Đại Học chăn Trâu




Tuesday, 3 March 2015

Quyền bắt người cần thuộc về tòa án, thay vì cơ quan điều tra

 

Quyền bắt người cần thuộc về tòa án, thay vì cơ quan điều tra

LS.Ngô Ngọc Trai

Thưa các luật sư và mọi người. Lâu nay quyền bắt người nằm trong tay cơ quan điều tra chúng ta tưởng thế là đúng đắn rồi nên ko có ý kiến gì khác, nhưng tìm hiểu kỹ thì thấy quyền bắt người cần thuộc tòa án.
Các nước gần ta như Hàn Quốc hay Nhật Bản đều quy định quyền băt người thuộc tòa án, và trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị cũng quy định:
“Bất cứ người nào do bị bắt hoặc giam giữ mà bị tước tự do đều có quyền yêu cầu được xét xử trước toà án, nhằm mục đích để toà án đó có thể quyết định không chậm trễ về tính hợp pháp của việc giam giữ và ra lệnh trả lại tự do cho họ, nếu việc giam giữ là bất hợp pháp”.
Do vậy tui đã có kiến nghị về vấn đề này, nội dung luận giải kỹ hơn bên dưới, tui đề nghị các bác quan tâm tới điều này nhằm góp phần thúc đẩy xây dựng nền tư pháp VN được trở lên công minh tiến bộ.
….
III/ NỘI DUNG VẤN ĐỀ KIẾN NGHỊ
Bộ luật tố tụng hình sự hiện tại quy định cho phép cơ quan công an điều tra sau khi tiếp nhận tin báo tội phạm thì được quyền ra lệnh bắt khẩn cấp. Sau khi bắt cơ quan điều tra phải báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp để xét phê chuẩn. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận được đề nghị xét phê chuẩn, Viện kiểm sát phải trả lời có đồng ý với việc bắt hay không, nếu không đồng ý thì cơ quan bắt người phải trả tự do ngay cho người bị bắt.
Việc bắt giam giữ người là một biện pháp ngăn chặn mục đích nhằm ngăn ngừa nghi can bỏ trốn, tiếp tục phạm tội hoặc tiêu hủy chứng cứ. Nhưng thực tế lâu nay việc bắt giam giữ người đã vượt quá mục đích ý nghĩa đơn thuần chỉ là một biện pháp ngăn chặn.
Theo tinh thần của luật thì nghi can mặc dù bị bắt nhưng vẫn chưa bị coi là tội phạm. Luật đã quy định rằng không ai bị coi là tội phạm và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của tòa án có hiệu lực pháp luật.
Như vậy mặc dù bị bắt và bị hạn chế quyền tự do đi lại, nhưng các quyền tự do dân sinh khác của người bị bắt vẫn còn, ví như quyền được đọc sách báo, xem ti vi, thăm gặp người thân, ăn uống đủ dinh dưỡng, không bị đánh đập bởi người khác…
Vậy sau khi bị bắt, người bị bắt có được đảm bảo các điều kiện đời sống dân sinh bình thường hay không?
Nhưng thực tế lâu nay có một vấn đề rất nghiêm trọng đó là điều kiện giam giữ người ở Việt Nam tệ hại khiến cho người bị giam giữ chịu sự khổ cực về tinh thần và thể xác.
Việc bắt người vốn dĩ chỉ tước đi quyền tự do đi lại của công dân song không chỉ đơn thuần như vậy, do đặc thù điều kiện kinh tế xã hội ở Việt Nam người bị bắt lại bị tước đi hầu như hết các quyền dân sự, quyền con người bị xâm hại nặng nề khi sống trong điều kiện giam giữ mà mọi thông số chỉ tiêu giá trị đều ở mức rất thấp.
Một ví dụ là mấy năm trước tôi bảo vệ cho một người bị bắt giam ở trại tạm giam số 3 nằm trên đường cầu Bươu thuộc Hà Đông, Hà Nội. Một lần vào lấy lời khai thấy chòm râu cứng của người đó được chia làm hai nửa, một bên rất dài cứng còn một bên lại trụi nhẵn. Hỏi ra thì được biết suốt ngày người đó bị mấy người giam giữ cùng phòng đè ra nhổ râu giải trí cho đỡ buồn.
Điều đó là ví dụ giúp hình dung cho thấy tình trạng điều kiện sức khỏe của người bị giam giữ bị xâm hại như thế nào.
Còn theo một bài báo mới đây trên báo Đất Việt có tiêu đề ‘Tội phạm tăng nhanh hơn dân số, thiếu hàng ngàn chỗ giam’, bài báo đưa số liệu rằng so với quy mô đã được phê duyệt, các trại tạm giam còn thiếu hơn 14.000 chỗ (tiêu chuẩn mỗi chỗ 2m2), tạm giữ thiếu hơn 12.000 chỗ.
Bắt nhiều nên thiếu chỗ giam.
Số liệu về việc thiếu chỗ giam giữ người có thể hiểu một phần nguyên nhân vì số lượng người có hành vi phạm tội quá nhiều, đó là minh chứng cho sự đổ vỡ của các chuẩn mực giá trị đạo lý. Nhưng mặt khác cũng cần đặt ra vấn đề xem xét lại việc bắt giam giữ lâu nay liệu đã đúng đắn hợp lý hay chưa?
Phải chăng có việc bắt giam giữ cẩu thả bừa bãi, nhiều trường hợp không cần thiết bắt cũng bắt, và tại sao lại để cơ quan công an điều tra được quyền bắt người?
Chúng ta biết rằng công an điều tra là lực lượng chiến đấu có chức năng nhiệm vụ phòng chống tội phạm, ở họ mang nặng tâm lý trạng thái triệt tiêu phòng ngừa. Nghề nghiệp của họ ít đòi hỏi sự suy xét công tâm khách quan để cân nhắc sự cần thiết xác đáng hay không trong việc bắt giam giữ, cái có ở nghề nghiệp của các thẩm phán.
Trước mỗi sự việc còn chưa rõ ràng lý do cần bắt hay không, nếu quyền bắt thuộc cơ quan công an thì họ sẽ có ngay quan điểm là cần bắt, điều này có nguyên nhân từ tâm lý trạng thái nhận thức nghề nghiệp.
Mặt khác pháp luật quy định rằng trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng, có nghĩa là nếu không chứng minh được tội phạm thì họ phải chịu trách nhiệm nào đó.
Cho nên đương nhiên dễ hiểu là cơ quan điều tra sẽ có xu hướng tìm giải pháp để hoàn tất cho được trách nhiệm của mình và giải pháp chính là quyền được bắt người.
Có thể nói quyền được bắt người là ‘phép mầu’ giúp làm ‘nhẹ gánh’ đi trách nhiệm chứng minh tội phạm.
Cho nên cái trách nhiệm chứng minh tội phạm mà lại đi kèm với cái quyền được bắt người thì còn gì nữa mà khó hiểu cho việc thiếu chỗ giam giữ.
Cần sửa luật
Bộ luật tố tụng hình sự đang được rà soát sửa đổi nên quy định rằng quyền quyết định bắt giam giữ phải thuộc về tòa án, cơ quan điều tra muốn bắt người thì phải chứng minh thuyết phục được thẩm phán về sự cần thiết và đưa ra các lý do xác đáng.
Khi xem một số bộ phim hình sự của nước ngoài đôi khi chúng ta thấy trong nội dung phim nhiều người phải vất vả lắm mới xin được ‘trát’ bắt của tòa.
Sự suy xét cẩn trọng của tòa án là bờ đê bảo vệ các quyền công dân, ngăn ngừa bạo quyền, cái mà nền tư pháp hình sự của ta còn mang nặng.
Cân nhắc quyết định bắt người điều này cũng nằm trong chức năng xét xử phán quyết của tòa án. Tức là cân nhắc xem liệu đã cần thiết hay chưa trong việc tước đi một số quyền tự do của công dân.
Chúng ta cần học hỏi nước ngoài về chế định bắt người. Hai nước gần gũi với ta là Hàn Quốc và Nhật Bản đều quy định quyền bắt người thuộc về tòa án.
Hiến pháp Hàn Quốc viết rằng: Trong trường hợp bắt, giam giữ, tịch thu tài sản hoặc khám xét thì cần phải có lệnh của thẩm phán thông qua các thủ tục luật định và bất kỳ người nào bị bắt hoặc bị giam giữ đều có quyền yêu cầu Tòa án xem xét tính hợp pháp của việc bắt hoặc giam giữ.
Hiến pháp Nhật Bản viết rằng: Không ai bị bắt bớ mà không có sự cho phép của tòa án trong đó chỉ rõ hành vi phạm tội trừ trường hợp đương sự bị bắt quả tang.
Một thí dụ điển hình
Mới đây báo chí ồn ào đưa tin về vụ chai nước có ruồi, nhiều ý kiến chỉ ra cho thấy hành vi của người liên quan trong vụ việc ngấp nghé giữa hành vi phạm tội cưỡng đoạt tài sản và quan hệ pháp luật dân sự, nếu quyền bắt thuộc tòa án quyết định thì họ sẽ nhìn sự việc dưới hai góc độ và cân nhắc có nên bắt hay không.
Để xét cơ sở hợp lý cho việc bắt cũng không khó gì, chỉ cần làm rõ vài vấn đề: Ông Võ Văn Minh người bị bắt là chủ quán ăn uống có nhân thân rõ ràng liệu ông có bỏ trốn không? Ông sẽ bỏ trốn hay công khai đấu tranh chứng minh Tân Hiệp Phát sai và bảo vệ yêu cầu của mình?
Liệu ông có tiếp tục phạm tội không, chẳng lẽ ông lại tiếp tục đi tống tiền người khác hay đi cướp? Liệu ông Minh có tiêu hủy chứng cứ nào không, chai nước có ruồi thì đã bị cơ quan chức năng thu giữ rồi, mà nếu không thu giữ thì ông Minh cũng giữ lại để làm bằng chứng bảo vệ mình chứ đời nào ông tiêu hủy.
Như thế có thể thấy không có lý do xác đáng nào cho việc bắt giam, nhưng thực tế ông đã bị bắt. Vì lý do rằng quyền bắt người nằm trong tay cơ quan công an điều tra chứ không phải tòa án.
IV/ KIẾN NGHỊ
1. Kính mong Chủ tịch nước là Trưởng ban chỉ đạo cải cách tư pháp trung ương quan tâm tới trình trạng bắt giam giữ hiện nay, chỉ đạo các cơ quan chuyên môn nghiên cứu chế định về bắt giam giữ của các nước tiến bộ như Nhật Bản hay Hàn Quốc để học hỏi và triển khai vào Bộ luật tố tụng hình sự của ta đang được rà soát sửa đổi.
2. Kính mong Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Nguyễn Hòa Bình là Trưởng ban soạn thảo Bộ luật tố tụng hình sự sửa đổi, triển khai nghiên cứu thay đổi nội dung về chế định bắt giam giữ hiện nay, chuyển quyền ra quyết định bắt giam giữ sang cho tòa án.
Kính mong được xem xét.
Xin trân trọng cảm ơn!
N.N.T.


__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh 

Monday, 2 March 2015

Thư số 41 gởi: Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam


 


                        Thư số 41 gởi:
                        Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam
                                                                 Phạm Bá Hoa


Tôi chào đời năm 1930, vào quân đội Việt Nam Cộng Hòa năm 1954, chống lại cuộc chiến tranh do nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa gây ra. Trong bang giao quốc tế, quốc gia này đánh chiếm quốc gia kia, không có tên gọi nào khác ngoài hai chữ “xâm lăng”. Sau ngày 30/4/1975, lãnh đạo cộng sản Việt Nam với lòng thù hận đã đày đọa chúng tôi trong hơn 200 trại tập trung mà họ gọi là trại cải tạo, hằng trăm Bạn tôi đến 17 năm, riêng tôi là 12 năm 3 tháng. Tuy tên Quốc Gia và Quân Lực mà tôi phục vụ không còn nữa, nhưng linh hồn trong quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ vẫn nguyên vẹn trong tôi. Tôi không hận thù lãnh đạo Các Anh, nhưng tôi không bao giờ quên quá khứ đau thương tàn bạo mà họ gây ra cho Tổ Quốc và Dân Tộc! Vì vậy mà tôi chưa bao giờ, và sẽ không bao giờ về Việt Nam cho đến khi quê hương tôi có một chế độ dân chủ tự do thật sự.
Xin gọi chung Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam là Các Anh để tiện xưng hô. Chữ “Các Anh” viết hoa, bao gồm từ người lính đến các cấp chỉ huy, ngoại trừ lãnh đạo cấp Sư Đoàn, Quân Đoàn, Quân Chủng, Bộ Tổng Tham Mưu, và Bộ Quốc Phòng. Là Người Lính trong quân đội “Nhân Dân”, Các Anh phải có trách nhiệm bảo vệ Tổ Quốc Nhân Dân, vì Tổ Quốc với Nhân Dân là trường tồn, trong khi đảng cộng sản hay bất cứ đảng nào cầm quyền cũng chỉ một giai đoạn của lịch sử, và nội dung tôi gởi đến Các Anh được đặt trên căn bản đó.
Nội dung thư này, một lần nữa, tôi muốn Các Anh nhìn ra Biển Đông, đúng hơn là nhìn hai căn cứ quân sự Trung Cộng đã hoàn thành trên quần đảo Hoàng Sa, sắp hoàn thành trên quần đảo Trường Sa, và thử tìm giả thuyết về sự kiện nào xảy ra đối với an ninh của Việt Nam khi hai căn cứ quân sự đó hoạt động.
Thứ nhất. Trung Cộng với tham vọng Biển Đông.
(trìch trong Wikipedia) Biển Đông với diện tích 2.974.100 cây số vuông, lớn hàng thứ 5 trong số 10 đại dương, được xem là đường hàng hải chiến lược từ Đại Tây Dương và Ấn Độ Dương qua eo biển Malacca đến một số quốc gia ven Đông Nam Á và Đông Bắc Á.
Năm 1951, tại Hội nghị San Francisco về Hiệp Ước Hòa Bình với Nhật Bản, Thủ Tướng kiêm Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu, chánh thức tuyên bố quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam. Sau lời tuyên bố đó, hội nghị  không có lời kháng nghị hay bảo lưu nào từ 51 nước tham dự.
Trung Cộng gậm nhấm quần đảo Hoàng Sa.
Năm 1956, Trung Cộng lợi dụng thời gian Việt Nam chưa kịp trấn đóng toàn bộ quần đảo Hoàng Sa trong khi quân Pháp rút khỏi Đông Dương, đã âm thầm đưa quân chiếm giữ nhóm đảo An Vĩnh phía đông quần đảo này, trong số đó có đảo Phú Lâm và đảo Linh Côn. 
Ngày 4/9/1958, Trung Cộng phổ biến bản Tuyên Bố mở rộng vùng lãnh hải lên 12 hải lý, trong đó có quần đảo Hoàng Sa (Trung Cộng gọi Tây Sa) và quần đảo Trường Sa (Trung Cộng gọi Nam Sa) của Việt Nam.
Ngày 14/9/1958, Thủ Tướng Việt Cộng Phạm Văn Đồng ghi nhận và tán thành bản tuyên bố nói trên của chính phủ Trung Cộng..
Năm 1961, chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa ban hành sắc lệnh khẳng định chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, và đặt trực thuộc tỉnh Quảng Nam.
Trong thời gian 1964-1970, Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa và Hải Quân Trung Cộng thường chạm súng nhau trong hải phận Hoàng Sa, nhưng không đưa đến thương vong.
Tháng 2/1972, Tổng Thống Hoa Kỳ Richard Nixon thăm Trung Cộng và họp với Mao Trạch Đông. Sau đó, hai bên mở văn phòng liên lạc, rồi tiến đến thiết lập bang giao.
Năm 1973, sau Hiệp Định Paris, Hoa Kỳ rút quân ra khỏi khu vực quần đảo Hoàng Sa, và từ đó quân lực Việt Nam Cộng Hòa trấn giữ.
Trung Cộng chiếm trọn quần đảo Hoàng Sa.
Ngày 11/1/1974, Bộ Ngoại Giao Trung Cộng ra tuyên bố, hai quần đảo Hoàng Sa và, Trường Sa là lãnh thổ của họ, và họ tố cáo Việt Nam Cộng Hòa chiếm đóng hai quần đảo của họ. Lập tức, chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa tuyên bố khẳng định Hoàng Sa Trường Sa là lãnh thổ của Việt Nam, đồng thời bác bỏ những cáo buộc của Trung Cộng.
Ngày 16/1/1974, khi phái đoàn của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa thăm dò một số đảo Hoàng Sa trong việc chuẩn bị xây dựng phi trường dành cho phi cơ vận tải C7 Catibou, thì phát giác Trung Cộng đã đổ quân lên các đảo Hữu Nhật, Quang Ảnh, Quang Hoà, và Duy Mộng, dưới sự yểm trợ của các chiến hạm ngoài khơi.
Ngày 18/1/1974, Mao Trạch Đông ra lệnh cho Diệp Kiếm Anh và Đặng Tiểu Bình, trực tiếp chỉ huy trận đánh quần đảo Hoàng Sa. Trong khi đó tại Hoàng Sa, chiến hạm của Việt Nam Cộng Hòa với Trung Cộng ghìm nhau.
Ngày 19/1/1974, trận chiến Hoàng Sa bùng nổ. Và ngày 20/1/1974, quân Trung Cộng chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa.
Trung Cộng chiếm một phần quần đảo Trường Sa.                                
Năm 1988, Hải Quân Trung Cộng lần lượt chiếm các đảo sau đây: (1) Ngày 31/1 chiếm bãi Đá Chữ Thập (Trung Cộng gọi là Vĩnh Thử). (2) Ngày 18/2 chiếm đảo Châu Viên. (3) Ngày 20/2 chiếm Ga Ven. (4) Ngày 28/2 chiếm đảo Huy Cơ. (5) Ngày 23/3 chiếm Xu Bi.
Năm 1995, theo bản tin của  Reuter thì Trung Cộng chiếm Đá Vành Khăn phía Đông Trường Sa. Họ tuyên bố sẽ dựng lên các lều cho ngư dân  tránh bão. Nhưng sự thật thì Trung Cộng xây dựng căn cứ yểm trợ cho Hải Quân của họ. (hình Đá Vành Khăn với căn cứ của Trung Cộng).
Trong hình, có 3 hay 4 cấu trúc kiên cố đã được xây dựng  từ trước trên Rạng Vành Khăn (Mischiefs). Một số cấu trúc được nhìn thấy lớn như một khách sạn đồ sộ.  Chuỗi các tiền đồn kiên cố sẽ hỗ trợ cho các cấu trúc trên rạng Đá Ngầm Vành Khăn để Trung Cộng kiểm soát đường lưu thông hàng hải, đặc biệt để theo dõi các chiến hạm của Hạm Đội 7  Hoa Kỳ.
Ngày 7/5/2009, Trung Cộng đệ trình Liên Hiệp Quốc một bản đồ có hình dáng chữ U và kèm theo lời dẫn. Theo đó, họ tự nhận chủ  quyền trên Biển Đông, bao gồm ba quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, Đông Sa, và bãi Macclesfield xấp xỉ 80%  hay là khoảng   2.379.928 cây số vuông, thuộc diện tích hợp pháp vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, Philippines, Bruney, và Malaysia. Liên Hiệp Quốc không công nhận vì Trung Cộng không trưng dẫn được bất cứ văn kiện nào khả dĩ chứng minh chủ quyến của họ. Nhưng từ đó Biển Đông dậy sóng, không phải từ thiên nhiên, mà là từ Trung Cộng, một quốc gia luôn luôn là kẻ thù của dân tộc Việt Nam từ trong lịch sử xa xưa đến thời cận đại và đương đại.
Description: Sân bay quân sự trên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa đã được hoàn tất.Ngày 3/9/2009, bản tin trên Bưu Điện Hoa Nam tại Hong Kong loan tin: “Hà Nội đã hai lần mời viên chức ngoại giao cao cấp của Trung Quốc đến Bộ Ngoại Giao để bày tỏ quan ngại về tài liệu -tuy không phải chính thức- nhưng khiến giới ngoại giao và quân sự Việt Nam cảnh giác. Theo đó, Trung Quốc dọa sẽ đánh chiếm Việt Nam trong vòng 31 ngày với 310.000 quân xuất phát từ Vân Nam, Quảng Tây, và Nam Hải”. Trong khi trên trang web <China.com> có bài nói về nguyên nhân mà Trung Cộng phải đánh chiếm Việt Nam, vì: “Việt Nam là mối đe dọa chính đối với an ninh lãnh thổ của Trung Quốc, là trở ngại lớn nhất đối với sự trổi dậy của Trung Quốc. Việt Nam cũng là đầu mối và trung tâm chiến lược của toàn bộ khu vực Đông Nam Á. Muốn kiểm soát lại Đông Nam Á, cần chinh phục Việt Nam. Nói cách khác, từ mọi khía cạnh, Việt Nam là cái xương khó nuốt”.
Căn cứ quân sự tại Hoàng Sa và Trường Sa.
Ngày 8/10/2014, đài Á Châu Tự Do trích  bản tin của Tân Hoa Xã, theo đó thì Trung Cộng đã hoàn thành một sân bay trên đảo Phú Lâm trong Nhóm Đảo An Vĩnh thuộc quần đảo Hoàng Sa, với đường băng dài 2.000 thước.  Bài báo trên Tân Hoa Xã viết rằng: “Đường băng mới xây tại đảo Phú Lâm là đảo lớn nhất của Hoàng Sa, sẽ nâng cao khả năng quốc phòng của Trung Quốc ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”. (hình đảo Phú Lâm)
Đảo Phú Lâm, nơi có căn cứ quân sự của Trung Cộng, cũng là nơi có cơ quan hành chánh thành phố Tam Sa. Tại căn cứ quân sự này, Trung Cộng có một hệ thống tuần duyên mà họ nói mục đích là bảo vệ quyền chủ quyền quốc gia của họ.
Theo Giáo Sư Nguyễn Văn Canh, từ căn cứ đảo Phú Lâm xuống đến Bãi Đá Ngầm Gạc Ma khoảng 800 cây số. Rất có thể vì khoảng cách đó không giúp cho điều mà Trung Cộng gọi là  bảo vệ hữu hiệu chủ quyền quốc gia trên biển mà thật ra là tham vọng của họ, nên họ âm thầm sử dụng tàu Tian Jiang Hao dài 127 thước, với khả năng hút 4.500 tấn cát trong mỗi tiếng đồng hồ, và 2 tàu nữa để hút cát bồi lấp Bãi Đá Ngầm Gạc Ma và 4 rạng đá ngầm lân cận từ tháng 9/2013 đến tháng 6/2014 thành đảo nổi.  
Ngày 5/5/2014, với bản tin trên tờ Hoàn Cầu Thời Báo,  Trung Cộng đã bồi lấp Đảo Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa, trên đó sẽ có một phi trường cho Không Quân và một hải cảng cho Hải Quân.  Sau đó, một cơ quan truyền thông khác tại Trung Cộng loan tin rằng: “Đảo Gạc Ma là trạm cung cấp đồ tiếp liệu cho các ngư phủ. Các văn phòng, doanh trại, và các nông trại, cùng một hải cảng đủ lớn để phục vụ cho các tàu có trọng tải đến 5000 tấn, cũng sẽ xây dựng”.
Ngày 7/6/2014, tờ South China Morning Post tường thuật rằng: “Trung Cộng đã biến đảo Gạc Ma thành một đảo nhân tạo vĩ đại. Trên đó, phi trường và hải cảng riêng biệt cho phi cơ, tàu quân sự, và tàu dân sự sẽ được xây dựng.  Các nhà ở cho thường dân, các cơ sở du lịch cũng được dự trù. Các tàu nạo vét tiếp tục hút cát từ đáy biển phục vụ cho mục đích đó”.
Ngày 13/5/2014, Bộ Ngoại Giao Phi Luật Tân tố cáo: “Trung Cộng đang xây cất một đảo nhân tạo mang tên JSR (Gạc Ma), gồm cả một phi trường quân sự”.
 Ngày 15/5/2014, người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Trung Cộng Hoa Xuân Oánh đã tuyên bố: “Trung Quốc có chủ quyền không tranh cãi trên vùng này, kể cả rạng san hô Gạc Ma. Vì thế, Trung Quốc có quyền xây dựng bất cứ công trình gì trên đó”.
Ngày 25/10/2014, không ảnh chụp được từ vệ tinh thương mại của Hoa Kỳ, cho thấy Trung Cộng đã gia tăng diện tích đảo Đá Ngầm Chữ Thập từ 0,08 cây số vuông lên đến 0,96 cây số vuông, tức lớn hơn 11 lần diện tích trước khi bồi lấp. Như vậy, diện tích đảo Đá Ngầm Chữ Thập lớn hàng thứ 5 trên Biển Đông, sau các đảo Phú Lâm, Đông Sa, Linh Côn, và đảo Tri Tôn. Đảo Đá Ngầm Chữ Thập, cách bộ chỉ huy Trường Sa của  Việt Nam khoảng 110 cây số, và cách đảo có bộ chỉ huy của Phi Luật Tân khoảng 225 cây số.
Ba hình này do vệ tinh của Airbus Defense chụp đảo Đá Ngầm (Gaven) ngày 30/3/2014, 7/8/2014, và 30/1/2015,  cho thấy việc xây đảo nhân tạo ở bãi đá này đã mở rộng nhanh chóng. Đến ngày 30/1/2015 một công trình tồn tại trước đó đã được nối vào đảo nhân tạo mới, và ít nhất một bãi đáp trực thăng đã được xây dựng.
Ngày 27/1/2015, trang <China.com> có bản tin cho biết, Trung Cộng đã hoàn thành việc mở rộng diện tích bãi đá Chữ Thập lên tới 2.2 cây số vuông.
Ngày 15/2/2015, bản tin của tập san quốc phòng IHS Jane’s Defence Weekly, đã công bố nhiều bức ảnh vệ tinh, cho thấy rõ là Trung Cộng đã bồi lấp và đang xây dựng trên Đá Tư Nghĩa, Đá Gaven, và Đá Gạc Ma.thành căn cứ quân sự. Các chuyên gia phân tách của Jane’s cho biết: ”Đá Tư Nghĩa (tên quốc tế là Hughes Reef) trên nền một bãi đá ngầm diện tích chỉ khoảng 380 thước vuông, thì nay Trung Cộng đã nạo vét hút cát bồi lấp thành  đảo nhân tạo rộng 75.000 thước vuông”. 
Theo chuyên gia James Hardy, những gì thấy trên Đá Tư Nghĩa (Hughes Reef), cũng được thấy trên Đá Gaven (Gaven Reef) Đá Gạc Ma (Johnson South Reef), Đá Chữ Thập (Fiery Cross Reef) Đá Châu Viên( Cuarteron Reef), Đá Én Đất( Eldad Reef) và Đá Vành Khăn (Mischief Reef), và ông kết luận: “Chúng ta có thể thấy rằng, đây là cả một kế hoạch thận trọng trong mục đích hình thành một chuỗi pháo đài phòng thủ trên không và trên biển, xuyên qua phần trung tâm quần đảo Trường Sa”.
                    
Ngày 18/2/2015, theo The Diplomat online của Nhật Bản thì tuần trước, trong cuộc họp cấp chuyên viên để chuẩn bị cho hội nghị cấp Bộ Trưởng Quốc Phòng ASEAN mở rộng dự trù vào tháng 11/2015, Trung Cộng đã bác bỏ đề nghị của ASEAN muốn đưa Biển Đông vào chương trình nghị sự. Hội nghị ASEAn mở rộng gồm Bộ Trưởng Quốc Phòng 10 nước ASEAN cộng với Hoa Kỳ, Nga, Ấn Độ, Nhật Bản, Đại Hàn, Trung Cộng, Australia, và New Zealand. Hội nghị ASEAN mở rộng đã họp năm 2010 tại Hà Nội, và năm 2013 tại Bruney. Cuộc họp tới đây sẽ diễn ra tại Malaysia vào tháng 11/2015. The Diplomat online nhận định rằng: “Thái độ của Trung Cộng không chấp nhận thương thuyết đa phương, để dễ dàng bắt chẹt các nước quốc gia vừa nhỏ vừa yếu đang tranh chấp, dưới nhóm chữ thương thuyết song phương”.
Ngày 18/2/2015, truyền thông nhà nước Trung Cộng đồng loạt đưa tin như một lời đe dọa Việt Nam: “... Không Quân từ Trung Quốc tấn công Hà Nội chỉ trong một giờ, và từ đảo Vĩnh Thử (Việt Nam gọi Đá Chữ Thập) cũng chỉ một tiếng đồng hồ là tấn công thành phố Hồ Chí Minh”. Khoảng cách đảo Chữ Thập cách Sài Gòn 487 cây số (trích trong Google.vn).
Tóm tắt. Sau khi Trung Cộng bắt tay được với Hoa Kỳ từ năm 1972, tham vọng của Trung Cộng khống chế Biển Đông đã công khai với bản tuyên bố của họ vào ngày 11/1/1974 rằng, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của họ mà không ai có quyền tranh cãi. Họ còn  ngược đến mức la hoãng với thế giới là Việt Nam Cộng Hòa đã chiếm đóng hai quần đảo của họ. Rồi sau khi họ chiếm quần đảo Hoàng Sa 1974 và các rạng san hô Đá Ngầm trong quần đảo Trường Sa 1988, họ âm thầm xây dựng căn cứ quân sự trên đảo Phú Lâm (Hoàng Sa) và xây dựng căn cứ trên các Đá Ngầm (Trường Sa) sau gần một năm bồi lấp trở thành đảo nổi. Cả hai căn cứ có phi trường, hải cảng, doanh trại cho quân phòng thủ, kho tồn trữ, và những cơ sở điều hành.
Trong khi trong hội nghị ASEAN mở rộng ngày 18/2/2015 tại Malaysia, theo báo Diplome online của Nhật Bản thì Trung Cộng gây sức ép ngăn chận cuộc thảo luận đưa hồ sơ Biển Đông vào chương trình nghi sự cấp Bộ Trưởng Quốc Phòng ASEAN mở rộng vào tháng 11/2015 sắp tới. 
Vậy là, Trung Cộng vẫn giữ chính sách thảo luận song phương với từng quốc gia liên quan trực tiếp đến Biển Đông, để dễ dàng áp lực lên các quốc gia yếu thế hòng đạt đến tham vọng khống chế Biền Đông. Và nếu có họp song phương giữa Việt Cộng với Trung Cộng, kết quả sẽ là “giữ nguyên hiện tạng”, để rồi máy bay tuần duyên, máy bay chiến đấu, chiến hạm trên mặt biển, tàu ngầm dưới mặt biển, hỏa tiển, ..v..v  sẽ phải bất động, vì thể nào lãnh đạo Trung Cộng cũng nhắc cho lãnh đạo Việt Cộng phải giữ lấy “đại cục làm trọng” cùng với “phương châm 4 tốt và 16 chữ vàng”. Với nhóm chữ lấy “đại cục làm trọng”, được hiểu rằng “gậm nhấm chỉ là tiểu cục, khi nào toàn cõi Việt Nam vào tay Trung Cộng mới là đại cục”, mà khi nhận ra “đại cục” thì Các Anh nhận thẻ căn cước bằng chữ Tàu đó nghe!
Tôi vào <Google.vn> thì tất cả báo online của Việt Cộng, không một chữ nào nói đến Biển Đông, kể cả việc Trung Cộng phản đối đưa hồ sơ Biển Đông vào chương trình hội nghị cấp Bộ Trưởng Quốc Phòng ASEAN mở rộng vào tháng 11/2015, trong khi Tướng Nguyễn Chí Vịnh khoe là Việt Nam đã cử sĩ quan tham dự phái bộ giữ hòa bình tại Sudan, và sắp cử sĩ quan tham gia phái bộ giữ hòa bình tại Trung Phi!.
Vậy, Các Anh suy nghĩ gì? Ước tính của tôi là: “Khi Hải Quân với Không Quân Trung Cộng từ hai căn cứ Hoàng Sa và Trường Sa tung hoành vùng trời và vùng nước Biển Đông, các tổ chức dân sự và người dân sẽ biểu tình chống Trung Cộng, dĩ nhiên là bị Việt Cộng đàn áp bắt giữ, trong khi lãnh đạo Việt Cộng cũng lên tiếng phản đối như thông lệ, là “kiên quyết đòi hỏi .., khẳng định lập trường ...  trước sau như một,.. v..v... Rồi thể nào lãnh đạo Việt Cộng với lãnh đạo Trung Cộng cũng tiếp xúc nhau, và kết quả sau cùng cũng là “giữ nguyên hiện trạng”.
Và liệu, khi nào thì Trung Cộng tuyên bố “Vùng Nhận Dạng Phòng Không” trên Biển Đông? Vì trên trang Học Giả Ngoại Giao của Nhật Bản ngày 10/01/2015, có bài viết lặp lại lời của người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Trung Cộng đã tuyên bố: “Trung Quốc sẽ công bố vào thời gian thích hợp sau khi hoàn thành các công việc chuẩn bị liên quan”.

Trong khi đó, viên Đại Sứ Trung Cộng tại Philippines Mã Khắc Thanh, cũng ngang ngược nói rằng “Trung Quốc có quyền quyết định thời gian và địa điểm thiết lập một vùng nhận dạng phòng không mới”. Nhưng theo đài RFA ngày 21/2/2015 thì Giáo Sư Carl Thayer, chuyên gia Quốc Phòng của Australia nhận định: “... Một trong những yêu tố làm cho Trung Cộng còn ngần ngại thiết lập vùng nhận dạng phòng không, là vì họ chưa thật sự đủ thực lực để buộc các nước khác tôn trọng khi họ chánh thức tuyên bố”.    
Định nghĩa. Vùng Nhận Dạng Phòng Không (Anh ngữ là Air Defense Identification Zone, viết tắt tiếng Anh là ADIZ) là vùng bầu trời do một quốc gia tự ấn định ra và đòi hỏi mọi máy bay dân sự xâm nhập vùng này phải nhận dạng, minh định vị trí, và chịu sự kiểm soát của quốc gia đó. Vùng nhận dạng phòng không, không đồng nghĩa với không phận nhưng được coi như khu vực song hành với an ninh quốc phòng” (trích trong Wikipedia).    
Các Anh có nhận điều lạ không? Điều lạ là trong khi Hoa Kỳ, Nhật Bản, Úc Đại Lợi, và Ấn Độ, lên tiếng phản đối với lo ngại đường hàng hải quốc tế trong Biển Đông, thì lãnh đạo Việt Cộng im lặng hoàn toàn. Nhưng nếu nhìn từ Trung Cộng, thì Việt Cộng “đúng hướng”.   
Thứ hai.  Một giả thuyết. 
Ngay trước mắt, Việt Cộng phải đối mặt với sự đe dọa nghiêm trọng bởi một chuỗi căn cứ quân sự của Trung Cộng, từ đảo Hải Nam phối hợp với Hoàng Sa xuống đến Trường Sa. Điều này cho phép nhận định là Trung Cộng thường xuyên tạo áp lực buộc lãnh đạo Việt Nam phải đúng hướng theo Biên Bản Hội Nghị Thành Đô ngày 4/9/1990.
Giả thuyết.
Tôi căn cứ vào Biên Bản Hội Nghị Thành Đô mà tổ chức Wikileaks phố biến vào giữa năm 2011, tài liệu trích trong Wikipedia, trích trong hồi ký của cựu Thứ Trưởng Ngoại Giao Việt Nam Trần Quang Cơ, và trích trong bản dịch hồi ký của cựu Thủ Tướng Trung Cộng Lý Bằng. Đồng thời, căn cứ vào những sự kiện dưới đây mà tôi tin là sự thực hiện nội dung các tài liệu nói trên: 
(1) Năm 1999, lãnh đạo Việt Cộng  giao cho Trung Cộng 789 cây số vuông dọc biên giới Việt-Trung. Với các đỉnh cao nơi đây, là vị trí chiến lược phòng thủ quốc gia  
(2) Năm 2000, lãnh đạo Việt Cộng giao cho Trung Cộng 11.362 cây số vuông trên Vịnh Bắc Bộ. 
(3) Năm 2006, thành lập khu kinh tế Vũng Áng, mà bà Nguyễn Thị Hải Vân, Cục Trưởng Cục Việc Làm/Bộ Lao Động & Thương Binh Xã Hội xác nhận có 10.000 công nhân Trung Cộng trong tổng số 30.4000 công nhân. Vũng Áng, là một vị trí chiến lược trong phòng thủ quốc gia. 
(4) Năm 2007, giao cho nhà thầu Trung Cộng khai thác Bauxite trên Cao Nguyên Miền Trung, là một vị trì chiến lược trong phòng thủ quốc gia. 
(5) Từ năm 2011, các tỉnh đã lần lượt cho Trung Cộng thuê mướn 300.000 mẫu đất rừng dọc biên giới phía bắc mà không biết họ sử dụng làm gì, vì họ cấm người Việt Nam lai vãng. Trong khi đó, theo Giáo sư Vũ Cao Đàm (trong trang bô xít) thì có khoảng 1.300.000 công nhân -hay lính Trung Cộng- tại tất cả các công trình lớn nhỏ từ Quảng Ninh rãi rác khắp miền của đất mước đến tận Cà Mau.
(6) Năm 2013, giao cho nhà thầu Trung Cộng xây dựng “khu du lịch nghỉ dưỡng quốc tế Chân Mây-Lăng Cô”, ngay mõm phía bắc Vịnh Đà Nẳng, một vị trí chiến lược trong phòng thủ quốc gia. Và ..v..v..  
Từ những căn cứ nêu trên, giúp tôi hình thành giả thuyết: “Trước mắt, Trung Cộng áp lực để có được một Bộ Chính Trị Việt Nam trong đại hội vào năm 2016 khả dĩ không chệch hướng theo cách nhìn của họ. 

Nếu không thành công, Trung Cộng rút kinh nghiệm Nga bị khủng hoảng trên hồ sơ Ukraine, họ sẽ không dùng quân đội đánh chiếm Việt Nam mặc dù không ngừng lên tiếng đe dọa, nhưng Trung Cộng sẽ tạo áp lực đến mức Việt Cộng không thể có những phản ứng mạnh trước những hành động gậm nhấm chủ quyền của họ trên Biển Đông. Trường hợp Việt Cộng dựa vào các quốc gia thứ 3 -nhất là Hoa Kỳ- để chống lại Trung Cộng một cách gián tiếp, và khi chống đối này dẫn đến một tình hình bất lợi cho Trung Cộng, họ sẽ áp lực mạnh hơn để thay đổi nhân sự trong Bộ Chính Trị Việt Nam cho “đúng hướng” của hội nghị Thành Đô. 

Nếu vẫn chưa thành công, Trung Cộng sẽ sử dụng nhiều chục ngàn “công nhân” của họ trên khắp lãnh thổ Việt Nam với hành động có thể đến mức bạo loạn, cùng lúc với máy bay và tàu chiến của họ biểu dương lực lượng dọc biên giới và dọc duyên hải Việt Nam, để họ mạnh tay trực tiếp sắp xếp nhân sự cấp lãnh đạo trung ương của Việt Cộng như họ muốn. Có thể nói, đó là một cuộc đảo chánh mà các quốc gia thứ 3 khó có lý lẽ để can thiệp trực tiếp. Sau đó, để theo dõi sát lãnh đạo đảng với lãnh đạo nhà nước Việt Cộng “hành động đúng hướng”, một lãnh đạo cao cấp của Trung Cộng sẽ thường trực có mặt tại Việt Nam như viên Thái Thú của ngàn năm trước. Và khi mà Trung Cộng nắm lãnh đạo Việt Cộng trong tay, họ sẽ khống chế mọi hoạt động của đảng với nhà nước, và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam trên Biển Đông.   
Kết luận.
Các Anh nghĩ gỉ thì nghĩ, nhưng:
Các Anh hãy nhớ, cựu Tổng Bí Thư Liên Xô Gorbachev đã từng nói: “Tôi đã bỏ một nửa cuộc đời cho lý tưởng cộng sản. Ngày hôm nay tôi phải đau buồn mà nói rằng, đảng cộng sản chỉ biết tuyên truyền và dối trá.”
Các Anh đừng bao giờ quên lời của Đức Đạt Lại Lạt Ma, nhà lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng: “Cộng sản là loài cỏ dại, mọc trên hoàng tàn của chiến tranh, là loài trùng độc, sinh sôi nẫy nở trên rác rưởi của cuộc đời”.
Và cũng đừng bao giờ quên rằng: “Tự do, không phải là điều đáng sợ, mà là nền tảng cho sự thịnh vượng của đất nước. Không có dân chủ, không thể có sự trỗi dậy và phát triển bền vững. Và chính chúng ta phải tranh đấu, vì Dân Chủ Tự Do không phải là quà tặng.
Texas, tháng 3 năm 2015
Phạm Bá Hoa
~~~~~~~~~~~~~~~~~~

~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~ 
__._,_.___

Posted by: Nhat Lung 

ĐÈN CÙ TRONG HỘI THẢO VỀ GIÁ TRỊ VĂN HÓA

 

ĐÈN CÙ TRONG HỘI THẢO VỀ GIÁ TRỊ VĂN HÓA

Nguyễn Đình Cống

Ngày 27 tháng 2- 2015 Hội đồng lý luận TW tổ chức Hội thảo khoa học “Định hướng xây dựng giá trị con người, giá trị văn hóa Việt Nam trong giai đoạn mới”. Hội thảo nhằm phát triển nội  dung của Nghị quyết 33 ngày 9 tháng 6 năm 2014 của TW Đảng khóa 11 về Xây dựng và phát triển văn hóa. Theo định hướng đã nêu  thì giá trị con người Việt trong giai đoạn mới gồm 7  tiêu chí : Yêu nước, Nhân ái, Nghĩa tình, Đoàn kết , Trung thực, Cần cù, Sáng tạo.

Hội thảo được một số nhà nghiên cứu lý luận, một số giáo sư, tiến sĩ có danh tham gia thảo luận khá sôi nổi. Tôi chỉ  theo dõi  được  hội thảo thông qua các nguồn của thông tin đại chúng. Theo các nguồn đó tôi đã vô cùng thất vọng mà nhận xét rằng:  hội thảo mang nặng “tính chất  đèn cù”.

Bối cảnh của hội thảo là người ta thấy trong dịp Tết và các lễ hội cũng như trong đời sống hàng ngày sự xuống cấp về đạo đức của số đông người Việt, đặc biệt là trong lớp trẻ đã trở nên nghiêm trọng. Tội phạm do đánh nhau, trộm cắp, cướp giật, buôn lậu tăng nhiều, những thói hư, tật xấu như coi thường luật pháp,  hung đồ, tranh giành,  gian dối… càng ngày càng tăng, càng chống càng tăng. Tình trạng đó làm nặng thêm sự mất ổn định xã hội, tăng thêm sự mất lòng tin vào chính quyền. 

Tổ chức hội thảo, ngoài mục đích là tìm “ Định hướng…” , tôi đoán chắc cũng còn mục đích ẩn giấu nhằm làm yên lòng một số người, cho  là Bộ Chính trị và TW đã biết và quan tâm, đã có biện pháp.

Trong NQ cũng như trong hội thảo đều có  đặt tiêu chí, tìm nguyên nhân, nêu biện pháp. Vừa nghe qua thì thấy rất hay, rất hợp lý nhưng ngẫm nghĩ kỹ mới rõ  tính chất đèn cù trong việc phân tích nguyên nhân và đề xuất tiêu chí vì sự phân tích ấy, sự đề xuất ấy mới chỉ chạm đến “phần nổi của tảng băng trôi”, lại có một số nhầm lẫn hoặc đánh tráo khái niệm giữa nguyên nhân và kết quả.

Về đánh giá nguyên nhân, trước đây nông dân đã có nhận xét: “Mất mùa là bởi thiên tai. Được mùa nhờ có thiên tài Đảng ta”. Trong bài “Nguyên nhân gốc của nhiều tệ nạn”, cũng như trong bài trao đổi với Anh Vũ về “Nguyên nhân gốc của sự xuống cấp đạo đức“ ( 2 bài đã đăng trên Bauxite ) tôi có dựa vào Duy thức luận mà đưa ra sự kết hợp, sự cộng hưởng giữa NHÂN và DUYÊN. 

Xin phép được nhắc lại ở đây: Nhân là một số mặt yếu kém trong nền văn hóa dân tộc do dân trí thấp, do nhiều năm quen thói nô lệ (tham lam, ích kỷ, gian dối, vô cảm…). Duyên là những nhân tố độc hại trong Chủ nghĩa Mác-Lênin (đấu tranh giai cấp, chiến tranh cách mạng, vô sản chuyên chính, tuyên truyền  ảo tưởng…). Nếu chỉ nhìn thấy rất rõ NHÂN mà bỏ qua hoặc xem nhẹ DUYÊN thì khó thoát khỏi cảnh đèn cù. Trong hội thảo đã  có nhiều phân tích về nhân, tôi không nhắc lại, mà chỉ muốn bổ sung và phân tích một số thuộc về duyên.

Để làm chiến tranh cách mạng (đặc biệt là chiến tranh du kích) cần khuyến khích bạo lực, mưu mô để tiêu diệt kẻ thù. Trong đấu tranh giai  cấp quá đề cao lòng thù hận và tranh đoạt vật chất mà nhẹ về đạo lý bao dung. Chuyên chính vô sản thực thi sự toàn trị, tạo ra giai cấp mới đặc quyền đặc lợi, tham nhũng, mua bán quan chức. Sự tuyên truyền  về một xã hội tốt đẹp không tưởng buộc phải dùng thủ đoạn dối trá, lừa bịp. Tất cả những thứ đó và nhiều thứ khác nữa từ Chủ nghĩa Mác Lênin đã không làm giảm nhẹ hoặc ngăn chặn thói hư tật xấu của nền văn hóa  mà còn làm nặng thêm. 

Sau khi giành chiến thắng trong chiến tranh, đáng lẽ lãnh đạo phải quan tâm đến văn hóa, đến thể chế dân chủ để khắc phục những thói hư tật xấu đã được tạo ra trong đấu tranh giai cấp thì lại quá quan tâm đến củng cố sự thống trị và chạy theo sự phát triển kinh tế, để mặc cho sự xuống cấp về đạo đức trong thời gian dài. Nếu không dám phân tích sâu đến tận gốc rễ để thấy “thượng bất chính, hạ tắc loạn“ hoặc “nhà dột từ nóc”, thấy  nhiều tệ nạn của xã hội hiện nay có nguyên nhân sâu xa, nguyên nhân gốc rễ từ thể chế chính trị, từ lãnh đạo thì mọi biện pháp nêu ra chỉ là biện pháp đèn cù.

N.Đ.C
Tác giả gửi BVN

__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh

Nguyên nhân chiến tranh 1960-1975


Nguyên nhân chiến tranh 1960-1975 

– Trần Gia Phụng


1.   NGUYÊN NHÂN BIỂU KIẾN

Theo lời nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH), nguyên nhân chính mà VNDCCH đưa quân tấn công Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) từ năm 1960 là vì VNCH không tôn trọng và không thi hành hiệp địnhGenève ngày 20-7-1954 về việc tổ chức tổng tuyển cử để thống nhất đất nước.  Bên cạnh đó, cũng theo quan điểm của nhà nước VNDCCH, người Hoa Kỳ càng ngày có mặt càng nhiều ở VNCH nên dân Việt Nam phải “chống Mỹ cứu nước”.

Quả thật, sau hiệp định Genève đúng một năm, thủ tướng VNDCCH là Phạm Văn Đồng, gởi thư ngày 19-7-1955 lần đầu tiên cho thủ tướng Quốc Gia Việt Nam (QGVN) là Ngô Đình Diệm, yêu cầu mở hội nghị hiệp thương bắt đầu từ ngày 20-7-1955 như đã quy định trong hiệp định Genève ngày 20-7-1954, để bàn về việc tổng tuyển cử nhằm thống nhất đất nước.

Ngày 10-8-1955, Ngô Đình Diệm đã bác bỏ đề nghị của Phạm Văn Đồng, dựa vào lý do rằng chính phủ QGVN không ký vào hiệp định Genève và nhất là vì  không có bằng chứng nào cho thấy VNDCCH đặt quyền lợi quốc gia lên trên quyền lợi Quốc tế Cộng sản.

Chính thể QGVN đổi thành Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) vào ngày 26-10-1955.  Tuy chính phủ VNCH nhiều lần từ chối, Phạm Văn Đồng vẫn nhắc lại đề nghị nầy hằng năm vào các ngày 11-5-1956, 18-7-1957, và 7-3-1958 để tuyên truyền với quốc tế.  Lần cuối, Ngô Đình Diệm, lúc đó là tổng thống VNCH, bác bỏ đề nghị trên vào ngày 26-4-1958.

Để hiểu rõ vấn đề nầy, tốt nhất nên trở lại với hiệp định Genève ngày 20-7-1954.  Danh xưng chính thức của hiệp định Genève là Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, nghĩa là hiệp định Genève chỉ là một hiệp định có tính cách thuần tuý quân sự, không phải là một hòa ước, và không đưa ra một giải pháp chính trị nào cho tương lai Việt Nam.

Sau khi Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam và các hiệp định đình chỉ chiến sự ở Lào và Cambodia được ký kết, các phái đoàn tham dự hội nghị Genève họp tiếp và ngày 21-7-1954 thông qua bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương”.
Bản tuyên bố gồm 13 điều, trong đó quan trọng nhất là điều 7. 

 Điều nầy ghi rằng: “Hội nghị tuyên bố rằng đối với Việt Nam, việc giải quyết các vấn đề chính trị thực hiện trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, sẽ phải làm cho nhân dân Việt Nam được hưởng những sự tự do căn bản, bảo đảm bởi những tổ chức dân chủ thành lập sau tổng tuyển cử tự do và bỏ phiếu kín.  Để cho việc lập lại hòa bình tiến triển đến mức cần thiết cho nhân dân Việt Nam có thể tự do bày tỏ ý nguyện, cuộc Tổng tuyển cử sẽ tổ chức vào tháng 7-1956 dưới sự kiểm soát của một Ban Quốc tế gồm đại biểu những nước có chân trong Ban Giám sát và Kiểm soát Quốc tế đã nói trong Hiệp định đình chỉ chiến sự.  Kể từ ngày 20-7-1955 những nhà đương cục có thẩm quyền trong hai vùng sẽ có những cuộc gặp gỡ để thương lượng về vấn đề đó.” (1)

Khi chủ tịch phiên họp là Anthony Eden (ngoại trưởng Anh) hỏi từng phái đoàn, thì bảy phái đoàn là Anh, Pháp, Liên Xô, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH), Lào và Cambodge (Cambodia) trả lời miệng rằng “đồng ý”. (2) Không có phái đoàn nào ký tên vào bản tuyên bố nầy, nghĩa là bản tuyên bố không có chữ ký.  Điều đó chứng tỏ rằng những nước tham dự hội nghị không cam kết và cũng không yêu cầu các bên liên hệ cam kết là sẽ thi hành tổng tuyển cử, nên không yêu cầu bên nào ký vào bản tuyên bố để cam kết hay để giữ lời cam kết.
Một văn kiện quốc tế không có chữ ký thì chỉ có tính cách gợi ý, hướng dẫn chứ không có tính cách cưỡng hành.  Đây chỉ là lời tuyên bố (déclaration) của những phái đoàn, có tính cách dự kiến tương lai Việt Nam.  Hơn nữa, những hiệp định với đầy đủ chữ ký mà còn bị vi phạm trắng trợn, huống gì là những bản tuyên bố không chữ ký.

Phái đoàn Hoa Kỳ và phái đoàn QGVN không ký vào Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam ngày 20-7-1954 và cũng không đồng ý bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương” ngày 21-7-1954.  Hai phái đoàn Hoa Kỳ và QGVN đã đưa ra tuyên bố riêng của mỗi phái đoàn để minh định lập trường của mình.  Tuy nhiên, chính phủ QGVN vẫn tôn trọng Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam ngày 20-7-1954 và thi hành việc chia hai nước Việt Nam theo thỏa thuận quốc tế.

Ngoài ra, lúc đó, Hoa Kỳ càng ngày càng tăng viện cho VNCH.  Nhà nước VNDCCH quan ngại rằng nếu để cho VNCH yên bình xây dựng kinh tế với sự trợ giúp của Hoa Kỳ, thì đến một lúc nào đó chắc chắn VNCH (với nền kinh tế tự do) sẽ vượt xa VNDCCH (với nền kinh tế chỉ huy theo đường lối cộng sản).  Đó chính là điều mà VNDCCH thực sự lo lắng.

Sự hiện diện của người Hoa Kỳ ở VNCH chẳng những khiến cho VNDCCH rất quan ngại, mà cả Trung Quốc cũng không yên tâm.  Trước đây, Hoa Kỳ hậu thuẫn cho chính phủ Quốc Dân Đảng Trung Hoa (QDĐTH), chống lại đảng Cộng Sản Trung Hoa (CSTH).  Năm 1949, đảng CSTH thành công.  Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (gọi tắt là Trung Quốc) ngày 1-10-1949. Chính phủ QDĐTH chạy ra Đài Loan.  Tuy nhiên Trung Quốc vẫn quan ngại Hoa Kỳ yểm trợ cho QDĐTH trở lui lục địa Trung Quốc.

Trung Quốc mạnh mẽ chống đối Hoa Kỳ khắp nơi trên thế giới, hơn cả Liên Xô chống Hoa Kỳ.  Nay Hoa Kỳ lại có mặt ở miền Nam Việt Nam, gần sát với Trung Quốc nên Trung Quốc rất quan ngại.  Vì vậy, VNDCCH đưa ra thêm chiêu bài “chống Mỹ cứu nước”, vừa để khích động lòng yêu nước của dân chúng Bắc Việt chống lại VNCH, vừa để thi hành chủ trương chống Mỹ của Trung Quốc và Liên Xô, ngõ hầu kêu gọi viện trợ của khối CSQT.

Như thế, rõ ràng các lý do “thống nhất đất nước” và “chống Mỹ cứu nước” chỉ có tính cách biểu kiến bên ngoài, dùng làm chiêu bài động binh, trong khi lý do thật sự được nhà nước VNDCCH che đậy chính là tham vọng lớn lao của đảng LĐ muốn đánh chiếm toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, mà kế hoạch đã được đảng LĐ chuẩn bị từ trước khi ký hiệp định Genève ngày 20-7-1954.

Ghi chú:
1. Thế Nguyên, Diễm Châu, Đoàn Tường, Đông Dương 1945-1973, Trình Bày: Sài Gòn 1973, tr. 53.  Vì các văn bản ký kết tại Genève được viết bằng hai thứ tiếng Việt và Pháp.
2. Hoàng Cơ Thụy, Việt sử khảo luận, cuốn 5, Paris: Nxb. Nam Á 2002, tr. 2642.



HoChiMinh
--------o0o--------
Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, Trung Quốc
Posted on 03.02.2014 by saohomsaomai

Lời thú tội gây ra cuộc chiến nồi da xáo thịt cho dân tộc, đưa giống nòi, tổ quốc vào con đường nô lệ. Thì bây giờ ai là ngụy, ai là việt gian bán nước?
vietlist.us

Hoàng Thanh Trúc (Chinhluan) - Những ngày tháng cuối năm, theo phong tục tập quán Việt Nam, trong mọi người chúng ta, vì đạo lý tri ân (nhớ ơn) hay dành một phần tâm linh hướng về người thân đã khuất và cho những người vị quốc vong thân.

Mới đây, chắc củng trong chiều hướng ấy, hướng về người vị quốc vong thân nên ngày 18 tháng 1 năm 1974 ông CT/Nước Trương Tấn Sang đã đến xã Cẩm Mỹ, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh cắt băng khánh thành một cái đền thờ xây dựng trị giá tới 5 tỷ đồng cho một nhân vật quá cố có tên Lê Duẩn cựu TBT/đảng CSVN (*) mà nói theo người xưa “trâu chết để da, người ta chết để tiếng” ông ta đã để lại cho dân tộc Việt Nam một tiếng nói bất hủ của ông là: “Ta vào Nam nổ súng là đánh cho Trung Quốc, đánh cho Liên Xô”

Từ câu nói như quân lệnh chỉ đường ấy mà hàng triệu thanh niên hai miền Nam Bắc Việt Nam đã nằm xuống, một nửa chết vì chống lại và một nữa chết vì muốn nhuộm đỏ miền Nam theo lệnh của đảng CSVN và quốc tế CS, Liên xô và Trung Quốc.
vietlist.us

Đền thờ trị giá 5 tỷ cho kẻ tuyên bố: “Ta vào Nam nổ súng là đánh cho Trung Quốc, đánh cho Liên Xô”.

Hình như nhờ xương máu Việt Nam như trải đường đó mà Liên Xô từ CS/XHCN mới tiến lên được dân chủ đa nguyên, đa đảng, như phương Tây hiện nay. Còn Trung Quốc củng nhờ đó mà nới rộng lãnh thổ về phương Nam, đưa Ải Nam Quan vào viện bảo tàng và nhất là nhờ xương máu Việt Nam quét Mỹ đi nên Trung Quốc có điều kiện rảnh tay một mình một cõi “giải phóng” luôn Hoàng Sa và Biển Đông của Việt Nam!

Và chính ông ta (Lê Duẩn) củng có một sáng kiến rất thực dụng, ngoài phân xanh, phân chuồng, phân bắc, thì ông vận dụng sáng tạo thêm một thứ phân nửa là phân “người chết” để sau 30 tháng 4/1975 kết thúc chiến tranh đích thân ông ký giấy chỉ đạo lùa gần nữa triệu sĩ quan công chức chính phủ miền Nam vào rừng sâu núi thẳm “cải tạo” 1/3 số tù nhân đó thành “phân người” vùi xuống đất bón trực tiếp cho xanh cây lá.

Người dân Việt Nam muốn hỏi ngài CT/Nước Trương Tấn Sang rằng: Đó có phải là công lao to lớn “vì tổ quốc Việt Nam” hay không? Mà cái đền thờ của ông Lê Duẩn toàn là gỗ quí hảo hạng, tượng của ông ta đúc bằng đồng nặng tới hàng tấn?

Ngược lại – cũng trong ngày này (18 và 19 tháng 1) tại thủ đô Hà Nội, nhân dân thương tiếc tưởng nhớ 74 đồng bào anh em chiến sĩ miền Nam, đã anh dũng hy sinh vì chống lại quân TQ xâm lược trong trận hải chiến Hoàng Sa 1974. Nhưng suốt 40 năm “nhà nước, đảng ta” không có lấy một bát hương tưởng niệm thì lại bị CA/AN chìm nổi đàn áp, phá đám, hành hung và khủng bố mà họ không giải thích là tại sao?.

vietlist.us
CA/AN phá đám, ngăn cấm đồng bào tưởng niệm Liệt Sĩ Hoàng Sa.

Chắc chắn trong 180 quốc gia thuộc LHQ không có quốc gia nào (trừ duy nhất CSVN) cấm đoán công dân mình tôn vinh liệt sĩ hy sinh vì chống xâm lược.

Thưa ông CT/Nước Trương Tấn Sang! Chẳng lẽ bắn giết đày đọa đồng bào anh em mình theo lệnh CS Nga và CS Tàu, tạo điều kiện cho Tàu xâm lược là có công với Tổ Quốc. Còn nằm xuống xả thân hy sinh vì biển đảo cương thổ của cha ông lại là những tội đồ?

Chỉ vô tri vô giác như loài tôm, loài sò, thì cứt mới lộn ngược lên đầu như vậy! Thưa ngài CT/Nước.
Hoàng Thanh Trúc
-------oo0oo-------
lacomau
Việt Cộng đối ngoại thì nhu nhược, bán nước,
đối nội thì tàn ác và hà khắc với nhân dân.

 

Nguyễn Sinh Hùng và quyền... súc vật!

GS Trần Phương nói: CNXH được đưa ra chỉ để bịp thiên hạ


CTV Danlambao - Trong phiên họp chiều 25/2 của Ủy ban Thường vụ Đảng hội có đưa ra quy định tại dự thảo Luật Trưng cầu dân ý. Dự thảo đã đề ra phương án:những vấn đề cần trưng cầu ý dân gồm: sửa đổi, bổ sung Hiến pháp; những chính sách về chủ quyền, an ninh quốc gia, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; việc gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế... Tuy nhiên, Chủ tịch đảng hội Nguyễn Sinh Hùng đã phản biện rằng: “Quyền con người và quyền công dân không thể đưa ra trưng cầu ý dân được”!!!

Theo ông chủ tịch đảng hội này thì "quyền con người, quyền công dân thì cóquyền đương nhiên và quyền do luật định. Quyền đương nhiên thì mọi người phải thi hành ngay từ khi Hiến pháp có hiệu lực, còn cái gì hạn chế quyền con người và quyền công dân thì phải do luật định chứ có phải do trưng cầu ý dân đâu". (1)

Thử mổ xẻ câu nói này của ông ta:

Khi nói "quyền con người, quyền công dân là đương nhiên" thì người ta xem đó là một quyền tự nhiên có được từ khi một người mới sinh ra. Dưới ánh sáng văn minh và các quan điểm về nhân quyền thì đó là quyền phổ quát, không bị giới hạn và bất khả xâm phạm.

Tuy nhiên, trước hết ông Hùng gắn quyền của 90 triệu người vào Hiến pháp do đảng của ông tự viết, tự phê chuẩn, tự thi hành và tự vi phạm. Do đó, quyền con người và quyền công dân không còn là quyền đương nhiên mà trước hết là quyền do Hiến pháp cộng sản quy định.

Nhưng chưa đủ! Sau đó, cái đương nhiên còn sót lại sau khi được Hiến pháp của đảng độc tài quy định cũng xem như là bỏ vào sọt rác luôn với câu thòng: còn cái gì hạn chế quyền con người và quyền công dân thì phải do luật định chứ có phải do trưng cầu ý dân đâu. Do đó, quyền con người và quyền công dân không còn là quyền đương nhiên mà là quyền do đảng cộng sản ban bố theo luật do họ đặt ra.

Tóm lại, tập thể 90 triệu người dân không có "quyền" gì cả. Ngay cả chuyện có quyền trong việc cùng nhau xác định quyền con người và quyền công dân của mình bao gồm những gì, phạm vi rộng hẹp ra sao, có hay không có những giới hạn cũng không luôn. Ngược lại cái quyền (không còn) đương nhiên ấy nằm trong tay của những tên làm luật - là những đảng viên đang nhất quyết nắm quyền cai trị muôn năm với điều 4 Hiến pháp.

Chẳng có tập đoàn muốn độc quyền cai trị muôn năm nào lại muốn giao, muốn trưng cầu dân ý về quyền công dân cả. Do đó, dưới chế độ độc tài cộng sản, khi quyền con người hoàn toàn nằm trong luật định của đảng thì phải nói rằng quyền con người chỉ ngang hay thấp hơn quyền chó ngựa.

Với cái quyền chó ngựa ấy thì đương nhiên không có chuyện cá nhân người dân nào có quyền đề nghị trưng cầu dân ý. Theo phương án của đảng hội thì chỉ có Ủy ban Thường vụ, Chủ tịch nước, Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu đảng hội mới có quyền đề nghị trưng cầu dân ý. Kế đến là cánh tay nối dài của đảng: Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Phùng Quốc Hiển, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính - Ngân sách còn muốn cho chắc ăn, hiểu cho rõ đã tuyên bố: "Dứt khoát phải là và chỉ có tập thể đề nghị chứ không thể là cá nhân đề nghị trưng cầu ý dân".

Và nên nhớ rằng cái gọi là tập thể đây là những tập thể của đảng hay cách tay nối dài của đảng. Không có chuyện một tập thể mấy ngàn công dân độc lập lại có tư cách đề nghị trưng cầu dân ý cho quyền con người!

Chỉ cần quan sát những thảo luận, tuyên bố của các quan đỏ, người dân biết ngay số phận của mình: Ở Việt Nam chỉ có một quyền đương nhiên, đó là quyền súc vật.





Popular Posts

Popular Posts