Nguyễn Quốc Vương - "Tuổi
trẻ nên tự giác ngộ và tìm lấy đường mà đi"
- Chính
trị - xã hội
- Góc
nhìn trẻ
Tân Dân thực hiện
Theo Người Đô Thị
Câu chuyện được bắt đầu
từ những thảo luận trên Facebook về tình hình Biển Đông và thế nước trước hiểm
hoạ lệ thuộc. Nguyễn Quốc Vương, một nhà giáo trẻ, đã tiếp tục cuộc trao đổi đó
bằng email. Nước Nhật, được Vương dẫn giải không chỉ vì đó là nơi Vương đang
làm nghiên cứu sinh chuyên ngành giáo dục lịch sử - mà còn bằng cảm hứng mạnh
mẽ từ Thoát Á luận.
Nguyễn
Quốc Vương là người dịch Cải cách giáo dục Nhật Bản (Ozaki Mugen).
Đối mặt với một
đối thủ không cân sức như Trung Quốc, nhiều ý kiến đề cập đến yêu cầu phải làm
cho nước mạnh. Mạnh, thường được nghĩ ngay đến khả năng về kinh tế, quân sự...
của đất nước. Là một người dạy sử, theo ông, liệu có cách tiếp cận nào khác
không để nói về sức mạnh của một nước?
Đây có lẽ là cách hiểu
thông thường và phổ biến nhất. Cách tiếp cận đó cũng hợp lý nhưng có lẽ trong
thời đại toàn cầu hoá, khi thế giới dường như nhỏ lại và khoảng cách về không
gian không còn nhiều trở ngại, chúng ta nên tiếp cận rộng hơn, toàn diện và đa
chiều hơn.
Một nước mạnh có lẽ không chỉ nên nhìn ở bình diện kinh tế, quân sự.
Nước mạnh phải gắn với dân và những giá trị phổ quát của thế giới. Nước mạnh
nhưng dân không giàu, không được sống cuộc sống phong phú và hạnh phúc thì sao?
Nước mạnh nhưng cộng đồng quốc tế không tôn trọng và ủng hộ thì sao?
Câu hỏi này cũng làm tôi
liên tưởng đến nước Nhật. Nước Nhật từ thời Minh Trị cho đến khi bại trận năm
1945 là một nước rất mạnh về quân sự và kinh tế. Sau cải cách Minh Trị, với ưu
thế nước giàu, binh mạnh, Nhật Bản đã lao vào vô số các cuộc chiến tranh giành
thuộc địa đẫm máu: Nhật - Thanh (1894-1895), Nhật - Nga (1904-1905), rồi hai
cuộc đại chiến thế giới. Nhật Bản đã trượt khỏi đường ray "khai sáng” và
rơi vào con đường phát xít hoá.
Trong suốt thời gian ấy,
nước Nhật là "liệt cường” khiến phương Tây cũng phải e ngại, nhưng đổi lại
người dân Nhật đã phải trả giá đắt. Cái giá cay đắng đó đương thời không nhiều
người nhận ra. Nó chỉ được đông đảo người Nhật nhận ra khi nước Nhật được dân
chủ hoá sau 1945. Người Nhật khi đó mới bàng hoàng nhận ra một sự thật cay
đắng: "Tại sao trong suốt thời gian nước Nhật chiến tranh, tiếng nói phản
đối chiến tranh lại yếu ớt đến thế?”
Suy ngẫm từ lịch sử nước
Nhật, tôi cho rằng nước mạnh phải luôn gắn liền với dân chủ và dân sinh. Một
quốc gia mạnh thực sự phải là quốc gia bảo vệ được chủ quyền, đảm bảo cho người
dân có cuộc sống hạnh phúc và được quốc tế tôn trọng.
Có người nhận xét
Việt Nam là một dân tộc chưa "trưởng thành”? Nhìn vào "mặt bằng” thời
đại, ông thử nêu cách hiểu của mình về một dân tộc trưởng thành.
Xã hội chúng ta mong ước
không thể là xã hội mà sự tốt đẹp chỉ tồn tại dựa vào các anh hùng. Một xã hội
mà tất thảy mọi sự tốt đẹp đều phải dựa vào các anh hùng là xã hội sẽ rất mong
manh. Mỗi người công dân bằng khả năng của mình phải tạo ra sự thay đổi tốt đẹp
để tác động vào cộng đồng xung quanh bản thân mình.
Thẳng thắn mà nói thì
đây là vấn đề nhạy cảm. Nhạy cảm không phải là cấm kỵ mà được hiểu theo nghĩa nó
dễ làm dấy lên những tình cảm bị tổn thương. Phê phán một cá nhân đã khó,
"phản tỉnh” về những gì gắn với "dân tộc” là điều càng khó bội phần.
Rất có thể khi phản tỉnh, chúng ta sẽ vấp phải những phản ứng dữ dội của chính
những người cũng yêu nước, thiết tha với dân tộc như chúng ta nhưng lại khác
biệt trong cách nhìn và thiếu vắng tinh thần khoan dung.
Tôi không dám nhận xét
dân tộc mình là một dân tộc chưa trưởng thành nhưng là người có chút ít hiểu
biết về lịch sử Nhật Bản, tôi cảm thấy buồn và đau đớn khi thấy dường như trên
con đường lịch sử Việt Nam luôn lỡ bước.
Giữa thế kỷ 19, cả Nhật
Bản và Việt Nam đều đứng trước nguy cơ bị xâm lược bởi thực dân phương Tây.
Nhưng sự lựa chọn và số phận thật khác biệt. Pháp nổ súng đánh vào Đà Nẵng rồi
dần dần nuốt trọn Việt Nam, ép triều đình Huế ký hiệp ước đầu hàng, biến Việt
Nam thành thuộc địa. Còn Nhật Bản tuy phải mở cảng biển và ký các hiệp ước bất
bình đẳng nhưng không bị biến thành thuộc địa.
Sẽ có nhiều cách giải
thích khác nhau cho kết cục này. Nhưng tôi chú ý đến một điều, đó là thái độ
đối với văn minh phương Tây của giới cầm quyền, giới có học của Nhật Bản và
Việt Nam lúc đó.
Rất ít người Việt Nam kể
cả giới tinh hoa khi đó nhận ra sức mạnh và ưu thế của nền văn minh phương Tây
và bản thân có động cơ thôi thúc mãnh liệt tìm hiểu nó, học hỏi nó. Những suy
nghĩ của Nguyễn Trường Tộ khi ấy rất lạc lõng và cô đơn.
Trái lại ở Nhật Bản,
cho dù trong thời Edo có bế quan nhưng Nagasaki vẫn trở thành "con mắt”
của Nhật Bản nhìn ra thế giới. Ngay cả trước cải cách Minh Trị, những trí thức
của nước Nhật đã tiếp cận với các cuốn sách viết bằng chữ Hà Lan từ đó tiếp
nhận học thuật phương Tây.
Điều đáng chú ý là các
trí thức này không dùng những gì nghiên cứu được để làm công cụ tiến thân, tiếp
cận Mạc phủ mong lấy một chức quan để vinh hoa phú quý. Họ viết sách, dịch
sách, mở trường học, lập nhà xuất bản, công ty, khuyến khích thanh niên học tập
văn minh phương Tây.
Họ đã hướng tâm sức và trí tuệ vào quảng đại quốc dân thay
vì hướng vào trung tâm quyền lực. Hay nói cách khác, họ thông qua sức mạnh của
học thuật và sự tiến bộ của quốc dân được khai sáng để làm chuyển động bộ máy
quyền lực.
Trong cải cách Minh Trị,
nước Nhật có cả một tầng lớp trí thức đảm nhận vai trò "bắc cây cầu văn
minh Đông-Tây”. Quốc dân Nhật được khai sáng và nước Nhật cận đại hoá nhanh
chóng một phần lớn nhờ vào vai trò tiên phong của những trí thức này. Fukuzawa
Yukichi và nhóm Minh lục xã (Meirokusha) là một ví dụ tiêu biểu.
Chúng ta lại lỡ hẹn lần
hai vào năm 1945 khi Việt Nam trở thành quốc gia độc lập. Vào thời điểm đó,
nước Nhật đang ở vào tình thế gần như là đối ngược. Nước Nhật phát xít bị bại
trận, hai thành phố bị ném bom nguyên tử. Thiên hoàng vốn được coi như thần thánh
và bất khả xâm phạm phải tuyên bố đầu hàng quân Đồng minh vô điều kiện.
Nước Nhật bị quân Đồng
minh chiếm đóng. Khó khăn lớn của nước Nhật không chỉ là sự thiệt hại về vật
chất mà còn là sự hụt hẫng về tinh thần do sụp đổ lý tưởng. Nhưng rồi người Nhật
đã bắt nhịp rất nhanh với công cuộc cải cách dân chủ hoá thời hậu chiến khởi
đầu bằng Hiến pháp 1946 để rồi 10-15 năm sau, Nhật Bản có nền kinh tế phát
triển thần kỳ, khôi phục chủ quyền và đạt thành tích đáng nể ở mọi phương diện.
Việt Nam không bao lâu sau ngày độc lập đã phải đối mặt với những cuộc chiến tranh
dài dằng dặc…
Vậy theo ông,
điều gì đã làm cho Nhật không bị "lỡ bước”? Ông nghĩ, giáo dục ở đâu trong
sự vận động khai sáng đó?
Trong sự vận động và
chớp lấy thời cơ để chuyển mình của Nhật Bản, giáo dục đóng vai trò vô cùng
lớn. Nói cách khác cải cách giáo dục đã xuất phát từ nhu cầu thay đổi của dân
tộc. Như tôi đã trình bày ở bài viết Nhật Bản cải cách giáo dục như thế nào
trên báo VnExpress cách giáo dục ở Nhật Bản thời Minh Trị và hậu chiến đều xuất
phát từ nhu cầu thay đổi mô hình xã hội.
Cải cách giáo dục ở Nhật
Bản giống như một cuộc cách mạng trong hoà bình. Chính giáo dục đã tạo ra hệ
giá trị mới với những con người mới. Những con người có khả năng xây dựng và
bảo vệ xã hội mới. Đầu thời Minh Trị là các quốc dân có tinh thần độc lập, tự
cường và thực nghiệp. Thời hậu chiến là những công dân có tri thức, phẩm chất,
năng lực, thái độ phù hợp với xã hội "hoà bình, dân chủ và tôn trọng nhân
quyền”.
Gần đây giới trí
thức trong nước cũng thường đề cập đến thuyết "thoát Á” từ kinh nghiệm
lịch sử của Nhật Bản. Theo ông có gì khác biệt giữa bối cảnh thoát Á của Nhật
trước đây và Việt Nam hiện tại?
Những năm gần đây Thoát
Á luận của Fukuzawa Yukichi được nhiều người Việt Nam chú ý. Tuy nhiên, thế kỷ
21 rất khác với thế kỷ 19. Cải cách Minh Trị cũng giống như Thoát Á luận thường
được người Việt tiếp cận ở khía cạnh "tích cực” đơn thuần. Chẳng hạn như
Thiên hoàng Minh Trị được coi như một minh quân đã kịp thời cải cách giúp nước
Nhật ra khỏi vũng lầy lạc hậu để bước vào thế giới văn minh. Tuy nhiên sự thật
là khi Thiên hoàng Minh Trị lên ngôi ông mới có 16 tuổi. Trên thực tế, Minh Trị
là "điểm gặp gỡ” giữa phái chủ trương chuyển quyền lực về Thiên hoàng và
phái cải cách.
Cải cách Minh Trị thành
công là nhờ vào lực lượng võ sĩ bậc dưới, bậc trung với các nhân vật đầy tài
năng ở hai phiên Satsuma và Choshu cùng với vai trò của giới trí thức "bắc
cây cầu Đông-Tây”. Áp lực của dân chúng cũng là một chìa khoá quan trọng để đảo
Mạc thành công khi lòng dân không còn hướng về Mạc phủ. Khi đã củng cố quyền
lực bằng Hiến pháp Đại đế quốc Nhật Bản (1889), Minh Trị trở thành "bạo
chúa” thẳng tay loại bỏ các sách "khai sáng” khỏi trường học (bao gồm cả
sách của Fukuzawa Yukichi) và phục hồi Nho giáo, trấn áp những người đối lập.
Thoát Á luận cũng tương
tự. Luận điểm "thoát Á” để đứng vào "liệt cường” phương Tây về sau bị
chính người Nhật chỉ trích. Cái tinh thần chúng ta nên học từ Thoát Á luận
là quyết tâm vượt thoát ra khỏi những thứ giáo điều đã ràng buộc trong tư duy,
nỗi ám ảnh bởi quá khứ và nỗi "sợ hãi” văn minh phương Tây để hướng tới
những giá trị phổ quát của thế giới. Tuy nhiên, chúng ta
cũng cần phải duy trì tốt mối liên hệ hữu nghị với các nước trong khu vực
ASEAN, tạo dựng quan hệ bình đẳng và chủ động với Trung Quốc.
Thêm nữa, Thoát Á luận
nhấn mạnh nhiều đến quốc gia còn chúng ta, ở thời điểm thế kỷ 21, chúng
ta không bao giờ được quên những điều mà các trí thức đầu thế kỷ 20 đã nhắc nhở
là dân quyền và dân sinh. Giữa quốc dân và quốc gia có mối quan hệ tương tác
chặt chẽ. Muốn "thoát” được phải có lực kéo và lực đẩy. Lực đẩy sẽ là gì
đây ngoài sức mạnh của quốc dân được khai sáng?
Có vẻ ông hay đề
cập đến những giá trị từng được các nhà yêu nước như Phan Chu Trinh, Phan Bội
Châu từ đầu thế kỷ 20 cổ vũ. Các tiền bối ấy đã từng tha thiết với sự nghiệp
chấn dân khí. Theo ông, dân khí của bối cảnh Duy Tân, Đông Du có gì khác với
hiện nay? Trải nghiệm của chính ông về điều đó từ vị trí một nhà giáo, một
nghiên cứu sinh về giáo dục lịch sử?
Đọc các tác phẩm của
những trí thức Việt Nam đầu thế kỷ 20 như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh bằng
tâm thế của một công dân, chắc hẳn nhiều người cũng như tôi sẽ có sự đồng cảm
sâu sắc. Dân khí có mạnh, nước mới không yếu hèn. Tôi nhớ hai cụ Phan trong
những trang viết không ít lần day dứt trước tình cảnh nhiều người bàng quan
trước nỗi đau khổ của đồng bào và thờ ơ trước sự yếu hèn của đất nước.
Hơn lúc nào hết, trong
giai đoạn này tinh thần Duy Tân và Đông Du cần được tiếp tục để tái khai sáng
quốc dân và hoà nhập thế giới văn minh. Mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và
cộng đồng, dân tộc cần được nhận thức bằng cái nhìn sâu xa thay vì tư duy nhăm
nhăm tìm kiếm lợi lộc vật chất, chức vụ hay hư danh vị kỷ.
Với riêng tôi, đọc, viết
và dạy học là những công việc tôi yêu thích. Nghiên cứu giáo dục Nhật Bản và
sâu hơn là giáo dục lịch sử ở Nhật Bản là công việc nặng nhọc nhưng thú vị.
Trong quá trình nghiên cứu, tôi sẽ cố gắng chia sẻ với cộng đồng những gì tôi
thu nhận được. Tôi nghĩ chúng sẽ có ích cho Việt Nam hiện tại và tương lai.
Có cách gì để
thay đổi từ chính thế hệ của ông?
Tôi nghĩ muốn có những
điều tốt đẹp, bản thân mỗi người đều phải thật tâm cố gắng. Đất nước sẽ không
thay đổi nếu bản thân chúng ta không thay đổi và chủ động tạo ra thay đổi. Xã
hội chúng ta mong ước không thể là xã hội mà sự tốt đẹp chỉ tồn tại dựa vào các
anh hùng. Một xã hội mà tất thảy mọi sự tốt đẹp đều phải dựa vào các anh hùng
sẽ rất mong manh. Mỗi công dân bằng khả năng của mình phải tạo ra sự thay đổi
tốt đẹp để tác động vào cộng đồng xung quanh bản thân mình. Việc đó dễ mà khó.
Những người đi tiên
phong thường là những người dũng cảm và có trái tim nhiệt thành. Buồn thay, họ
lại thường là những người hay bị thiệt thòi và chịu nhiều hy sinh theo cả nghĩa
đen và nghĩa bóng. Nếu chúng ta chưa làm được gì nhiều và lớn lao như họ thì
trước hết hãy biết ơn họ và cố gắng cao nhất ở phạm vi mình có thể.
Thế hệ chúng tôi sinh ra
sau chiến tranh, có điều kiện tiếp cận với thế giới bên ngoài cùng nhiều nguồn
thông tin phong phú, nhưng cũng nếm trải cảm giác bơ vơ và mất mát. Trong khi
trải nghiệm cảm giác bơ vơ và mất mát ấy, tôi nghĩ tuổi trẻ nên tự giác ngộ và
tìm lấy đường mà đi. Tôi thích câu này của Lỗ Tấn: "Trên
thế giới làm gì có đường, người ta đi mãi thì thành đường thôi”.
Để có thể đi trên con đường đó, tư duy độc lập và tinh thần tự do là thứ người
trẻ tuổi nên có. Hãy chọn một nghề gì đó lương thiện và hữu ích để theo đuổi
không kể sang hèn. Nông dân, kỹ sư, người bán hàng, thợ cắt tóc… đều tốt cả.
Cái quan trọng là làm nó bằng tấm lòng thành thực và hướng tới mục tiêu lớn xây
dựng nước Việt Nam dân chủ, hoà bình và hạnh phúc.
Nguyễn Quốc Vương sinh
năm 1982 tại Tân Yên - Bắc Giang.
Tốt nghiệp khoa Lịch
sử - đại học Sư phạm Hà Nội năm 2004.
Giảng viên khoa Lịch
sử đại học Sư phạm Hà Nội từ 2006 đến nay.
Giáo viên thỉnh giảng
trường trung học cơ sở và trung học phổ thông Nguyễn Tất Thành (trường thực
hành trực thuộc đại học Sư phạm Hà Nội).
Hiện là nghiên cứu
sinh chuyên ngành giáo dục lịch sử tại đại học Kanazawa (Nhật Bản).
Tác phẩm đã xuất bản:
Cải cách giáo dục Nhật Bản (Ozaki Mugen, người dịch: Nguyễn Quốc Vương,
Thaihabooks và nhà xuất bản Lao Động - 2014).
Theo Tân Dân/Người
đô thị
Admin gửi hôm Thứ Hai,
16/06/2014
__._,_.___
No comments:
Post a Comment
Thanks