Đại Học chăn Trâu




Monday 28 January 2019

ĐÒN HỦY DIỆT NỀN TẢNG LỊCH SỬ VĂN HÓA VIỆT NAM CỦA BỌN CỐ ĐẠO VÀ THỰC DÂN PHÁP

 
ĐÒN HỦY DIỆT NỀN TẢNG LỊCH SỬ VĂN HÓA VIỆT NAM
CỦA BỌN CỐ ĐẠO VÀ THỰC DÂN PHÁP

Kim Âu


Dẫn Nhập: Tháng ba có rất nhiều sự kiện, ngày mùng 8 tháng 3 là ngày của các bà đồng thời cũng là ngày quân đội Mỹ đổ bộ lên bờ biển Đà Nẵng trước đây 53 năm. Thời kỳ đấy một chính thể đại  diện cho miền Nam đã đánh mất quốc thể khi để cho quân lính ngoại bang tự động tiến chiếm lãnh thổ quốc gia. Sau đó cuộc chiến tranh mở rộng quy mô, vũ  khí thặng dư, vũ khí phế thải, vũ khí hóa học đang thí nghiệm, súng nhỏ, pháo lớn, xe tank, tầu bò, tầu biển, tàu bay nằm trong các bãi rác ở Hoa Kỳ đều được chuyển qua xử lý ở chiến trường Việt Nam.
Sau khi chính phủ bù nhìn VNCH do Đại Việt Quốc Dân Đảng Phan Huy Quát [1]điều chỉnh hành động xâm lược của Thủy Quân Lục Chiến Mỹ bằng cách “miễn cưỡng phát hành tờ giấy hợp thức hóa tình trạng ô nhục đã rồi” do đó mất hết uy tín với quốc dân nên giao lại cho đám thảo khấu núp bóng quân đội cái gọi là “quyền lãnh đạo đất nước” mà Nguyễn Khánh đã nói một cách nôm na như sau:"Quân đội là cha quốc gia!”  để chính thức biến quân đội VNCH thành lính đánh thuê cho Hoa Kỳ dù các cơ quan tâm lý chiến cố gắng tô vẽ lớp vỏ mỹ miều với những tín niệm Made in USA “Nation – Honor – Duty”  dịch thành Tổ Quốc – Danh Dự - Trách Nhiệm và “Bảo Quốc An Dân”. Đây là một điều đau xót cho những thế hệ thanh niên đầy nhiệt huyết từng đi vào cuộc chiến với lý tưởng nhân bản, dân bản; chiến đấu vì “thương dân nghèo đồng hoang có cháy” đem ” lòng súng nhân đạo cứu người lầm than” "thầm hẹn ngày về quê Bắc ơi"[2], chiến đấu để bảo vệ mảnh đất cuối cùng của những người Việt yêu tự do, đột nhiên thấy mình trở thành tay sai cầm súng chiến đấu cho lợi ích của các mẫu quốc ngoại lai.
Đó là sự tan vỡ của chính nghĩa, cho dù nhiều năm qua người ta đã ra sức biện minh cho việc quân đội Hoa Kỳ đổ vào Việt Nam là để “giúp đỡ cho nền cộng hòa non trẻ của miền Nam” nhưng chẳng người nào yêu tổ quốc và dân tộc Việt Nam ngu muội để không nhìn thấy quân đội Hoa Kỳ đến Việt Nam chỉ nhằm thực hiện kế hoạch toàn cầu biến nửa phần lãnh thổ Việt Nam trở thành tiền đồn ở Đông Nam Á hay như chính ông Diệm nói rằng kéo dài biên cương Mỹ tới Bến Hải để bảo vệ lợi ích của các quốc gia thực dân Âu Tây gọi là phe“Thế Giới Tự Do” đang ra sức ngăn chặn làn sóng giải phóng dân tộc, đòi độc lập của thế giới thứ ba không để những lực lượng lãnh đạo của các quốc gia thuộc địa trước đây ngả sang phe quốc tế cộng sản do Nga, Trung Cộng đứng đầu đồng thời tiêu thụ bằng hết sản lượng vũ khí, bom đạn từ những dây chuyền sản xuất của tư bản Hoa Kỳ chưa hoàn vốn, thu lãi đầy đủ. Và chỉ mười năm sau, vào ngày 10 tháng ba 1975 trở thành ngày khởi đầu sự diệt vong của Việt Nam Cộng Hòa khi lực lượng cộng sản rụt rè, dọ dẫm đánh chiếm Ban Mê Thuột....

 ֎ ֎ ֎


Lịch sử cho thấy người Mỹ mới thực sự đặt chân đến Việt Nam vào năm 1945 sau khi OSS tuyển mộ ông Hồ Chí Minh làm điệp viên chính thức -có mật danh Lucius- dẫn tới việc Archimede L Patti gửi các nhân viên tình báo nhảy dù xuống Kim Lũng, Tân Trào để bắt tay huấn luyện lực lượng vũ trang chống Nhật của Hồ Chí Minh. Toán Deer do đại úy Allison K.Thompson làm toán trưởng đã huấn luyện quân sự và chiến thuật du kích cho toàn thể ban lãnh đạo và một đội quân khỏang hai trăm người được Hồ Chí Minh đặt tên là đội quân Việt Mỹ.
Chính đội quân này dưới sự chỉ huy của Võ Nguyên Giáp cùng toán Deer đã hành quân từ Tân Trào về Hà Nội trở thành lực lượng yểm trợ mạnh nhất chiếm lĩnh khoảng trống quyền lực sau khi quân Nhật đầu hàng; Việt Minh khôn ngoan ra mặt giành được chính quyền vào ngày 19-8-1945 (Cách Mạng Mùa Thu), giải   thể chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim đồng thời chấm dứt chế độ quân chủ bù nhìn, phong kiến bán nước của giòng họ Nguyễn đã từng kêu gọi Cần Vương nhưng rồi trở mặt phản bội quốc dân , nghĩa sĩ đã hưởng ứng cuộc chiến đấu chống liên minh thực dân Pháp và Vatican xâm lược.
Lịch sử cũng cho thấy Hoa Kỳ -cũng là một đế quốc thực dân- đã không hể có ý thực hiện đường lối giải thực mà Roosevelt theo đuổi khi còn sinh tiền như văn tự được ghi lại trong hồi ức của Bộ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ Cordell Hull, công bố vào năm 1948, và nhấn mạnh vấn đề này hơn nữa. [Ông viết: Tổng thống ấp ủ những quan điểm mạnh mẽ về nền độc lập của Đông Dương thuộc Pháp. Ông lưu tâm đến sự hèn nhát của Pháp đã trở thành bàn đạp cho người Nhật tấn công: Philippin, Malaysia và vùng Đông Ấn của Hà Lan. Ông không thể quên được cách cư xử của Chính phủ Vichy khi trao cho Nhật Bản quyền đóng quân ở đó; mà không hỏi ý kiến chúng ta nhưng lại cố làm cho thế giới tưởng rằng chúng ta đã đồng ý. Về chế độ quản trị, Hull nói: “Thỉnh thoảng Tổng thống nói thẳng với tôi và những người khác, ý kiến của ông rằng Đông Dương thuộc Pháp sẽ phải đặt dưới một chế độ qủan trị quốc tế ngay sau khi chiến tranh kết thúc, và để cho xứ này được độc lập càng sớm càng hay”.]
Cordell Hull cũng dẫn ra bản bị vong lục tháng Giêng 1944 của Tổng thống Roosevelt, trong đó nói rằng ... Đông Dương sẽ không bị trao trở lại cho nước Pháp mà sẽ được cai quản bởi một chế độ quản trị quốc tế…”. 

Tuy tổng thống Roosevelt có những ý kiến mạnh mẽ như vậy, nhưng không có một tuyên bố chính thức nào về chính sách của Mỹ hay một sự thoả thuận nào của Đồng minh được chính phủ Mỹ hoặc Bộ Tổng tư lệnh Đồng minh công bố. 
Đó chính là nguyên nhân, sau khi Roosevelt chết sớm trước khi Nhật đầu hàng; những đế quốc thực dân Âu Tây như Anh,  Pháp, Hà Lan lại giúp nhau tái lập tình trạng thực dân ở các thuộc địa cũ (nguyên nhân sâu xa của đệ nhị thế chiến là sự tranh giành các thuộc địa) trong đó có Đông Dương.
Mặc dù đóng vai chính trong thắng lợi của các lực lượng Đồng Minh nhưng Truman mới nhậm chức tổng thống Hoa Kỳ nên không có chính sách rõ ràng để giải quyết tình trạng tại các thuộc địa đưa đến thái độ làm ngơ của Archimede Patti và phái bộ OSS trước những diễn biến ở Hà Nội và sau đó tổng thống thừa nhiệm Truman thẳng thừng bỏ qua những lá thư khẩn cầu sự  giúp đỡ của Hồ Chí Minh, đồng tình với âm mưu trở lại các thuộc địa ở Đông Á của Anh Pháp Hà Lan.

Định mệnh lịch sử của đã buộc dân tộc Việt Nam phải dùng máu để rửa mối nhục nhà Nguyễn bán nước cho Pháp, Nhật, dùng máu xương để khôi  phục lại giang sơn, quét sạch quân xâm lăng ra khỏi bờ cõi.....một định mệnh lịch sử chung của các dân tộc nhược tiểu trên toàn thế giới đứng lên giành lại quyền tự chủ hằng hữu từ thuở khai thiên lập địa, khi trái đất có loài người.

Thử hỏi có dân tộc nào trên thế giới ngu muội và hèn nhát đến độ không dám tận dụng thời cơ để vùng dậy giành lại độc lập và tự chủ mà cứ nhắm mắt chở bọn đế quốc sắp xếp, tiếp tục cam chịu làm tôi mọi, nô lệ cho ngoại bang trong khi thực tế cho thấy hai đế quốc xâm lược Nhật -  Pháp và đế quốc bản xứ là Đế Quốc Việt Nam đã nhẫn tâm bỏ hơn hai triệu dân chết đói trong năm 1945? 

Có lẽ chỉ có nhóm ngụy trí thức đang có luận điệu cho rằng việc cướp chính quyền là không có chính danh như thời gian gần đây có mấy “sử gia trẻ” ngô nghê cố sức chứng minh rằng cuộc Cách Mạng Tháng Tám chỉ là việc tranh cướp một cái không có thực. Lập luận của họ cho rằng phe Đồng Minh thắng trận nên quân Nhật phải tuân theo quy định của quân Đồng Minh. Đế Quốc Việt Nam chỉ là bình phong của Nhật để chứng minh rằng “không ai có thể cướp được cái mà người khác không có." 

Lập luận này thực quá ấu trĩ vì Đế Quốc Việt Nam chỉ là sự đổi tên của triều đình nhà Nguyễn do Pháp bảo hộ sau khi Nhật đảo chánh. Triều đình này tuy hèn yếu, ích kỷ, bị quân xâm lược làm suy yếu bằng cách tước quyền lực trở thành bù nhìn nhưng vẫn là chủ nhân chính thức của quốc gia; hệ thống quan lại triều Nguyễn vẫn phủ kín mọi miền đất nước, khắp các phủ, huyện, châu, thôn, ấp, làng, xã đều có bảo an binh, thân binh, lính lệ để giữ gìn trật tự, trấn áp những lực lượng yêu nước; bọn Pháp và Nhật chỉ là quân xâm lược.
Không ai công nhận bọn ăn cướp trở thành chủ nhân của đất nước Việt Nam; trong khi ngay bọn ăn cướp còn không dám tự nhận như vậy mà chúng phải ngụy tạo ra tình trạng bảo hộ, hợp tác, hỗ trợ, liên minh.Và cũng chẳng dân tộc nào đồng ý cho  rằng việc cướp lại chính quyền từ tay bọn bù nhìn phong kiến, tay sai và bọn cướp nước là hành động không chính danh, loại lập luận như vậy thật dưới tầm ấu trĩ cần phải xem đó là sự lảm nhảm của bọn "SỬ NÔ", bồi bút vô liêm sỉ, điên khùng hèn hạ chỉ quen "nằm chờ sung rụng".

Nhìn ra thế giới, cùng thời điểm, chúng ta thấy Indonesia cũng có ngày khởi nghĩa trùng với cuộc cách mạng tháng tám Việt  Nam, diễn biến trên vũ đài chính trị, quân  sự để khôi phục lại nền độc lập, tự chủ ở Indonesia không khác Việt Nam. Thực dân  Hà Lan cũng được quân Anh giúp trở lại và kháng chiến Indonesia cũng bùng nổ cho thấy tinh thần độc lập tự chủ, tự quyết là đặc tính chung của nhân loại chứ không chỉ riêng dân tộc Việt Nam. 

Sự thật đáng trách nhất là Hoa Kỳ đã hết sức tráo trở, xảo quyệt và trơ trẽn khi không thực hiện những chính sách giải thực của Roosevelt như đã dự tính đưa Đông Dương vào thành phần các lãnh thổ ủy trị hoặc công nhận nền độc lập của những chính  quyền được thành lập do các lực lượng bản xứ, qua viện trợ, giúp đỡ mọi mặt đưa họ vào quỹ đạo và mô thức độc lập trong dân chủ, tự do.

Nhìn lại toàn cảnh giai đoạn lịch sử 1945-1954 chúng ta cần thấy rõ Tài Phiệt Quyền Do Thái ở Hoa Kỳ quá sức nham hiểm, khi biết không đủ tiềm lực viện trợ cho chính phủ thối nát tham nhũng ở Nam Kinh của Tưởng Gới Thạch để đánh bại lực lượng Cộng Sản Trung Quốc do Mao Trạch Đông lãnh đạo đang trỗi dậy mạnh mẽ nên họ đã chọn việc hủy bỏ chương trình giải thực hậu thế chiến thứ hai như dự định của Roosevelt, trả lại  lãnh thổ Đông Dương cho Pháp để dùng xương máu lính Pháp làm nút chặn, tiền đồn bảo vệ quyền lợi của các đế quốc thực dân Âu Tây, qua chiến tranh xâm lược sẽ tạo ra một lực lượng quân sự bản xứ làm tay sai thay thế khi quân đội thực dân bị đánh bại vì thế cũng như Indonesia, Hàn Quốc, người Việt Nam lâm vào tình thế chỉ còn cách tiến hành kháng chiến là con đường duy nhất để đấu tranh cho dân tộc độc lập, dân quyền tự do và dân sinh hạnh phúc..

Cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất còn gọi là cuộc kháng chiến chống Pháp mang tính toàn dân, toàn quốc kéo dài 9 năm do chính phủ Liên Hiệp Kháng Chiến lãnh đạo chia ra làm hai  giai đoạn chính.
Giai đoạn thứ nhất của cuộc kháng chiến không hề được ngoại bang giúp đỡ chỉ tồn tại bằng nội lực của dân tộc nên lực lượng vũ trang phải lui vào rừng núi, chiến khu thực hiện kế sách “tiêu thổ kháng chiến, vườn không nhà trống” chờ thời cơ.
Giai đoạn này hai phe quốc cộng cùng chung chiến tuyến diệt giặc ngoại xâm trong tình trạng thiếu thốn đủ điều nên một số người theo kháng chiến thoái chí ngã lòng “dinh tê” về thành sống trong vùng Pháp kiểm soát. Thời cơ biến chuyển quyết định hướng đi của chính phủ Liên Hiệp Kháng Chiến đến từ kết quả cuộc chiến tranh Quốc Cộng giữa Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch ở Trung Hoa vào năm 1949.

Lực lượng cộng sản của Mao đánh bại quân đội Trung Hoa Quốc Dân Đảng chiếm toàn bộ lục địa, Tưởng Giới Thạch đại bại chạy tháo thân ra cố thủ ở hải đảo Đài Loan. Đương nhiên thành phần Cộng Sản trong chính phủ Liên Hiệp Kháng Chiến chiếm ưu thế tuyệt đối và thay đổi toàn bộ đường lối, chính sách và nhân sự để đáp ứng mọi yêu cầu của Cộng Sản Trung Quốc khi được nhận viện trợ cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp có sự tiếp sức của Mỹ. 

Đối diện với chính sách sắt máu, bất bao dung của những người cộng sản, các đảng phái cách mạng và những thành phần quốc gia theo kháng chiến không còn lối thoát, nếu muốn sống đều buộc phải tháo chạy khỏi các chiến khu, an toàn khu, muối mặt hồi cư trở về sống trong vùng tạm chiếm của Pháp.
Chiều ngày 25 tháng 12 năm 1949 lực lượng Kiến Quốc Quân của Vũ Hồng Khanh hàng mấy chục nghìn người có trang bị võ   khí từ Trung Quốc tháo chạy về Việt Nam khuất thân hợp tác với Pháp và chính phủ Quốc Gia Việt Nam của Quốc Trưởng Bảo Đại mới do Pháp dựng lên.Vào buổi tối, mồng 6 tháng Giêng năm 1950, một văn thư gửi cho Bộ Chỉ Huy quân đội Liên Hiệp Pháp ở Lạng Sơn xác nhận rằng Kiến Quốc Quân quyết định hạ súng về hàng lực lượng viễn chinh Pháp.
Định mệnh lịch sử. Thời, Thế, Cơ đã an bài cho đảng Cộng Sản Việt Nam mọi điều kiện để “chiếm độc quyền lãnh đạo cuộc  kháng chiến chính nghĩa dành lại độc lập của dân tộc” rồi đạt thắng lợi vào năm1954 và đẩy những người yêu nước không   theo lý tưởng cộng sản vào con đường đối địch, từ bỏ con đường kháng chiến cứu nước trở về đấu hàng, thỏa hiệp, hợp tác với  bọn thực dân xâm lược Pháp để tìm con đường sống.  

Ván cờ thâm hiểm siêu đẳng của Tài Phiệt Quyền Hoa Kỳ nhằm tiêu thụ cho hết công suất của các nhà máy sản xuất vũ khí trong hệ thống “Liên Hợp Khoa Học Kỹ Nghệ Quân Sự” ở Hoa Kỳ và Liên Xô (cũng do Tài Phiệt Quyền Do Thái tại Mỹ đầu  tư) đã chia cắt tất cả mọi quốc gia làm phân hóa mọi xã hội, phá hủy tình tự dân tộc ở tất cả các quốc gia gây ra những cuộc nội chiến tương tàn vô cùng khốc liệt.
Indonesia cũng xảy ra tương tranh Quốc Cộng, Đông Đức đối đầu Tây Đức, Nam Hàn chống Bắc Hàn, Đài Loan chống Trung Cộng.. tất cả các quốc gia thuộc địa Á Phi đều rơi vào tình trạng NỘI CHIẾN Ý THỨC HỆ. HUYNH ĐỆ TƯƠNG TÀN MỘT MẤT MỘT CÒN....MÁU CHẢY THÀNH SÔNG XƯƠNG CHẤT NHƯ NÚI VÌ GIẤC MƠ CHỦ NGHĨA.

Thời cơ tiếp nối thời cơ những người Cộng Sản Việt Nam đã khôn khéo, vận dụng được khát vọng độc lập, tự chủ của dân tộc Việt Nam, khiến người dân không quản hy sinh xương máu, kiên quyết thà chết không chịu làm nô lệ, đi hết con đường đã chọn, thống nhất đất nước hai mươi mốt năm sau. Tại sao những người Cộng Sản Việt Nam giành được ưu  thế tuyệt đối trong khi cuộc Cách Mạng Mùa Thu bùng nổ họ chỉ có hơn 2.000 đảng viên trên toàn cõi Việt Nam?.

Chúng tôi mời quý độc giả đọc đoạn văn trích từ cuốn “Lịch Sử Đấu Tranh Cận Đại 1927-1954-Việt Nam Quốc Dân Đảng”của nhà cách mạng Hoàng Văn Đào để thấy rõ sự lơ mơ, ấu trĩ, chậm lụt đến ngớ ngẩn, đần độn của mấy vị tiền bối của các đảng phái quốc gia, những người hoàn toàn bất lực, bất trí vì hèn nhát, ngu dốt không biết thê nào là "đấu tranh cách mạng".

TRÍCH
(“Lịch Sử Đấu Tranh Cận Đại 1927-1954-Việt Nam Quốc Dân Đảng” của nhà cách mạng Hoàng Văn Đào)

TÌNH HÌNH CÁC ĐẢNG PHÁI QUỐC GIA TRƯỚC HIỆN TÌNH ĐẤT NƯỚC
Được tin Nhật Bản sửa soạn đầu hàng Đồng Minh. Ngày 11 tháng 8 năm 1945, một nhân vật người Anh có tên tuổi ở Việt Nam đưa đại diện của Tướng De Gaulle đến gặp vị Tổng Tư Lệnh quân đội Nhật Bản, thương thuyết để cho một số quân đội Pháp đào tẩu hồi tháng 3 trước được đổ bộ lên Hải Phòng. ‘’Mặt Trận Đại Việt Quốc Gia Liên Minh’’ được biết rõ tin này, liền huy   động tổ chức một cuộc biểu tình khá đông đảo phản kháng âm mưu xâm lược của đế quốc thực dân vào ngay buổi chiều ngày  hôm ấy, khiến vị Tổng Tư Lệnh quân đội Nhật Bản không dám để cho Pháp quân đổ bộ lên miền Bắc Việt Nam. Và ngay buổi chiều tối hôm đó Ban Chấp Hành Mặt Trận Đại Việt Quốc Gia Liên Minh triệu tập một buổi họp để quyết định vấn đề đoạt chính quyền Bắc Việt [3].
Trong cuộc thảo luận, hội nghị chia làm hai phái, ý kiến mâu thuẫn nhau. Một phái gồm có Chu Bá Phượng, Trương Tử Anh và đại diện của Nguyễn Tường Long (ông Long bị bệnh thương hàn phải điều trị tại bệnh viện) chủ trương rằng:
‘’Muốn được Đồng Minh công nhận chính phủ của chúng ta sau này, thì chúng ta không được phép hợp tác với Nhật Bản bất cứ dưới hình thức nào. Nếu hợp tác với họ, đó là đã chống lại Đồng Minh và đi ngược lại với trào lưu quốc tế, chúng ta tất sẽ bị tiêu diệt. Còn nếu Việt Minh cộng sản có cướp chính quyền chăng nữa, cũng chẳng quan ngại gì! Vì lực lượng của phe cách mạng dân tộc chúng ta có thể nói là mạnh gấp bội phe Việt Minh cộng sản kể tất cả mọi phương diện, chúng ta có đủ sức tiêu diệt họ. Vậy tốt hơn hết là chúng ta hãy nên chờ cách mạng quân ở Hải Ngoại cùng quân đội Đồng Minh sắp nhập cảnh nay mai bằng ba ngã đường Lao Kai, Lạng Sơn và Móng Cái, rồi sẽ liên hiệp lập chính phủ có Đồng Minh đứng sau ủng hộ, đại cuộc của chúng ta tất sẽ thắng.’’
Một phái chủ trương nên dựa vào thế lực quân đội Nhật Bản cướp chính quyền ngay. Sau khi đã có quyền, đợi các đồng chí cách mạng từ Hải Ngoại về tới, sẽ cùng nhau lập chính phủ. Đại biểu cho phái này là Nguyễn Xuân Tiếu tức Nguyễn Lý Cao Kha. Hội nghị đương họp chưa quyết định bề nào, thì đột nhiên Trần Văn Chương cùng Đặng Đức Hinh đại diện nhóm ‘’Phụng Sự Quốc Gia’’ hướng dẫn đại biểu ‘’mặt trận Việt Minh’’ tới, đề nghị không nên đảo chính vội cũng viện lý do khi quân đội Đồng Minh tới sẽ cho là chính phủ thân Nhật Bản, không có lợi. Nếu ‘’Mặt Trận Đại Việt Quốc Gia Liên Minh’’ không đồng ý mà cứ đoạt chính quyền trước, thì ‘’mặt trận Việt Minh’’ cũng sẽ đoạt ngay hết chính quyền ở các tỉnh, đồng thời cho phá vỡ ngay đê sông Hồng cho nước tràn đầy Hà Nội, cô lập hóa Thủ Đô theo kế hoạch đã được bố trí sẵn sàng. Hội nghị đâm hoang mang rồi giải tán.
Trong khi đó, có một lãnh tụ phe quốc gia lại quá tin tưởng vào Khâm Sai Phan Kế Toại đã hứa chắc chắn là sẽ trao chính quyền Bắc Việt lại cho phe quốc gia trước ngày quân đội Đồng Minh tới Bắc Việt Nam. Đến giờ phút chót bổ đi tìm Phan Khâm Sai, nhưng Phan Khâm Sai đã chạy theo Việt Minh cộng sản từ mấy ngày hôm trước rồi, còn đâu nữa mà tìm!
Để chấm dứt sứ mạng các đồng chí đã tự hy sinh đứng ra thân Nhật Bản trong ‘’Mặt Trận Đại Việt Quốc Gia Liên Minh’’, Tổng Bộ bí mật Việt Nam Quốc Dân Đảng ra lệnh cho những đồng chí ấy phải tuyên bố rút lui khỏi Đảng Bộ, nên sáng ngày 14 tháng 8, trên mặt tờ báo Đông Pháp, người ta thấy tên Nguyễn Thế Nghiệp, Nguyễn Ngọc Sơn, Nhượng Tống tuyên bố rút lui khỏi Tổng Bộ Việt Nam Quốc Dân Đảng. Chiều ngày 18 tháng 8, tại Nhà Hát Lớn Hà Nội, cuộc mít tin của công chức biến thành cuộc mít tin biểu tình của mặt trận Việt Minh. Tình thế biến chuyển một cách bất ngờ! Nên ngay buổi hôm ấy ‘’Liên Minh Quốc Dân Đảng’’ có cuộc họp khẩn cấp:
- Về phía Việt Nam Quốc Dân Đảng có Chu Bá Phượng, Nguyễn Văn Viễn, Lê Khang (Lê Ninh)…
- Về phía Đại Việt Quốc Dân Đảng có Trương Tử Anh, Phạm Khải Hoàn, Đồng Chí Kim…
Vấn đề đoạt chính quyền ngay vào đêm hôm ấy được đề ra. Các đồng chí Đại Việt Quốc Dân Đảng cho rằng: ‘’Cuộc cách   mạng nào cũng chỉ đi tới mục đích là giành lại độc lập cho Tổ Quốc.’’ Thì dầu mặt trận Việt Minh hay đoàn thể nào cũng vậy! Việt Minh nắm được chính quyền, chúng ta sẽ tham gia hướng dẫn họ trên công cuộc phục vụ nhân dân, nếu họ trở mặt, lúc đó chúng ta sẽ lấy nhân dân làm hậu thuẫn mà hạ họ xuống. [2] Vả lại, lực lượng của họ có gì đáng  cho chúng ta lo ngại! Nếu nay chúng ta dùng võ lực để đối phó, trong lúc này ắt có cuộc lưu huyết! Cộng sản chưa thấy đâu mà đã thấy ngay dân chúng bị tàn sát. Sau đây lịch sử sẽ quy tội cho chúng ta là tham cầu địa vị, gây nên cảnh ‘’nồi  da sáo thịt’’, tội đó há riêng một cá nhân gánh chịu!
Lê Khang (Lê Ninh) cực lực phản kháng:
‘’Thì ra đến giờ phút này mà các anh chưa hiểu rõ ‘’Việt Minh cộng sản’’ là thế nào cả ? Huống hồ là dân chúng!Tôi xin   nói thẳng mong các anh đừng mất lòng! Những phần tử cộng sản họ rất sẵn sàng đi đôi với tất cả các thế lực, mặc dầu là thực dân Pháp hay quân phiệt Tầu, nghĩa là tiêu diệt được những người cách mạng dân tộc chúng ta. Nếu nay cộng sản nắm được chính quyền, họ sẽ đặt tình thế trước sự đã rồi! Chúng ta sẽ đi tới tự sát. Cộng sản sẽ áp dụng mọi thủ đoạn để tiêu diệt chúng ta ngay. Cộng sản sẽ tuyên truyền công bố ngay với dân chúng: Chúng ta là những tên phản động, phản  quốc, Việt gian! Chúng ta không nên đóng vai trò thụ động, không được phép chờ họ khủng bố rồi mình mới đánh lại, chúng ta nên tấn công họ trước, mới nắm được phần thắng về mình. Tôi khẩn khoản yêu cầu các anh hãy mau hãy mau  nắm lấy chính quyền, rồi tóm cổ hết những phần tử cộng sản nhốt lại, để trừ mối hậu họa cho dân tộc. Chúng ta nắm được chính quyền, chỉ thu số súng đạn của Bảo An Binh cũng có tới 5.000 khẩu, cùng với số súng đủ loại ở kho Ngọc Hà của  Pháp trước mà Nhật tước được có trên 20.000 khẩu, mà nay quân Nhật Bản sẵn sàng trao lại cho chúng ta. Với lực lượng  ấy chúng ta có thể lập ba sư đoàn cách mạng quân để đối phó với tình thế, tiến tới một chính quyền thống nhất toàn quốc.
Nếu các anh cương quyết không chịu nghe ý kiến tôi, thì một ngày rất gần đây khi cộng sản đã nắm vững tình hình, họ sẽ sách động quần chúng gây nên cuộc ‘’giai cấp đấu tranh’’ hủy diệt Tôn Giáo, tổ chức phong trào đấu tố, thì ngay vợ con các anh sẽ đấu tố các anh sẽ đấu tố các anh là phản động, là…các anh sẽ không còn đất đứng! Để họ tạo nên một giai cấp quan liêu thống trị mới, hưởng mọi đặc ân và sẽ loại trừ hết các đảng phái Quốc Gia, họ sẽ đưa quốc gia dân tộc chúng ta lệ thuộc vào hàng ngũ đệ tam quốc tế.’’
Ý kiến Lê Khang không được hội nghị chấp thuận, bởi Chu Bá Phượng, Nguyễn Văn Viễn…vì quá nhu nhược lừng chừng, thiếu quả quyết. Thấy cơ hội độc nhất đã lỡ! Vô phương cứu vãn! Lê Khang cùng một số đồng chí (Việt Nam Quốc Dân Đảng) lặng lẽ bỏ lên Vĩnh Yên tìm Đỗ Đinh Đạo thảo kế hoạch đoạt chính quyền Tỉnh Vĩnh Yên làm địa bàn hoạt động.
Các võ trang đảng viên Quốc Dân Đảng được huy động từ chiến khu triệu về tập trung tại Trường Tiểu Học Hàng Kèn, Hà Nội  để đợi lệnh đoạt chính quyền cũng thứ tự rút lui, và thầm bảo nhau: ‘’Mấy ông lãnh tụ nhà mình thật đúng là đồ đệ của Khổng Mạnh, quân tử Tầu, thật đáng kính trọng lắm thay!’’
Tóm lại chính phủ Trần Trọng Kim đã không thấu hiểu lực lượng Việt Minh cộng sản lại bị tuyên truyền Việt Minh cộng sản là đồng minh của Khối Đồng Minh, mà hàng ngũ mình là chính phủ thân Nhật, nên tự đặt mình vào thế bỏ cuộc rút lui. Người đại diện Triều Đình Huế nắm chính quyền Bắc Việt là Khâm Sai Phan Kế Toại cũng ngã lòng trước thời cuộc, ra mặt đầu hàng Việt Minh cộng sản. Người kế vị nắm chính quyền Bắc Việt trong vòng hơn một tuần lễ là Bác Sĩ Nguyễn Xuân Chữ, uy quyền chưa có, từ nhân viên đến Bảo An Binh bội phản Triều Đình, thân Việt Minh cộng sản. Bác Sĩ Chữ đứng trong hoàn cảnh cô lập. Hơn nữa, lại còn là mẫu người quá trung thực về lễ giáo Khổng Mạnh, đạo đức Phật Giáo, không phải là nhân vật thời chiến quốc.
Các người mệnh danh là lãnh tụ các đảng phái Quốc Gia lại quá tin tưởng vào các lãnh tụ quân đội Đồng Minh, những đồng chí Trung Hoa sẽ triệt để ủng hộ mình mà lật đổ chế độ Việt Minh cộng sản để thành lập một chính phủ Quốc Gia có Đồng Minh đứng bên hậu thuẫn, hợp tình và hợp lý hơn. Có biết đâu! Người Trung Hoa, nhất là một số Tướng lãnh chỉ biết trọng ‘’Vàng’’, nếu có kẻ khác trao đầy túi vàng, là họ bỏ rơi chúng ta ngay! Rồi lại quá tin ở Cách Mạng Quân từ Trung Hoa sẽ về kịp thời. Hơn nữa, lại còn đánh giá Việt Minh cộng sản đến tầm quá thấp kém. Các lãnh tụ các đảng phái Quốc Gia đã thiếu hẳn về phần thủ đoạn chính trị trong những trường hợp phải áp dụng linh động để đoạt lấy phần thắng lợi về mình.
Nếu từ Nội Các Trần Trọng Kim đến các lãnh tụ đảng phái Quốc Gia hiểu rõ tình hình mà hành động kịp thời thì dân tộc Việt Nam đâu đến nỗi phải chịu cái thảm họa nồi da sáo thịt, đất nước điêu tàn thảm khốc đến ngày nay!”

HẾT TRÍCH
(“Lịch Sử Đấu Tranh Cận Đại 1927-1954-Việt Nam Quốc Dân Đảng” của nhà cách mạng Hoàng Văn Đào)

Đọc trích đoạn thượng dẫn, chúng ta thấy rõ sự u mê, đần độn, ngớ ngẩn kèm theo hèn nhát của những thành phần Đại Việt Quốc Dân Đảng như Trương Tử Anh, Phạm Khải Hoàn, Đồng Chí Kim…không những đã bỏ lỡ thời cơ cho thế hệ của họ mà còn tạo điều kiện để Cộng Sản phát triển, bành trướng quy mô quay lại tiêu diệt toàn bộ các đảng phái quốc gia, tạo ra cuộc nội chiến ý thức hệ mà kết quả sau cùng như chúng ta đã thấy hiện nay….. (thời điểm đó họ còn quá trẻ, chỉ là đám  nhóc tỳ mới lớn: Lý Đông A 24t, Huỳnh Phú Sổ 24t, Trương Tử Anh 31t, Hà Thúc Ký 25t giàu nhiệt tình nhưng bản lĩnh thì quá non nớt, ngu dốt vả hèn nhát)
Tuy nhiên nếu các đảng phái có cướp được chính quyền thì với âm mưu nham hiểm của Tài Phiệt  Quyền Mỹ-Do Thái cuộc chiến tranh “nồi da sáo thịt“ vẫn xảy ra vì vũ khí vẫn đang tuôn ra từ các nhà máy tạo ra số thặng dư quá lớn trong khi các nhà máy chỉ mới đi vào sản xuất được có vài năm, vũ khí, đạn dược tiêu thụ chưa đủ hoàn vốn, cần phải có vài cuộc chiến nối tiếp để các tập đoàn tư bản tài phiệt Hoa Kỳ gốc Do Thái thu lãi.
Vì vấn đề hoàn vốn, thu lãi, Hoa Kỳ lên kế hoạch đưa Ngô Đình Diệm từ trong xó tối của giáo đường New York ra ánh sáng,dàn xếp để Bảo Đại mời về làm thủ tướng rồi sau đó được Edward Lansdale cố vấn, trở thành phản thần, truất  phế Bảo  Đại, theo lệnh Mỹ dựng lên chế độ đệ nhất Việt Nam Cộng Hòa để đóng vai trò lính gác, bảo vệ lô cốt chặn con đường tràn xuống Đông Nam Á của Quốc Tế Cộng Sản lấy ý tưởng này làm lý do cốt lõi, nền tảng lý luận biện  minh cho chính nghĩa để tiến hành cuộc nội chiến ý thức hệ Quốc Cộng. Thực chất cả hai chế độ Việt Nam Dân Chủ  Cộng Hòa và Việt Nam Cộng Hòa đều trở thành tay sai của các thế lực quốc tế.

Sau một trăm năm từ khi chiến hạm Pháp khai pháo tấn công Thuận Hóa. Hàm Nghi  xuất bôn thảo hịch Cần Vương, sĩ phu nghe theo đứng dậy kêu gọi quốc dân tập hợp lực lượng chống giặc như Văn Thân, Đề Thám nhưng thất bại tiếp đến các phong trào Đông Du, Duy Tân đều nuôi tư tưởng xuất ngoại đông du, tây du để cứu quốc tạo ra một lớp sĩ phu nặng óc nô lệ vọng ngoại chỉ nhăm nhăm bê nguyên cặn bã của ngọai bang về làm kinh điển quang phục đất nước nhưng rốt cuộc dẫn tới hậu quả tàn hại cả dân tộc. Phan Bội Châu nhân vật tiên phong chủ xướng phong trào Đông Du bị an trí được gọi là Ông Già Bến Ngự đến cuối đời nhận thấy sai lầm nên trước khi chết phải thốt lên:”Vọng ngoại tắc tử”. Nhưng chẳng ai quan tâm  đến lời nói sau cùng đấy vì một thời những tác phẩm văn chương ái quốc đầy nhiệt huyết tạo nên danh phận, uy tín của ông khiến cả một lớp sĩ phu đàn em ngưỡng vọng và noi theo, đến khi ông nhận ra sai lầm thì đã quá muộn. Phan Chu Trinh thì ươn hèn nên sai lầm với câu nói "bạo động tắc tử" và khấu hiệu lộn ngược "khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh" vì người ta không thể có chí khí, hay học hành với cái bụng lép, chưa đủ ăn năm nào cũng chết đói lấy đâu ra chí khí và đòi mở mang trí thức vì thế nền tảng của các cuộc cách mạng đều phải đặt vấn đề dân sinh, miếng ăn cái mặc lên hàng đầu. 

Tư tưởng vọng ngoại là tinh thần ỷ lại, dựa dẫm, trông chờ, tôn thờ, sùng bái ngoại bang. Bất cứ cái gì của ngoại bang cũng tốt đẹp, văn minh, văn hóa, khoa học, triết lý ngoại lai lúc nào cũng thâm sâu, chủ nghĩa ngoại lai luôn luôn là ngọn hải đăng, tôn giáo ngoại lai lúc nào cũng thánh thiện trong khi thực tế lịch sử cho thấy bầy đàn tôn giáo phản quốc cực đoan "thà mất  nước hơn mất chúa" là tay sai đắc lực, dẫn đường cho bọn xâm lược cướp nước, thực dân Pháp, Nhật. Khi Hoa Kỳ thay chân Pháp tiến hành cuộc chiến Việt Nam, thái độ sùng bái, dựa dẫm và lệ thuộc vào sức mạnh của Hoa Kỳ đã đánh mất tinh thần tự chủ, tự quyết dân tộc khiến chế độ Việt Nam Cộng Hòa tiến tới hoàn toàn diệt vong. 

Thoát thai từ bầy đàn đào tẩu theo Mỹ, vào Mỹ trong tình trạng 64 % người dân Mỹ không đồng tình, khinh bỉ. Tập thể tỵ nạn hải ngoại lưu vong tiếp tục đắm chìm trong vũng lấy của tâm thức nô lệ, tư tưởng vọng ngoại chưa nhìn ra sự thực dù sau gần   nửa thế kỷ hầu hết đã trở thành công dân bản địa, chưa xóa bỏ được mặc cảm tự ti, chưa gột rửa được tâm thức nô lệ vọng ngoại. Thành phần này vẫn sùng bái  xem  người ngoại chủng có tư cách cao vời hơn hẳn người đồng hương, đồng chủng của mình dẫu thực tế những người ngoại chủng chỉ là hạng người bình dân trong xã hội bản địa.
Cái tinh thần, ý thức nô lệ thâm căn, cố đế thể hiện qua thái độ cúc cung, khúm núm trước thành phần dân cử và công bộc xã hội Hoa Kỳ. Đứng đầu cho tư tưởng tôi đòi, nô lệ này là một nhóm ở quanh vùng thủ Washington D.C lúc nào cũng sẵn sàng  viết thơ cầu khẩn, van nài, xin xỏ; tự thân làm nhục mình chưa đủ đám này còn rủ rê, lôi kéo thành bầy đàn như súc vật vào quốc hội xin xỏ “những giá trị trừu tượng ngay bản thân Cộng Hòa Liên Bang Mỹ cũng chưa hề có như Nhân quyền, Dân chủ, Tự do”, rồi sau đó tập họp, diễn tuồng, loạn ngôn với “ảo tưởng thắng lợi tinh thần” chẳng khác gì nhân vật AQ trong tác phẩm “AQ Chính Truyện” của nhà văn Lỗ Tấn.
Cái tinh thần nô lê vọng ngoại đó thể hiện qua những bài viết, lời lẽ xưng tụng việc chiếc USS Carl Vinson ghé cảng Đà Nẵng trong ngày 5-3 năm nay như một sự kiện quan trọng sẽ làm thay đổi tình hình ở Việt Nam và Biển Đông, xem đó là thái độ Hoa Kỳ sẵn sàng hành động nếu Trung Quốc xâm phạm Việt Nam trong khi đó chỉ là quan hệ bình thường giữa hai quốc gia có tình trạng bang giao tốt đẹp tới cấp độ  “hợp tác toàn diện” “đối tác chiến lược” và Việt Nam không hề đặt vận mệnh của đất nước vào trong tay bất cứ thế lực nào....Chắc quý vị còn nhớ ngày 30 - 4- 1975 Trịnh Công Sơnvì lên đài phát thanh hát bài Nối Vòng Tay Lớn với VC nên đã bị người tỵ nạn phỉ nhổ mấy chục năm qua. Ngày nay ban nhạc của USS Carl Vinson hát bản Nối Vòng Tay Lớn để lấy lòng VC thì bọn làm truyền thông vô liêm sỉ ở hải ngoại nịnh nọt, ca tụng .. 

Những người Cộng Sản Việt Nam hiểu Hoa Kỳ quá rõ từ khi Truman làm ngơ trước những lá thơ của Hồ Chí Minh. Họ hiểu rõ vì khi Hoa Kỳ còn là đồng minh chí cốt của Việt Nam Cộng Hòa nhưng vẫn đâm sau lưng đồng minh tại Hội Nghị Paris bằng cách đi đêm, họp mật với họ (Việt Cộng) để rồi đến khi ký kết, bản hiệp định đình chiến trở thành bản án tử hình tại chỗ của Việt Nam Cộng Hòa.

Việc Mỹ gài cho Trung Quốc tiến chiềm Hoàng Sa, và cuối cùng sự diệt vong của Việt Nam Cộng Hòa đã làm cho dân tộc Việt Nam và cả thế giới sáng mắt nhận rõ bản chất xảo trá của Hoa Kỳ. Trước đây mấy chục năm, chúng tôi đã có bài viết tự hỏi liệu chính quyền nào của dân tộc Việt Nam trong tương lai lại sẵn sàng làm tay sai, làm lính đánh thuê cho Hoa Kỳ khi lịch sử đã cho thấy sự thực dụng tàn nhẫn của Hoa Kỳ đối với các đồng minh giai đoạn.

Quốc dân Việt Nam ngày nay đã trải qua chặng đường xương máu đòi lại quyền độc lập, tự chủ đã thừa tri thức để không chọn con đường đầy họa hại phụ thuộc, lệ thuộc vào Hoa Kỳ, Vatican hay Trung Quốc như mơ ước của những thành phần phi dân tộc.
Vì đã làm tay sai nô lệ, tôi mọi cho ngoại bang thì dù đó là Hoa Kỳ hay Trung Cộng vẫn là nỗi nhục và nuôi dưỡng mầm mống đại họa của dân tộc nào có gì hãnh diện để so sánh, phân biệt, ca tụng chủ Mỹ tốt hơn chủ Tàu như đám tàn dư Việt Nam Cộng Hòa - Nguyễn Văn Thiệu ôm đít, bám gót thái thú Graham Martin chạy sang Hoa Kỳ khi Việt Cộng tiến chiếm Sài Gòn. Tuy phương tiện vận chuyển là phi cơ, tàu biển hiện đại hơn xe ngựa, xe trâu nhưng xem ra không khác gì Lê Chiêu Thống và đám tòng vong chạy theo Tôn Sĩ Nghị và quân Thanh khi đại quân Tây Sơn do Quang Trung Nguyễn Huệ thống lĩnh tiến vào Thăng Long.

Đảng Cộng Sản Việt Nam hiện nay đang nắm quyền cai trị đất nước nhưng họ chỉ có 4 triệu đảng viên khoác lớp áo giấy vàng mã và họ ý thức được sức mạnh vạn năng của quốc dân. Vì nhờ có sự hy sinh của quốc dân, người cộng sản  mới đạt được thắng  lợi, cưỡng chiếm được miền Nam. Sau 30 - 4 năm 1975 đến nay tình hình nội trị của Việt Nam dưới chính quyền Cộng Sản không có biến cố nào đáng kể dù đã xảy ra hai cuộc chiến tranh với Cam pu chia ở phía Nam và kẻ thù cố cựu ở biên giới phía Bắc -Trung Cộng trong tình trạng bị cô lập cấm vận từ Hoa Kỳ. Ngoài những tổn thất nhân mạng, thiệt hại vật chất trong chiến tranh, lãnh thổ Việt Nam vẫn xem như toàn vẹn, ngoại trừ những phần lãnh hải xa xôi ở Gạc Ma, Hoàng Sa nằm trong tay giặc nhưng vẫn được quốc dân nhắc nhở việc khôi phục khi đủ tiềm lực. 

Quốc dân ngày nay không mù quáng để không thấy rằng chủ nghĩa cộng sản chỉ tạo ra những đổi thay nhất thời do đặt mầm móng bạo động,  khởi loạn từ giai cấp vô sản là thành phần chiếm đa số người nghèo khó, bần cùng và bị đàn áp, xem thường nhất trong mọi xã hội. Ngoài ra giai cấp vô sản còn bao gồm tầng lớp thanh niên, sinh viên trí thức mới lớn còn trắng tay, chưa sở hữu tài sản, chưa đủ kinh nghiệm, bản lĩnh  sống đang trong tình trạng bế tắc, quay cuồng tìm đường xây dựng sự nghiệp. Tinh thần đấu tranh cách mạng triệt để của giai cấp khố rách áo ôm xuất phát từ lòng hận thù giai cấp sâu sắc nên trở thành sức mạnh vô địch. Nhất thời, giai cấp vô sản có thể thành công trong việc tạo ra tình trạng vô chính phủ rồi soán đoạt quyền điều hành quản trị xã hội nhưng việc đưa xã hội tiến lên nằm ngoài khả năng của giai cấp vô sản.    
Nhược điểm của giai cấp vô sản là khi đã trở thành giai cấp thống trị, những lãnh tụ đứng đầu guồng máy cai trị bị tha hóa bởi
 mê cung quyền lực, nảy sinh tác phát tham nhũng trở thành tư sản, tư bản cho thấy tính giai cấp không bền vững dẫn tới việc guồng máy cai trị rối loạn do sự phản bội tất yếu từ thành phần lãnh đạo của đảng cộng sản đối với giai cấp vô sản.
Mâu thuẫn nền tảng đó chính là lý do đưa tới việc những nhà nước cộng sản sụp đổ toàn diện ở Liên Xô và Đông Âu. (Kim Âu)

Tại Việt Nam vào thời điểm cuối thập niên 1980 hạ tầng xã hội còn man khai, chưa có chính sách tài chính, kinh tế sản xuất theo phương thức thủ công tập thể, chưa công nhận quyền tư hữu, công quỹ thiếu hụt Hoa Kỳ cấm vận, do đó chưa xảy ra tình trạng chuyển đổi giai cấp nhưng toàn dân chìm trong nghèo đói, đất nước kiệt quệ, dân tộc trên đà diệt vong nhờ đó thoát khỏi cơn địa chấn chính trị khi Chủ nghĩa cộng sản sụp đổ tận gốc ở Liên Xô làm đứt tung xiềng xích trói buộc các quốc gia Đông Âu, khiến Nguyễn Văn Linh hoảng sợ Cộng Sản Việt Nam sẽ sụp đổ theo hiệu ứng dây chuyền nên đánh mất tư cách lãnh đạo, hạ mình chấp nhận nhượng bộ không điều kiện khi đàm phán về Cam Pu Chia tại Hội Nghị Thành Đô với Trung Cộng vào ngày 3/4 tháng 9- 1990. (Cục Tình Báo Hoa Nam thổi phồng thành Mật Ước Thành Đô cho tay sai loan truyền trong đám người Việt phi dân tộc ở hải ngoại lâu nay).Thỏa thuận cho anh em cựu quân cán chính VNCH ra tù được đi tái định cư ở Mỹ cũng được ký kết trước đó vào ngày 30 tháng Bảy năm 1989.

Ngày 5 tháng 1 năm 1990, chuyến bay đầu tiên xuất khẩu cựu tù nhân chiến tranh VNCH sang Hoa Kỳ tái định cư. Toàn bộ   chương trình này đưa khoảng hơn hai trăm nghìn người thuộc VNCH và gia quyến rời khỏi Việt Nam mở đường cho quyết định hủy bỏ tỉnh trạng cấm vận, tái lập và bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ với CHXHCN Việt Nam.

Ngày 11 tháng 7 năm 1995 , Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton tuyên bố chính thức bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Ngoại giao Hoa Kỳ và Việt Nam đã trở nên gắn  bó và đa dạng hơn trong những năm đã bình thường hóa chính trị. Hai nước đã thường xuyên mở rộng trao đổi chính trị, đối thoại về nhân quyền (giả tạo) và an ninh khu vực, ký kết Hiệp định Thương mại song phương vào tháng 7 năm 2000, có hiệu lực từ tháng 12 năm 2001.
Tháng 11, 2007, Hoa Kỳ chấp thuận Quy chế Quan hệ Thương mại Bình thường Vĩnh viễn (PNTR) cho Việt Nam.

Việc giải quyết những hậu quả của cuộc chiến tranh Việt Nam qua việc đổi thù thành bạn giữa Hoa Kỳ và Việt Nam thêm một lần nữa cho thấy Việt Nam Cộng Hòa chỉ là một con tốt thí trên bàn cờ thế giới phục vụ cho  quyền lợi của Tài Phiệt Quyền Hoa Kỳ.
Thật ra trên bàn cờ tất cả các quân cờ đều có giá trị tương đương. Trong cuộc cờ kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại  giao; tự thân con cờ có thể tạo ra giá trị của chính mình bằng những cuộc vận động chuyển biến ý thức nội tại, con tốt có thể chiếu bí con tướng.
Tiếc thay ở thời kỳ hậu thế chiến thứ hai, con tốt Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản biết cách tự vận động, quyền mưu. Ngược lại con cờ Bảo Đại, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu hoàn toàn bại não, vô cảm, ỷ lại, phó thác vận mệnh cho ngoại bang quyết định; Pháp, Hoa Kỳ đặt đâu ngồi đó, cho sống thì được sống, cho chết đành chịu chết. Như Nguyễn văn Thiệu, Trần Thiện Khiêm không có chút liêm sỉ tự xử mà bỏ cả danh dự, mồ mả gia đình để đổi lấy kiếp sống thừa hèn mọn nơi xứ người.

Con đường tương lai của đất nước và dân tộc là "dĩ dân vi bản" chỉ có những kẻ chìm đắm trong "vũng lầy phi dân tộc" do các thế lực ngoại lai như Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Vatican, CIA, Cục Tình Báo Hoa Nam tạo ra mới không nhận thấy những chuyển biến tích cực trong xã hội Việt Nam. Quốc dân Việt Nam ngày nay đã tỉnh giấc vì thực tế:"Lịch sử đã chứng minh, không một đám ngoại nhân nào yêu thương đất nước và dân tộc của chúng ta nếu chính chúng ta không biết yêu thương lấy đất nước và dân tộc của mình.Dân tộc Việt Nam phải  tự quyết định vận mệnh của mình chứ không thể van nài, cầu xin được trở thành quân cờ phục vụ lợi ích của ngoại bang và các thế lực quốc tế."
Bài học vọng ngoại đau nhục của phong trào Đông Du,  Duy Tân tạo ra một lũ xôi thịt cò mồi, tôi tớ, tay sai cho ngoại bang đã đưa tới những hậu quả đáng hổ thẹn là sự xuất hiện của chế độ chuyên chính vô sản, độc tài toàn trị sắt máu của những người đi theo chủ nghĩa cộng sản dạy cho quốc dân cần phải bình tâm xét lại phương thức mới, con đường mới với những quyết định quan trọng cho tương lai của dân tộc.
Không có bất cứ chủ nghĩa hay tôn giáo ngoại lai nào xứng hợp với dân tộc Việt Nam. Bất cứ thế lực nào dù theo chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa tư bản hay những thế lực tôn giáo ngoại lai, phi dân tộc như Thiên Chúa Gíao đã biến những người sinh ra trên đất nước Việt Nam, trưởng thảnh trong lòng dân tộc Việt Nam nhưng lại trung thành với một thế lực ngoại giáo xem thường quốc dân, muốn thống trị quốc dân, nhân danh và lợi  dụng tự do tôn giáo để phản bội tổ quốc và dân tộc sẽ không có chỗ đứng trong lòng dân tộc Việt Nam.

Tư tưởng con người thay đổi thiên hình vạn trạng trong từng sát na. Người ta có thể nay thờ Phật, mai theo Chúa nhưng không  thể chối bỏ cha sinh, mẹ đẻ, huyết thống, giòng giõi dân tộc. Người ta có thể nay chọn chủ nghĩa này, mai chọn chủ nghĩa kia để làm lý tưởng phấn đấu nhưng chớ quên rằng mục tiêu phấn đấu là phục vụ bản thân, gia đình, dân tộc và tổ quốc. Đó là nguyên  nhân khiến bọn người nặng căn tính tôi đòi, nô lệ vọng ngoại, phi dân tộc, phi nhân đều bị xem là phần tử ngu xuẩn đang hủy hoại dân tộc và tổ quốc.

Quốc dân cần phải tỉnh táo để nhận thấy rằng nguyên nhân đau khổ của dân tộc Việt Nam khởi phát từ hai lũ giặc Tây phương đó là chủ nghĩa Thực dân Pháp và Thiên Chúa Giáo La mã. Hai lũ giặc này đã "phân chia lĩnh vực" và "phối hợp hành động" tạo ra hệ thống cai trị bằng "thế quyền thực dân Pháp" và "thần quyền Thiên Chúa Gíao La Mã" để đồng hóa, nô lệ hóa dân tộc Việt Nam cả về vật chất và tinh thần.

Các tu sĩ Dòng Phanxicô là những người đến Việt Nam đầu tiên vào năm 1578; các tu sĩ Dòng Tên đến vào năm 1615 nhưng họ mới là những người có công lớn với Vatican trong việc thiết lập vững chắc những cộng đoàn Công giáo Việt Nam tại cả Đàng Ngoài và Đàng Trong. Khi đó, đức tin Công giáo đã được truyền bá một cách bí mật, Giáo hội Công giáo tại Việt Nam đã chọn thánh Giuse làm bổn mạng do chiếc thuyền của các nhà truyền giáo cập bến tại Việt Nam đầu tiên đúng vào ngày lễ thánh Giuse.
Bọn truyền giáo  thừa sai, gián điệp của La Mã đã mai phục gần bốn thế kỷ  (1578-1859) dựa vào sự chiến thắng của thế quyền thực dân Pháp chiếm được Việt Nam đã ra mặt xui giục bọn thực dân Pháp ra lệnh bãi bỏ chữ Hán và Nôm thay bằng chữ quốc ngữ do chúng tạo ra từ hệ thống phiên âm ký hiệu Latin.

Tháng 2/1869  Phó đô đốc Marie Gustave Hector Ohier ký Nghị Định Bắt Buộc dùng chữ quốc ngữ thay thế chữ Nho  ở  Nam Kỳ.Tháng 6/4/1878 Thống đốc Nam Kỳ Lafont ký Nghị định 82. 1882 đưa chữ quốc ngữ vào văn bản hành chánh, quan chức, nhân viên không biết chữ quốc ngữ không được bổ nhậm thăng thưởng ngạch trật. Năm  1879  đưa chữ quốc ngữ vào giáo dục. Miễn thuế thân cho người biết chữ.
Năm 1915 vua Duy Tân ra chỉ dụ bãi bỏ các khoa thi (Hương - Hội - Đình) ở Bắc Kỳ. Năm 1918 vua Khải Định ra  chỉ  dụ bãi bỏ các khoa thi này ở Trung Kỳ và đến năm 1919 bãi bỏ hoàn toàn các trường dạy chữ Nho, thay thế bằng hệ thống trường Pháp - Việt. Ngày 18 tháng 9 năm 1924, toàn quyền Đông Dương Merlin ký quyết định đưa chữ Quốc Ngữ vào dạy ở ba năm đầu cấp tiểu học.

Trong một bài viết Nguyễn văn Lục ca ngợi "người Pháp không hề đốt sách vở"  cho thấy tầm nhận thức của anh ta có vấn đề một là quá ngu hoặc là không có trình độ nhận xét, lý luận. Thực dân Pháp cần gì đốt sách, chỉ qua mấy sắc lệnh như thượng dẫn đã trở thành một chiến dịch bài trừ có thể gọi là 'thảm  sát văn hóa Việt Nam". Chỉ trong khoảng hơn 50 năm cả một di sản văn hóa Hán Nôm của dân tộc Việt Nam xem như tự biến mất. Các thế hệ Việt Nam sau đó từ năm 1930 hầu như rất hiếm người đọc được chữ Hán và Nôm ngoại trừ những nhà chuyên môn. Sự việc này chính là một đòn thảm sát có thể gọi là 'diệt chủng" trong lĩnh vực văn hóa, ngôn ngữ, lịch  sử. 

Đó là nỗi nhục, là tội lỗi của Nguyễn triều đã "cõng rắn cắn gà nhà", "rước voi về dày mả tổ", làm mất nước rồi làm bù nhìn, tay  sai cho bọn giặc cướp nước giết hại những người ái quốc và dìm cả dân tộc vào vòng nô lệ. Điều nguy hại nhất mà chúng ta cần nhận thức rõ là hơn một thế kỷ vừa qua bao nhiêu thế hệ Việt Nam cùng bị nhồi nhét bằng một nền văn hóa lịch sử do đám sử nô, bồi bút của thực dân Pháp và triều Nguyễn viết ra. 
Chúng ta đã bị ngu hóa đến tận cùng về lịch sử dân tộc Việt Nam. Bọn bồi bút, sử nô viết sách, viết sử dạy chúng ta cám ơn công đức khai hóa của bọn  thực dân cướp nước, hiện nay những anh giáo sư trung học Nguyễn văn Lục, Trần Gia Phụng, Phạm Cao Dương v.v ở hải ngoại cũng muốn làm sử gia nhưng lại biến thành sử nô vì kiến thức lơ mơ, phiến diện đều ca ngợi thực dân Pháp và bọn cố đạo gián điệp không hề biết thẹn với dân tộc.
Những tên này đã đi lộn đầu xuống đất khi tôn vinh tên bán nước Phan Thanh Gỉan, bọn tay sai như  Pétrus Ký, Nguyễn Trường Tộ, Trần  Lục và những tên bù nhìn thuộc giòng dõi Nguyễn Phước. Những tên này có mắt như mù, có đầu nhưng không có não nên đã nhắm mắt ca ngợi "sử gia Trần Trọng Kim" qua cuốn "Việt Nam Sử Lược" viết bằng "tân quốc ngữ" để rồi ngày nay những nạn nhân bị nhồi sọ đọc lại mới nhận ra Trần Trọng Kim thật ra chỉ đáng gọi là "sử nô".
Nỗi đau này đối với những thế hệ Việt Nam từ 1920 và thành phần rơi rớt lại của thể chế Việt Nam Cộng Hòa ở hải   ngoại hiện nay chính là nỗi đau thiên cổ.
Viết những giòng này chúng tôi rùng mình! Tội ác của bọn  cố đạo, giặc Pháp, triều Nguyễn đối với dân tộc Việt Nam thật ghê gớm, sâu nặng. Hậu quả kinh hoàng của một trăm năm nô lệ giặc Tây đã chia cắt đất nước, phân hóa, chia rẽ dân tộc và biến đổi cả lịch sử, văn hóa, bản chất, dân tộc tính của giòng giống Việt Nam.





THỰC DÂN PHÁP BÔI XÓA DI SẢN VĂN HÓA DÂN TÔC VIỆT NAM QUA THAY ĐỔI CHỮ VIẾT


Sau  khi Việt Nam Cộng Hòa tiêu vong hơn ba  năm, chúng tôi được chuyển từ trại tử hình Cổng Trời, Quyết Tiến, Hà Giang về trại 5, Lam Sơn, Thanh Hóa rồi lên trại Thanh Phong vùng thượng nguồn sông Mã, sông Chu, Như Xuân, Thanh Hóa sau cùng chuyển từ nhà tù nhỏ sang nhà tù lớn; tôi thường tự hỏi: Tại sao Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ và tiêu vong nhanh vậy? Câu trả lời đã rõ dần lên khi tiếp cận với những sự thật, bằng chứng, nhân chứng nhưng vẫn hoàn toàn không thỏa đáng được nhu cầu của nhận thức lịch   sử..
Đến khi ra hải ngoại, tham khảo những tài liệu lịch sử phong phú, chúng tôi mới thực hiểu cả dân tộc ta, hay nói đúng hơn là tất cả các quốc gia nhược tiểu trên khắp thế giới đều là nạn nhân của bọn thực dân Âu Tây, đám cố đạo Vatican và các tập đoàn Tài Phiệt Quyền Do Thái đã chiếm thượng phong thi thố âm mưu kiểm soát thế giới và thống trị nhân loại hơn 100 năm qua.
Những thế lực này đã bịt mắt và nô dịch cả nước Mỹ, dùng tiên thuế của dân Mỹ làm  ngân sách, công dân Mỹ làm công cụ bạo lực đàn áp thế giới duy trì quyền kiểm soát thế giới dưới chiêu bài bảo vệ dân chủ và nhân  quyền giả dối.
Những thế lực này đã tạo ra Quốc Tế Cộng Sản, kích động chủ nghĩa phát xít Đức và quân phiệt Nhật tạo ra chiến tranh để làm  giàu và dùng tòa án chiến tranh Nuremberg để che đậy những tội ác tày trời của chủ nghĩa thực dân và Vatican đã gây ra suốt mấy trăm năm và còn kéo dài đến chừng nào nhân loại chưa hoàn toàn thức tỉnh.

Quốc dân Việt Nam ngày nay liệu có ngu muội để cho lịch sử đau thương tái diễn? Chắc chắn là không! Nhưng một bộ phận người Việt Nam lưu vong ở hải ngoại vẫn ngu muội và điên cuồng vì bị nhồi sọ đến mất cả lương tri khi tiếp tục nuôi giấc mơ bệnh hoạn cầu mong Hoa Kỳ sớm trở lại Việt Nam để lật đổ và tiêu diệt thể chế hiện hành bằng bom đạn.

Thậm chí có những tên sử nô còn ca tụng việc Hoa Kỳ giao toàn bộ Biển Đông cho Hoa Lục năm 1974, phản bội Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc chiến Đông Dương  là một kế sách hoàn hảo để chiến thắng cộng sản?!?!

Hỡi những kẻ vô minh, ngu muội vì bị ảnh hưởng bởi đòn tiêu diệt văn hóa dân tộc quá sức hiểm ác, độc địa của Thiên Chúa Giáo La Mã và thực dân Pháp cùng bọn tay sai, bồi bút, sử nô đã giáng lên đầu dân tộc Việt Nam, các người hãy thức tỉnh để tự giải phóng tư tưởng ra khỏi sự vô minh bằng cách học hỏi, nghiêm chỉnh nhìn nhận sự thật. Trừ một thiểu số người Việt quốc gia chân chính, đại bộ phận cộng đồng hải ngoại hiện nay đều mang tâm địa và hành động của Lê Chiêu Thống và đám tòng vong phản quốc chạy theo Tôn Sĩ Nghị.
Chính thể cộng sản ở Việt Nam hiện nay vốn là sản phẩm lịch sử do những tội ác của Thiên Chúa Giáo,Thực Dân Pháp và Tài Phiệt Quyền Do Thái - Hoa Kỳ tạo thành đã tự thoái hóa và sớm thay đổi theo nguyện vọng của quốc dân.
Không chỉ quốc dân Việt Nam mà bất cứ quốc dân của một quốc gia nào yêu độc lập tự chủ trên thế giới đương đại đều không chấp nhận chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa can thiệp dưới mọi hình thức đồng thời tiến tới xóa bỏ chủ nghĩa cộng sản.
Các dân tộc trên thế giới đều có đủ bản lĩnh để làm chủ đất đai, lãnh thổ, tài nguyên để từng bước tự tạo dựng xã hội phồn vinh hạnh phúc theo quy luật tiến hóa và đào thải phù hợp với tập quán và văn hóa dân tộc lâu đời của họ.


Kim Âu
Jan 27/2019




Chú Thích:
[1] Phan Huy Quát (1908 - 1979) tự Châu Cử, nguyên quán Hà Tĩnh, là thủ tướng Việt Nam Cộng hòa từ ngày 16 tháng 2 năm 1965 đến ngày 5 tháng 6 năm 1965. Phan Huy Quát đồng thời là thành viên Đại Việt Quốc dân Đảng và Tổng trưởng Quốc phòng Quốc gia Việt Nam. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông tổ chức vượt biên nhưng bị phát hiện, bị tuyên án tù và mất trong nhà lao Chí Hòa ngày 27 tháng 4 năm 1979 do bệnh viêm gan.
[2] điều này cho thấy đám SỬ NÔ hải ngoại như Trần Thanh Hiệp, Phạm Cao Dương, Trần Gia Phụng quá láo toét khi cho rằng chỉ có cộng sản chủ trương "cướp chính quyền" và "cướp chính quyền" không phải là Cách Mạng.

__._,_.___

Posted by: Kim Au <

No comments:

Post a Comment

Thanks

Featured post

Lisa Pham Vấn Đáp official 8/6/2023

Popular Posts

Popular Posts