tại Trung Kỳ, đề nghị đình chỉ việc tôn lập vua mới và lập Hội đồng nhân sĩ bàn việc cải cách quốc gia. (Nguyễn Văn Dương, Tuyển tập Phan Châu Trinh, Nxb Đà Nẵng, 1995, tr. 53.)

Trong tháng 11-1925, PCT diễn thuyết hai lần tại Nhà Hội Thanh Niên ở Sài Gòn: Ngày 19-11 về đề tài “Đạo Đức và luân lý đông tây”; lần thứ hai ngày 27-11-1925 về đề tài “Quân trị chủ nghĩa và dân trị chủ nghĩa”. Trong bài thứ hai, PCT cho rằng quân chủ là một chế độ có tính cách “nhân trị”, nghĩa là việc cai trị dựa trên ý kiến chủ quan cá nhân của nhà vua, chứ không dựa trên luật pháp, dễ đưa đến độc tài, chuyên chế. Trong bài nầy, PCT nhấn mạnh: “...Vì cái độc quân chủ mà nó giết hẳn cái lòng ái quốc của dân Việt Nam ta...” (Nguyễn Văn Dương, sđd. tr. 813) Ông hô hào thiết lập chế độ “dân trị tức pháp trị”, tổ chức xã hội trên căn bản pháp luật công bình. Mọi thành phần xã hội, từ người đứng đầu quốc gia đến người cùng đinh, đều phải chịu sự chế tài của luật pháp, đều được xét xử như nhau trước pháp luật

Sau hai bài diễn văn nầy, sức khỏe PCT yếu dần. Qua đầu năm 1926, bịnh phổi của PCT càng ngày càng nặng. Ông từ trần tại Sài Gòn lúc 9g30 tối 24-3-1926, lúc 54 tuổi.

6.- Chống cộng sản và chống cầu viện: Điểm đặc biệt trong diễn tiến tư tưởng PCT là ông dừng lại ở tư tưởng dân chủ và chống chủ nghĩa cộng sản (CS). Xin chú ý ở Âu Châu từ sau bản “Tuyên ngôn cộng sản” (The communist manifesto) năm 1848, và sau sự thành công của cách mạng CS ở Nga năm 1917, phong trào CS lên rất cao vào đầu thế kỷ 20. Tại Pháp, đảng CS được thành lập cuối năm 1920. Trong đảng nầy, có một người Việt là Nguyễn Ái Quốc (NAQ), về sau có tên là Hồ Chí Minh.

Vua Khải Định chỉ đến Pháp trong một thời gian ngắn vào năm 1922 mà cũng biết đến đảng nầy. (Eugène Teston và Maurice Bercheron, L’Indochine moderne, Paris: Librairie de France, 1931, tr. 55.) Vua Khải Định mà biết, thì chắc chắn PCT ở Paris lúc đó cũng biết, nhưng ông không tin vào chủ nghĩa CS. Khi được tin NAQ hoạt động cho CS, PCT viết thư gởi NAQ vào năm 1922, cho rằng việc NAQ theo quốc tế CS để giành độc lập cho Việt Nam, “thì quốc dân đồng bào vẫn nguyên là cái lưng con ngựa, chỉ thay người cỡi mà thôi”. (Ngô Văn, Việt Nam 1920-1945, Amarillo TX: Nxb. Chuông Rè, 2000, tr. 39.).

Về việc nhờ nước ngoài để chống Pháp, thì tại Hà Nội năm 1907, PCT viết bài “Hiện trạng vấn đề” bằng chữ Nho (chữ Hán), đăng trên Đại Việt Tân Báo (tức Đăng Cổ Tùng Báo đổi tên), theo đó, trong phần kết luận, PCT viết như sau: “Vậy xin nói lời chính cáo cùng người nước ta rằng: “Không bạo động, bạo động tất chết! Không trông người nước ngoài, trông người nước ngoài tất ngu! Đồng bào ta, người nước ta, ai mà ham mến tự do, tôi xin có một vật rất quý báu tặng cho đồng bào, là “Chi bằng học”. (Huỳnh Thúc Kháng dịch, và đăng trên báo Tiếng Dân ở Huế số 613, ngày 9-8-1933.)

Vì PCT hô hào dân quyền, chống cầu ngoại viện, kêu gọi phát triển dân chủ, can gián NAQ đừng theo CS, mà đảng CS đả kích PCT. Trong một bài thơ, Tố Hữu mỉa mai PCT như sau: “Muôn dặm đường xa, biết đến đâu?/ Phan Châu Trinh lạc lối trời Âu...” (Bài “Theo chân Bác”, Tố Hữu viết năm 1970.)

Trên thực tế, PCT không lạc lối ở trời Âu, mà ông đã học được kinh nghiệm dân chủ ở trời Âu. Ngược lại, chính HCM mới lạc lối ở hội nghị Tours (Pháp) năm 1920 và sau đó lạc lối qua tận Moscow (Nga) năm 1923, rồi nhập cảng chủ nghĩa CS về làm hại đất nước chúng ta cho đến ngày nay.

Kết luận

Dù sống dưới chế độ quân chủ, tư tưởng PCT chuyển biến theo hướng ngược lại, từng bước theo tiến trình hoạt động của ông: từ Cần vương, qua Nho giáo, rồi duy tân, tiến lên dân quyền và dừng lại ở dân chủ, mà ngày nay, một thế kỷ sau PCT, cả thế giới đang cố gắng thực hiện.

Trong suốt cuộc đời hoạt động của ông, PCT luôn luôn tranh đấu bất bạo động. Ông đã góp phần vận động cải cách văn hóa, thay thế chữ Hán bằng Quốc ngữ, và nhất là ông đã góp phần chuyển hóa rộng rãi tâm lý và não trạng (mentality) của cả một dân tộc, từ quan niệm quân chủ, tiến đến dân quyền và dân chủ, chuẩn bị tâm lý và tinh thần quần chúng cho hoạt động của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Ông chủ trương bất bạo động từ năm 1904, đi trước cả phong trào bất bạo động của Gandhi ở Ấn Độ.

Đặc biệt, PCT diễn thuyết rất hay đến nỗi vua Khải Định, tuy đã từng bị PCT chỉ trích khi qua Pháp năm 1922, vẫn khen PCT là người có tài hùng biện (Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên đệ thất kỷ, Cao Tự Thanh dịch, Tp. HCM: Nxb Văn Hóa-Văn Nghệ, 2012, tr. 339.)

Cuối cùng, như đã viết ở trên, điểm đặc biệt là PCT dừng lại ở tư tưởng dân chủ, chống lại chủ nghĩa CS. Chủ nghĩa CS thất bại trên thế giới và tại Việt Nam, chứng nghiệm sự sáng suốt của PCT. Dân chủ là giấc mơ của PCT cách đây 100 năm. Dân chủ hiện vẫn còn là giấc mơ của toàn dân Việt Nam ngày nay và dân chủ là điểm hẹn của dân tộc Việt Nam trong tương lai.

Thực dân Pháp và cộng sản Việt Nam lên án PCT, nhưng giới học giả Hoa Kỳ nhận rõ chân giá trị tư tưởng PCT, nên tổng thống Barack Obama, trong bài diễn văn ngày 24-05-2016 tại “Trung tâm hội nghị quốc gia Mỹ Đình” ở Hà Nội, đã tiết lộ rằng khi đại học Fulbright mở ra vào mùa thu 2016 tại Sài Gòn, thì sinh viên, học giả, giới nghiên cứu có thể tập trung tìm hiểu nhiều vấn đề, trong đó có cả “triết lý Phan Chu Trinh” (“philosophy of Phan Chu Trinh”).

Phải nhấn mạnh tất cả các điều trên đây để thấy rõ sự sáng suốt của PCT, thấy rõ viễn kiến của PCT, cũng như thấy rõ công trình tiên phong vận động văn hóa và dân chủ bất bạo động của PCT, một người yêu nước thiết tha, sáng suốt, vô vị lợi, trọn đời tận tụy hy sinh phục vụ dân tộc.

03.04.2017

Trần Gia Phụng
__._,_.___

Posted by: "Patrick Willay" 

Monday, 3 April 2017

Tháng Tư: Gọi Tên Cuộc Chiến

...Việt Nam cũng thế. Chính sử vẫn đang được viết không phải từ những người đang đón tiếp bà mà bằng những người đang ngồi trong tù, đang bị hành hạ, đày ải, trấn áp dưới nhiều hình thức. Khát vọng độc lập, tự do, từ những ngày đầu tháng 9, 1859 ở Cẩm Lệ, Quảng Nam, nơi máu của Đô Thống Lê Đình Lý chảy xuống cho đến hôm nay, vẫn cùng một dòng và chưa hề gián đoạn. 

 

Tháng Tư: Gọi Tên Cuộc Chiến

Trần Trung Đạo



Giáo sư Drew Gilpin Faust, Viện trưởng Viện Đại Học Harvard viếng thăm Đại học Fulbright Việt Nam. Nhân dịp này bà đọc một diễn văn tại Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn. Phần khá dài của diễn văn, bà dành để nói về Chiến tranh Việt Nam, nội chiến Hoa Kỳ và hòa giải Nam Bắc Mỹ.
Trong suốt diễn văn bà Drew Faust không hề nhắc đến sự chịu đựng của người dân miền Nam Việt Nam hay nhắc đến Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), chính phủ đại diện cho hơn một nửa dân số Việt Nam ngày đó.

Người viết không nghĩ bà dè dặt hay không muốn làm buồn lòng quốc gia chủ nhà. Nhưng giống như một số khá đông các trí thức Mỹ trước đây, sau 44 năm từ khi các đơn vị trực tiếp chiến đấu Mỹ rút khỏi Việt Nam vào tháng Ba năm 1973, bà vẫn chưa nhìn sâu được vào bản chất của cuộc Chiến tranh Việt Nam.

Việt Nam trong diễn văn của bà Drew Faust là Cộng Sản Việt Nam.

Bà Drew Faust không hiểu được trên con đường Việt Nam đầy máu nhuộm chạy dài suốt 158 năm, từ khi viên đại bác của  Rigault de Genouilly bắn vào Sơn Chà, Đà Nẵng sáng ngày 1 tháng 9, 1859 cho tới hôm nay, nhiều triệu người Việt đã hy sinh vì độc lập tự do dân tộc. Đảng CS là một nhóm rất nhỏ, và chỉ ra đời vào tháng 3, 1930. Cộng Sản thắng chỉ vì họ có mục đích thống trị rõ ràng, dứt khoát, kiên trì và bất chấp mọi phương tiện để hoàn thành mục tiêu đã vạch ra.

Bà Drew Faust là người học nhiều, hiểu rộng. Chắc chắn điều đó đúng. Nhưng nghe một câu chuyện và cảm thông với những nạn nhân trong câu chuyện là một chuyện khác. Ngôn ngữ không diễn tả được hết nỗi đau và đôi mắt thường không thấy được những vỡ nát bên trong một vết thương.


Chính sử vẫn còn sống, vẫn chảy nhưng chỉ được hiểu bằng nhận thức khách quan, tinh tế, chia sẻ với những tầng lớp người đang chịu đựng thay vì đứng về phía giới cầm quyền cai trị.

Là một sử gia, bà biết lịch sử được viết bởi kẻ cưỡng đoạt không phải là chính sử. Chính sử vẫn còn sống, vẫn chảy nhưng chỉ được hiểu bằng nhận thức khách quan, tinh tế, chia sẻ với những tầng lớp người đang chịu đựng thay vì đứng về phía giới cầm quyền cai trị. 

Một ví dụ về chính sử. Năm 1949 tại Trung Cộng, trong cuộc bỏ phiếu bầu chức vụ Chủ tịch Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, Mao tin tưởng tuyệt đối 547 đại biểu sẽ bỏ phiếu cho ông ta. Không, chỉ có 546 người bỏ phiếu thuận, nhà nghiên cứu triết học Zhang Dongsun bỏ phiếu chống lại Mao. Ông bị đày đọa và chết trong tù nhưng lịch sử Trung Hoa ngày sau sẽ nhớ đến ông như một người viết chính sử Trung Hoa.

Việt Nam cũng thế. Chính sử vẫn đang được viết không phải từ những người đang đón tiếp bà mà bằng những người đang ngồi trong tù, đang bị hành hạ, đày ải, trấn áp dưới nhiều hình thức. Khát vọng độc lập, tự do, từ những ngày đầu tháng 9, 1859 ở Cẩm Lệ, Quảng Nam, nơi máu của Đô Thống Lê Đình Lý chảy xuống cho đến hôm nay, vẫn cùng một dòng và chưa hề gián đoạn. 

Nhân dịp tháng Tư năm 2017, người viết xin phân tích một số định nghĩa về nội dung của cuộc Chiến tranh Việt Nam.

Chiến tranh Việt Nam là Chiến tranh Ủy nhiệm (Proxy War)?

Chiến tranh ủy nhiệm (Proxy War) là cuộc chiến tranh mà các quốc gia bên ngoài, thường là cường quốc, không tham gia trực tiếp cuộc chiến nhưng qua hình thức cung cấp võ khí, tài chánh cho các phe cánh, lực lượng trong quốc gia đó đánh nhau vì quyền lợi riêng của các phe nhóm này nhưng cũng tương hợp với quyền lợi của nước bên ngoài

Chiến tranh đang diễn ra tại Syria thường được báo chí gọi là chiến tranh ủy nhiệm.  Mỹ, Nga, Iran, Thổ, Anh, Pháp, Saudi Arabia và Qatar góp phần tàn phá Syria khi yểm trợ cho các phe nhóm, nhiều khi bất cần hành vi khủng bố của các phe nhóm này, để tranh giành ảnh hưởng và tài nguyên của vùng Trung Đông.

Không ít báo chí quốc tế và nhà nghiên cứu Chiến tranh Lạnh gọi chiến tranh Việt Nam trước khi Mỹ đổ bộ vào tháng Năm, 1965, là chiến tranh ủy nhiệm, trong đó Trung Cộng, Liên Xô một bên, Mỹ và đồng minh một bên.

Định nghĩa chiến tranh Việt Nam là chiến tranh ủy nhiệm chỉ đúng khi nhìn cuộc chiến từ quan điểm đế quốc dù là Mỹ, Liên Xô hay Trung Cộng chứ không phải từ vết thương, từ vị trí của nạn nhân buộc phải chiến đấu để sống còn như dân và quân miền Nam Việt Nam.

Như có lần người viết dẫn chứng, một người lính nghĩa quân gác chiếc cầu ở đầu làng để mấy anh du kích khỏi về giựt sập cũng là một biểu hiện hùng hồn của lý tưởng tự do và chủ quyền. Chiếc cầu là huyết mạch kinh tế của làng, là trục giao thông chính của làng, là vẻ đẹp của làng, và bảo vệ chiếc cầu là nhiệm vụ sống còn mà người lính nghĩa quân phải làm cho bằng được.

Không ai “ủy nhiệm” anh lính Nghĩa Quân cả. Anh không bảo vệ chiếc cầu giùm cho Mỹ mà cho chính anh và bà con trong thôn xóm của anh. Lý tưởng tự do của một dân tộc dù thiêng liêng vĩ đại bao nhiêu cũng bắt nguồn từ những hình ảnh nhỏ nhoi nhưng đầy ý nghĩa đó.

Trong phần lớn chiều dài của cuộc chiến, quyền lợi của Mỹ ở Đông Nam Á và quyền lợi của VNCH tương hợp. VNCH đã nhận hầu hết viện trợ quân sự của Mỹ kể cả nhân lực nhưng không đánh thuê cho Mỹ như CS tuyên truyền.

Sau Thông Cáo Chung Thượng Hải năm 1972 và Hiệp Định Paris năm 1973, chính sách của Mỹ tại Đông Nam Á thay đổi, quyền lợi VNCH và Mỹ do đó không còn tương hợp nữa. Mỹ rút quân và cắt giảm viện trợ quân sự quá chênh lệch so với nguồn viện trợ quân sự CSVN nhận từ Liên Xô, Trung Cộng và phong trào CS Quốc Tế.

Cho dù cạn kiệt nguồn cung cấp, quân và dân VNCH vẫn chiến đấu và hy sinh cho tự do của họ, không phải chỉ sau Hiệp định Paris 1973, không phải đến ngày 30-4-1975 mà cả sau 30-4-1975, hôm nay và cho đến khi chế độ CS còn hiện diện tại Việt Nam.

Chiến tranh Việt Nam là Nội chiến (Civil War)?

Nhiều người chỉ nhìn vào mái tóc, màu da, khuôn mặt, chủng tộc, dòng máu và kết luận chiến tranh Việt Nam là nội chiến. Thật ra, mái tóc, màu da, khuôn mặt, dòng máu chỉ là hình thức.

Thế nào là nội chiến?

Theo các định nghĩa chính trị học, Nội chiến (Civil War) là cuộc chiến tranh giữa hai thành phần có tổ chức trong cùng một quốc gia vốn trước đó thống nhất, mục đích của một bên là chiếm đoạt bên kia để hoàn thành ý định chinh phục lãnh thổ hay thay đổi chính sách nhưng không thay đổi thể chế.

Theo định nghĩa này, chiến tranh Nam-Bắc Mỹ là nội chiến, hoặc xung đột võ trang giữa chính phủ da trắng và Nghị Hội Toàn Quốc Nam Phi (African National Congress) gọi tắt là ANC chống chính sách Phân biệt Chủng tộc tại Nam Phi là nội chiến.

Bắc Mỹ dưới sự lãnh đạo của TT Abraham Lincoln thắng cuộc nội chiến Mỹ nhưng chỉ thay đổi chính sách nô lệ, trong lúc cơ chế chính trị và chính phủ cấp tiểu bang gần như không thay đổi nhiều.

Tại Nam Phi cũng vậy. Sau cuộc đấu tranh dài dưới nhiều hình thức, cuối cùng ANC đã thắng nhưng cũng chỉ hủy bỏ chính sách Phân Biệt Chủng Tộc (Apartheid) tại Cộng Hòa Nam Phi nhưng không xóa bỏ nền kinh tế thị trường tư hữu. Không chỉ cựu Tổng thống de Klerk trở thành cố vấn của TT Nelson Madela trong suốt nhiệm kỳ mà nhiều viên chức trong chính phủ của de Klerk, các tư lịnh quân binh chủng, lực lượng cảnh sát quốc gia đều tiếp tục nhiệm vụ của họ. 

Sau Hiệp định Geneva 1954, Việt Nam Cộng Hòa không có ý định chiếm đoạt lãnh thổ miền Bắc hay lật đổ cơ chế CS miền Bắc. Chính phủ và nhân dân VNCH hoàn toàn không muốn chiến tranh. Sau một trăm năm chịu đựng không biết bao nhiêu đau khổ dưới ách thực dân, mục đích trước mắt của nhân dân miền Nam là có được cơm no, áo ấm, có được cuộc sống tự do và xây dựng miền Nam thành một nước cộng hòa hiện đại.



Giấc mơ tươi đẹp của nhân dân miền Nam đã bị ý thức hệ CS với vũ khí của Liên Xô, Trung Cộng tàn phá vào buổi sáng 30-4-1975.

Sau khi VNCH bị cưỡng chiếm, đảng CSVN không phải chỉ thay đổi về chính sách như trường hợp Mỹ hay Nam Phi mà thay đổi toàn bộ cơ chế. Nói theo lý luận CS đó là sự thay đổi tận gốc rễ từ thượng tầng kiến trúc chính trị đến hạ tầng cơ sở kinh tế bằng các phương pháp dã man không thua kém Hitler, Mao, Stalin.

Do đó, gọi chiến tranh Việt Nam là nội chiến chỉ đúng về hình thức, nội dung vẫn là chiến tranh của các chính phủ và nhân dân miền Nam chống ý thức hệ CS xâm lược.

Chiến tranh Việt Nam là “Chiến tranh chống Mỹ Cứu Nước”?

Stalin, trong buổi họp với Mao và Hồ Chí Minh tại Moscow giữa tháng Hai, 1950 đã phó thác sinh mạng CSVN vào tay Trung Cộng. Theo William J. Duiker trong Ho Chi Minh: A Life, Stalin nói với Hồ Chí Minh tại Moscow “Từ bây giờ về sau, các đồng chí có thể tin tưởng vào sự giúp đỡ của Liên Xô, đặc biệt hiện nay sau thời kỳ chiến tranh, thặng dư của chúng tôi còn rất nhiều, và chúng tôi sẽ chuyển đến các đồng chí qua ngả Trung Quốc. Tuy nhiên vì điều kiện thiên nhiên, chính yếu vẫn là Trung Quốc sẽ giúp đỡ các đồng chí. Những gì Trung Quốc thiếu chúng tôi sẽ cung cấp.” Sau đó tới phiên Mao, y cũng lần nữa xác định với Hồ “Bất cứ những gì Trung Quốc có mà Viêt Nam cần, chúng tôi sẽ cung cấp.”

Theo Trương Quảng Hoa trong Hồi ký của những người trong cuộc, Hồ Chí Minh thưa với Mao trên xe lửa từ Liên Xô về Trung Cộng “Mao Chủ tịch, Stalin không chuẩn bị viện trợ trực tiếp cho chúng tôi, cũng không ký hiệp ước với chúng tôi, cuộc chiến tranh chống Pháp từ nay về sau chỉ có thể dựa vào viện trợ của Trung Quốc.”

CSVN hoàn toàn lệ thuộc vào Trung Cộng, không chỉ phương tiện chiến tranh, kinh tế, quốc phòng, hệ ý thức, cơ sở lý luận mà cả cách nói, cách ăn mặc, cách chào hỏi.  Mao gần như đơn phương quyết định mọi hoạt động quân sự của Việt Minh kể cả việc chọn ngày, chọn tháng cần phải chiếm Điện Biên Phủ.

Sau xung đột Eo Biển Đài Loan, và trầm trọng hơn, sau chiến tranh Triều Tiên với gần 400 ngàn quân Trung Cộng bị giết, trong số đó có Mao Ngạn Anh (Mao Anying), con trai trưởng và gần gũi nhất của Mao, từ đó kẻ thù lớn nhất của Mao Trạch Đông là Mỹ. Mao chỉ thị toàn bộ bộ máy tuyên truyền tại Trung Cộng phải chống Mỹ bằng mọi giá. Chống Mỹ từ xa, chống Mỹ ở gần, chống Mỹ trong lý luận, chống Mỹ trong thực tế, chống Mỹ khi có mặt Mỹ và chống Mỹ khi không có mặt Mỹ. 

Tuân lệnh Mao, trong Hội nghị Lần thứ Sáu của Trung ương Đảng CSVN từ ngày 15 đến 17 tháng 7 năm 1954, Hồ Chí Minh và Bộ chính trị đảng CSVN đã nghĩ đến chuyện đánh Mỹ: “Hiện nay đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của nhân dân thế giới và nó đang trở thành kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân Đông Dương, cho nên mọi việc của ta đều nhằm chống đế quốc Mỹ.” 

Khẩu hiệu “Chống Mỹ cứu nước” được thai nghén từ quan điểm và thời điểm này.

Nhưng “nước” trong khẩu hiệu “Chống Mỹ cứu nước” phải hiểu là nước Tàu chứ không phải nước Việt, lý do trong thời điểm này chưa có một người lính hay một cố vấn Mỹ nào ở Việt Nam. Hôm đó, ngay cả Hiệp định Geneva 1954 cũng còn chưa ký.

Với chỉ thị của Mao và kiên trì với mục đích CS hóa Việt Nam đề ra từ 1930, vào tháng 5, 1959, Ban Chấp hành Trung ương đảng Lao Động sau khi biết rằng việc chiếm miền Nam bằng phương tiện chính trị không thành, đã quyết định đánh chiếm miền Nam bằng võ lực dù phải “đốt cháy cả dãy Trường Sơn” như Hồ Chí Minh đã nói. Gần hết đồng bào miền Bắc bị đảng lừa vào cuộc chiến “giải phóng dân tộc” và hàng triệu người đã uống phải viên thuốc độc bọc đường “chống Mỹ cứu nước” nên bỏ thây trên khắp hai miền.

Lý luận chính phủ VNCH không thực thi “thống nhất đất nước” theo tinh thần Hiệp định Geneva chỉ là cái cớ tuyên truyền.

Thực tế chính trị thế giới của giai đoạn sau Thế Chiến thứ Hai là thực tế phân cực và sự chọn lựa của thời đại là chọn lựa giữa ý thức hệ Quốc gia và Cộng sản. Không chỉ các quốc gia bị phân chia như Nam Hàn, Tây Đức mà cả các quốc gia không bị phân chia như Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ v.v… cũng chọn thế đứng dân chủ Tây Phương để làm bàn đạp phát triển đất nước.

Giả sử, nếu có bầu cử để “thống nhất đất nước” và đảng CS thua, liệu họ sẽ giải nhiệm các cấp chính trị viên và sáp nhập vào quân đội quốc gia, giải tán bộ máy công an chìm nổi, đóng cửa các cơ quan tuyên truyền, từ chức khỏi tất cả chức vụ điều hành đất nước?  Trừ phi mặt trời mọc ở hướng tây và lặn ở hướng đông điều đó không bao giờ xảy ra.

“Trên trời có đám mây xanh,
Ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng…”

Câu ca dao quen thuộc mà ai cũng biết. Đó là chưa kể đến mây xám, mây đen, mây hồng, mây tím trong thơ và nhạc. Nhưng mây màu gì?  Mây thực sự chỉ là màu trắng. Màu mây thay đổi do ánh nắng mặt trời tùy theo mỗi khoảnh khắc trong ngày.

Cuộc chiến Việt Nam cũng vậy. Tên gọi của cuộc chiến khác nhau tùy theo quan điểm, góc nhìn, quyền lợi và mục đích, nhưng với nhân dân miền Nam, đó chỉ là cuộc chiến tự vệ của những người Việt yêu tự do dân chủ chống lại ý thức hệ CS độc tài toàn trị xâm lược.  Không thấy rõ bản chất xâm lược của ý thức hệ CS sẽ khó có thể chọn con đường đúng để phục hưng Việt Nam.



Trần Trung Đạo – Tháng 4, 2017
__._,_.___

Posted by: "Patrick Willay" 

Popular Posts

Popular Posts